Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in

Tư liệu

22/04/2024

Cái gì đã xảy ra tại Sài Gòn trước biến cố 30/4/1975 ?

Nguyễn Tiến Hưng

Quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa suýt bắn nhau tan nát vào giờ chót

Nguyễn Tiến Hưng, BBC, 22/04/2024

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng viết về những bí ẩn do chính Đại sứ Graham Martin kể lại về khả năng quân đội Mỹ - Việt Nam Cộng Hòa suýt chạm súng và Sài Gòn đã tan nát khi Mỹ tìm đường tháo chạy.

vnch1

Đám đông tìm cách leo vào Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn trong thời khắc cuối cùng của Chiến tranh Việt Nam

Bốn hàng không mẫu hạm : Hancock, Coral Sea, Midway và Enterprise đã tập hợp lại thành một hạm đội ở ngoài khơi Việt Nam để sẵn sàng ứng chiến nếu quân đội Việt Nam Cộng Hòa quay súng bắn vào những địa điểm di tản của người Mỹ.

Nghe như câu chuyện tiểu thuyết, ấy thế mà nó đã thực sự xảy ra vào lúc người Mỹ rục rịch tháo chạy khỏi Việt Nam.

Nội trong hai tuần cuối tháng 4/1975, đang khi đi công tác tại Washington, chúng tôi đã choáng váng khi đọc những tin tức về khả năng này trên các tạp chí Time, Newsweek.

Với tựa đề Kế hoạch cho việc Di tản Cuối cùng (Planning for the Last Exodus), tờ Time (21/4/1975) tiết lộ : "Có một khả năng ác liệt khác là quân đội miền Nam Việt Nam sẽ quay súng bắn vào phi trường Tân Sơn Nhứt, vào phía Tân Cảng (cảng Newport), hay bắn vào chính cả cái bãi đáp trực thăng trên nóc tòa Đại sứ Mỹ nữa, nếu những người Mỹ rục rịch di tản… Một đơn vị 2.200 lính Thủy quân Lục chiến đã được huy động tới bốn mẫu hạm này và những tàu hộ tống khác. Nếu cần, quân đội Mỹ có thể được không vận vào Sài Gòn, bắn phá mở đường đến một địa điểm an toàn, rồi chở đoàn người di tản bằng trực thăng tới các chiến hạm ngoài khơi".

Hóa ra, vào lúc cuốn lều trước khi bão tố ập tới, Washington đã hoảng loạn. Không phải lo bị quân đội Bắc Việt tấn công mà là lo vì có thể sẽ phải chạm súng với chính quân đội Việt Nam Cộng Hòa !

Ôi chao, sao lại có thể ê chề đến như vậy ? Mà cũng chưa thấy cuốn phim nào về Chiến tranh Việt Nam - kể cả The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) của Ken Burns và Lynn Novick hay Last Days in Vietnam (Những ngày cuối ở Việt Nam) của Rory Kennedy nói tới biến cố này.

Kế hoạch Talon Vise

Mười năm sau sụp đổ, ông Graham Martin, đại sứ Mỹ cuối cùng ở Sài Gòn, đã kể lại với chúng tôi chi tiết về những gì ông đã chứng kiến và hành động vào lúc bi kịch Miền Nam sắp hạ màn : "Lúc đó đã có biết bao nhiêu kế hoạch điên rồ được mang ra. Tôi phải cố gắng ngăn chặn lại. Suýt nữa thì hoàn toàn đổ vỡ, chẳng ai đi được mà còn có thể gây ra thảm họa lớn !"

vnch2

Hành lang tháo chạy từ trung tâm Sài Gòn tới Vũng Tàu

Kế hoạch di tản có mật hiệu là Talon Vise được hai tạp chí Time và Newsweek dành nhiều trang để bình luận. Lựa chọn thứ nhất là di tản 6.000 người Mỹ và một số nhỏ người Việt bằng máy bay lớn cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất, yểm trợ bằng quân lực Mỹ.

Đúc kết các tin tức liên hệ trong hai tuần cuối tháng 4/1975 thì ta thấy kế hoạch tháo chạy gồm bảy động thái :

Tập hợp một số chiến hạm gồm 4 hàng không mẫu hạm cỡ lớn và một mẫu hạm chở trực thăng ở sát hải phận Việt Nam.

Huy động từ 3 tới 6 sư đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ để thiết lập "một hành lang di tản".

Trực thăng chở 6.000 người Mỹ (và một số người Việt có "rủi ro cao độ") từ trung tâm Sài Gòn ra Tân Sơn Nhứt.

Thủy quân lục chiến bay vào bao vây phi trường Tân Sơn Nhứt để bảo đảm an toàn.

Máy bay phản lực của Mỹ bao phủ vòm trời từ Sài Gòn ra Vũng Tàu.

Thủy quân lục chiến Mỹ bảo vệ Vũng Tàu.

Từ Vũng Tàu, máy bay chở người di tản tới phi cảng Clark ở Philippines.

Tờ Newsweek ngày 21/4/1975 còn trích dẫn tiết lộ của một một viên chức cấp cao ở Ngũ Giác Đài giải thích tại sao lại cần tới 6 sư đoàn : "Phải chiếm phi trường Tân Sơn Nhứt để máy bay và trực thăng đáp, chỉ việc này không thôi cũng đã cần 3 sư đoàn. Rồi cần giữ an ninh ngoài cảng cho tàu cập bến, nên lại cần thêm ba sư đoàn nữa".

Mỹ lo sợ phải bắn nhau với quân đội Việt Nam Cộng Hòa

vnch3

Người Mỹ lên một chiếc trực thăng bên trong Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn để di tản

Mùa Hè 1985, chúng tôi và Jerrold Schecter (nguyên chủ bút ngoại giao của tạp chí Time) lái xe xuống North Carolina để thăm hỏi và nghe ông Martin tâm sự về thảm họa đã có thể xảy ra ở Sài Gòn. Khả năng 6.000 người Mỹ có thể bị kẹt do tình trạng hỗn loạn làm tắc nghẽn giao thông là một tình huống đã làm cho ông lo nghĩ nhiều nhất. Ông đã mất ngủ từ khi trông thấy cảnh rút lui thê thảm khỏi Pleiku, rồi tới tình trạng rối loạn ở phi trường Đà Nẵng, Nha Trang : dân chúng tràn ngập đường phố để tìm lối thoát, rồi tới tình trạng rối ren ở phi trường. Máy bay không đáp xuống được nữa khi các phi đạo bị tắc nghẽn.

Sau sụp đổ, ngày 27/1/1976, trong một buổi điều trần tại Hạ Viện Mỹ về cuộc di tản, ông Martin đã nói tới nỗi lo lắng của ông về sự phản bội trắng trợn của Mỹ và hậu quả của nó là số người Mỹ còn lại và một số nhỏ người Việt được chọn không thể rời Sài Gòn. Trong trường hợp đó, quân lực Mỹ sẽ phải bay vào can thiệp, dẫn tới khả năng đụng độ giữa hai quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa. Đó là một tình huống ê chề nhất, mà lại vào giờ chót :

"Tôi cho rằng mang quân đội Mỹ vào là một sai lầm lớn, vì, thưa quý vị, nếu quý vị đứng vào hoàn cảnh của người Việt Nam thì quý vị sẽ phản ứng như thế nào ?"

Khi bị chất vấn là tại sao ông không yêu cầu Tổng thống Gerald Ford cho di tản trước ngày 29/4/1975 (ngày Tân Sơn Nhứt bị pháo kích), ông Martin trả lời :

"Không, vì theo đánh giá kỹ nhất của tôi, nếu làm sớm hơn sẽ có nguy cơ là xảy ra một tình trạng hỗn loạn với kết quả là một số rất đông người Mỹ sẽ chết. Nó sẽ đưa tới một sự khủng khiếp nặng nề nhất, đó là nhu cầu phải đưa quá nhiều quân lực Mỹ vào, và chúng ta sẽ phải chiến đấu với quân đội Miền Nam để mở đường tháo chạy".

Ngày nay ta mới hiểu hết được tâm tư của Đại sứ Martin. Ta thử tưởng tượng : Nếu Mỹ đem từ 3 tới 6 sư đoàn vào để chỉ di tản người Mỹ và bà con, trước hết là Thủy quân lục chiến chiếm đóng phi trường Tân Sơn Nhứt, rồi Tòa Đại sứ Mỹ ; sau đó, trực thăng và từng đoàn xe Mỹ chở người tới phi trường. Và cũng như vậy, di tản từ các địa điểm khác như Biên Hòa, Cần Thơ. Khi thấy sự phản bội quá lộ liễu như thế, liệu các đơn vị quân đội, cảnh sát, nghĩa quân, địa phương quân, dân chúng Việt Nam Cộng Hòa có để yên hay không ?

Trong cuốn phim Last days in Vietnam, ông Martin bị chỉ trích rất nặng nề là đã không cho phép nhân viên tòa đại sứ, CIA, v.v. tổ chức di tản người Mỹ sớm nhất có thể và cứ kéo dài thời gian di tản. Bây giờ thì ta mới hiểu được là tại sao như vậy. Nếu ông Martin cuốn gói ra đi theo lệnh ngày 17/4/1975 của Ngoại trưởng Henry Kissinger thì tình hình đã như thế nào ? Và bao nhiêu người Việt được di tản ?

Trong mật điện rất dài trả lời Kissinger ngay đêm hôm ấy (17/4/1975), ông Martin đã cố gắng thuyết phục :

"Lệnh di tản người Mỹ đột ngột có thể gây bạo động ở Sài Gòn. Nếu không giữ bình tĩnh mà lại đưa Thủy quân Lục chiến vào đây thì có thể gây ra sự nổi giận không thể lường được…".

Rồi ông nhấn mạnh thêm :

"Tôi nhắc lại một lần nữa là sẽ có náo động lớn nếu điều quân đội Mỹ vào Sài Gòn, ngoại trừ một số ít và không quá lộ liễu".

"Tất cả những tin tức lặt vặt nhận được về phản ứng (của phía Miền Nam) đều xác định đây là điều ta không nên làm…".

Ông Martin đã nhận được những tin tức như thế nào ?

vnch4

Đại sứ Mỹ Graham Martin trả lời báo chí trên tàu USS Blue Ridge ở Biển Đông sau khi rời khỏi Sài Gòn

Trong cùng một mật điện, ông báo động :

"Người Việt Nam sẽ cho rằng Hoa Kỳ mang Thủy quân lục chiến vào để di tản người Mỹ và mặc kệ số phận người Việt ở đây. Đó là một hành động phản bội trắng trợn của Hoa Kỳ. Họ sẽ tin rằng Mỹ chẳng còn cần để ý tới những gì sẽ xảy ra cho họ nữa. Và từ cái cảm nhận sâu đậm đó, nếu chỉ có một việc gì bất ngờ xảy ra, dù là nhỏ nhoi tới đâu, cũng có thể gây ra tình trạng vô cùng hỗn loạn. Cứ để như tình trạng hiện tại, chúng tôi sẽ gây được cảm tình với người Việt Nam vì họ cho rằng người Mỹ còn ở lại đây để cùng chịu chung số phận với họ…".

Rồi như không còn chế ngự được mình nữa, ông Martin đã đi tới chỗ gần như chửi thề cả các sếp :

"Thế nhưng, tất cả những điều này đều có thể thay đổi đột ngột nếu như có một tên điên rồ khốn kiếp nào đó lại thuyết phục được một trong các quý ông ở địa vị lãnh đạo cấp cao mang Thủy quân lục chiến vào trước khi tôi yêu cầu".

Để cho tăng phần quan trọng, ông thêm :

"Đây là công điện tôi tự đánh máy lấy, không có bản sao, ngoại trừ hồ sơ tại Washington".

Chưa xong, trước khi chấm dứt bức công điện, ông đã bỏ hết mọi ràng buộc về ngoại giao và còn dứt khoát với cấp trên :

"Có một điều tôi đoan chắc tuyệt đối là nếu đưa quân đội Hoa Kỳ ào ạt vào đây trong điều kiện hiện nay thì họ sẽ phải chiến đấu với quân đội Miền Nam để tìm đường tháo chạy".

"Nếu hành động một cách bình tĩnh thì ta có thể rút khỏi một cách êm đẹp - tôi xin nhắc lại - và ta sẽ không gây ra một lỗi lầm ghê gớm nữa trong trăm ngàn lỗi lầm người Mỹ đã mắc phải ở Việt Nam và về vấn đề Việt Nam".

Những ai đã cảnh cáo Mỹ

vnch5

Chờ di tản bên trong Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn

Sở dĩ phải trấn an như vậy một phần cũng bởi vì ông Martin đã nhận được nhiều lời cảnh cáo về thảm họa sẽ xảy ra nếu Mỹ bỏ rơi đồng minh một cách tàn nhẫn.

Những lời cảnh cáo đã được gửi đến cho Đại sứ Martin từ phía Việt Nam Cộng Hòa gồm Trung tướng Đặng Văn Quang, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, Trung tướng Nguyễn Cao Kỳ - như đã được đề cập trong cuốn Tâm tư Tổng thống Thiệu.

Về lời nhắn của ông Kỳ thì ngày 16/4/1975, ông Martin báo cáo rất rõ về Tòa Bạch Ốc :

"Ông ta e ngại cho mạng sống của những người Mỹ. Ông nói rằng việc Tổng thống Ford tuyên bố là sẽ chỉ cho những gia đình người Việt làm việc cho Mỹ được di tản đã làm cho những sĩ quan tác chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa phẫn nộ ; những người này là những người đã trung thành phục vụ và đặc biệt là do họ mà ông Kỳ lo lắng cho sự an toàn của người Mỹ".

Tờ Newsweek (28/4/1975) còn thuật lại câu chuyện là một buổi sáng nọ, khi quan sát nhóm người Mỹ và thân nhân Việt của họ kéo đến trước tòa đại sứ, một viên chức cảnh sát Sài Gòn bỗng nhiên chặn lại và quát lên : "Các anh không thể bỏ nơi đây để ra đi, tôi sẽ nhốt hết các anh lại". Lính gác vội vàng đưa đoàn người này lọt vào qua cổng tòa đại sứ.

Rồi những tin tức khác còn làm dấy lên những lời đồn đoán về việc bắt giữ con tin.

Bắt Mỹ làm con tin ?

Theo Thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình (Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia kiêm Tổng Giám đốc Trung ương Tình báo Việt Nam Cộng Hòa) – hiện cư ngụ tại San Jose, California - kể lại thì chính ông Thomas Polgar, trùm CIA ở Việt Nam, đã đến gặp ông và gạ hỏi :

"Thưa Thiếu tướng, chúng tôi nghe thông tin là có những nhóm người võ trang định bắt người Mỹ làm con tin ?"

"Tôi nghĩ rằng có, nhưng chưa có gì là cụ thể, hay tổ chức thành kế hoạch", ông Bình trả lời.

"Chúng tôi biết đã có một tiền lệ ở đây về việc bắt cóc".

"Tiền lệ nào ?"

"Chắc Thiếu tướng còn nhớ vụ Cité René Hérault ?"

"Tôi nhớ, nhưng ông đừng lo. Tuy nhiên, tôi cũng phải cho ông hay là cả thủ đô đang đặt vấn đề là tại sao Mỹ chỉ cho một số nhỏ người Việt được di tản".

"Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức về việc này (giúp di tản nhiều hơn)".

Khi tôi hỏi về biến cố "Cité René Hérault" thì ông Bình kể lại là nó xảy ra vào năm 1945. Cư xá này nằm ở Tân Định, phía tay phải trên đường từ Tân Sơn Nhứt vào Sài Gòn. Phần đông là nơi người Pháp và lai Pháp cư ngụ. Tình hình tại Sài Gòn vào mùa hè năm ấy hết sức sôi động. Bao nhiêu tranh chấp giữa các phe phái : Nhật, Pháp, Việt Minh, lực lượng Đồng Minh do Tướng D.D. Gracy (người Anh) chỉ huy. Ngoài Việt Minh, lại còn các phe phái Việt Nam khác. Mờ sáng ngày 25/9/1945, lực lượng Bình Xuyên tấn công cư xá René Hérault. Nhiều người Pháp và lai Pháp đã bị hạ sát, bị bắt bắt làm con tin.

Sẽ không một người Việt nào lên máy bay hay tàu Mỹ nếu…’

Sau ông Polgar thì đến lượt Đại sứ Martin cảnh cáo Tướng Bình : "Này Thiếu tướng, chúng ta là đồng minh đã mấy chục năm, chết sống với nhau trên chiến trường. Bây giờ đến lúc kết thúc, ta phải làm sao cho êm đẹp, terminer en beauté".

Rồi với một giọng nói nhỏ nhẹ và chân thành, ông nói tiếp :

"Tôi sẽ cố gắng tranh đấu hết sức của tôi để di tản một số người Việt đông nhất có thể, nhưng tôi cần ông giúp một việc quan trọng nhất lúc này".

"Việc gì, thưa Đại sứ ?"

"Ông phải làm sao giữ được an ninh tại Sài Gòn cho tới giờ phút chót. Và quan trọng nhất là chớ có để xảy ra vụ bắt cóc người Mỹ, dù quân sự hay dân sự".

"Thưa Đại sứ, an ninh thủ đô là mối quan tâm lớn nhất của tôi. Và giờ phút này, theo lệnh của Tổng thống Thiệu, lực lượng Cảnh sát Dã chiến đóng ở Vườn Tao Đàn và ở một số các địa điểm chiến lược tại thủ đô dưới quyền điều khiển trực tiếp của tôi đang làm việc ngày đêm cho công tác này".

Đại sứ Martin nhìn thẳng mắt Tướng Bình, rồi dằn từng tiếng :

"Cám ơn Thiếu tướng, vì nếu có xảy ra dù chỉ một vụ bắt cóc hay lộn xộn, tôi bảo đảm với ông là sẽ không một người Việt Nam nào bước lên máy bay hay tàu Mỹ".

Sau một vài trao đổi, ông Martin tạm biệt ông Bình :

"Tôi cam kết với ông rằng nếu mọi chuyện tốt đẹp, tôi sẽ là người cuối cùng bước lên máy bay".

Đúc kết lại thì ngoài việc ngăn chặn Washington gửi Thủy quân lục chiến vào Sài Gòn, ông Martin còn có ba hành động để giữ cho tình hình yên ổn : một là sinh hoạt hết sức bình tĩnh để không đổ thêm dầu vào lửa, không làm xôn xao thêm dư luận là Mỹ đang bỏ chạy ; hai là cố kéo dài cuộc di tản người Mỹ để giúp một số người Việt ra đi ; và ba là cho di tản sớm một số phi công Việt Nam Cộng Hòa để tránh bắn rơi máy bay Mỹ.

Trấn an dư luận

Ông Martin giải thích cho Quốc hội Hoa Kỳ đầu năm 1976 :

"Điều lo ngại nhất của chúng tôi lúc đó là tránh khỏi cảnh hoảng hốt, hỗn loạn. Sự lo nghĩ này ảnh hưởng đến tất cả những hành động khác… Nếu chúng ta không cư xử cho đúng mức thì đồng minh của chúng ta (Việt Nam Cộng Hòa) sẽ cảm thấy bị bỏ rơi và họ sẽ trở mặt với Mỹ trong những ngày cuối cùng !".

"Bởi vậy phải hết sức bình tĩnh nếu muốn di tản được người Mỹ, những người Việt có liên hệ gia đình với Mỹ và càng nhiều nếu có thể được, số người Việt mà Mỹ có trách nhiệm đối với họ".

Tại tư thất cũng như văn phòng làm việc, ông Martin nhất định không chịu đóng gói. Đồ đạc, sách vở, hồ sơ, hình ảnh trên tường vẫn được để nguyên vẹn, không xê dịch. Ngày 18/4/1975, ông còn cho Giám đốc Thông tin Hoa Kỳ, ông Alan Carter, lên truyền hình Sài Gòn để giảm nhẹ đồn đoán về những Mỹ đang rời bỏ Việt Nam : "Nếu quý vị ghé thăm tư thất của chính Đại sứ và bà Martin, quý vị sẽ thấy hoàn toàn không có đóng gói gì hết. Và ở nhà riêng của tôi cũng vậy".

Kéo dài cuộc di tản người Mỹ để cứu vớt người Việt

Từ khi nhận được chỉ thị ngày 17/4/1975 của Ngoại trưởng Henry Kissinger là "phải ra đi cho lẹ và ngay bây giờ, ông bị hối thúc liên tục về việc di tản người Mỹ, nhưng như ông đã tâm sự : "Nếu tôi ra đi thì sẽ chẳng có máy bay nào vào Sài Gòn để đưa người Việt Nam đi".

Chính Kissinger đã bình luận về việc ông Martin cứ chần chừ không chịu đi :

"Nhiệt tình gắn bó với những người mà ông sắp bị bắt buộc phải bỏ lại, ông Martin đã coi như bổn phận của mình là phải kéo dài cuộc rút lui của Mỹ ra trong một thời gian dài nhất để giữ lại sự có mặt của Mỹ (tại Việt Nam), làm sao cho còn đủ để biện hộ cho việc cứu người Việt Nam".

"Ông ta tin rằng, ngay trước mắt, sự hoảng hốt ở Sài Gòn còn đáng lo ngại hơn những kế hoạch tấn công của Hà Nội, ông đã phấn đấu để cho cuộc di tản quá chậm…".

Đưa phi công Việt Nam Cộng Hòa tới Thái Lan

Ông Martin đã sắp xếp để đưa một số khá nhiều phi công Việt Nam Cộng Hòa và gia đình được ưu tiên ra đi. Tất cả khoảng 2.000 người di tản trước hết là tới phi cảng U-Tapao ở Thái Lan. Mục đích của việc này là để giảm thiểu khả năng trả thù và đụng độ với lực lượng Mỹ. Cũng trong cuộc điều trần tại Quốc hội Mỹ về di tản, ông Martin cho rằng nếu cảm thấy bị bỏ rơi quá tàn nhẫn, phía Việt Nam sẽ trút sự giận dữ trên đầu những người Mỹ còn lại :

"Tình báo của chúng tôi đã có rất nhiều báo cáo chính xác là nếu chúng ta mang số đông Thủy quân lục chiến vào để di tản người Mỹ, chúng ta sẽ phải chiến đấu để mở đường tháo chạy.

"Không quân Việt Nam sẽ bắn rơi các máy bay vận tải của Mỹ, khi chúng ta bỏ rơi chiến hữu, phó mặc họ cho Bắc Việt".

Ông Martin cho rằng phi công là những phần tử trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị uất hận nhiều nhất nên có thể phản ứng :

"Tôi có một sự lo nghĩ trong lòng nhưng nó đã được giải quyết trước ngày cuối cùng của cuộc di tản, đó là một phần đông không quân Miền Nam đã được bay sang căn cứ U-Tapao ở Thái Lan. Như vậy là đã di chuyển được khả năng (chiến đấu) của một số phi công chống đối trên bầu trời, họ có lẽ là phần tử uất hận nhất trong các quân chủng. Và để trả thù, họ sẽ ngăn chặn cuộc di tản cuối cùng của chúng ta".

Nếu phi công Việt Nam Cộng Hòa bắn rơi ba bốn chiếc máy bay vận tải Mỹ, chắc chắn là sẽ có nhiều trong số 6.000 người Mỹ phải chết. Thêm vào đó là số thương vong không thể lường của quân đội hai bên. Dĩ nhiên là không lực từ Đệ thất Hạm đội sẽ vào uy hiếp, dẹp tan hết mọi cuộc tấn công. Nhưng Sài Gòn sẽ đổ vỡ tan nát và bao nhiêu người dân sẽ là nạn nhân ?

Hủy bỏ ‘kế hoạch điên rồ’

Trước sự phản đối liên tục và mạnh mẽ của Đại sứ Martin, sau cùng thì Tổng thống Ford đã được thuyết phục và hủy bỏ kế hoạch Talon Wise.

Vào lúc 4 giờ 05 sáng thứ Ba, ngày 29/4/1975 (4 giờ 05 chiều 28/4 giờ Washington), những hỏa tiễn đầu tiên của Bắc Việt rơi trúng phi trường Tân Sơn Nhất, Tổng thống Ford ra lệnh khỏi động kế hoạch Frequent Wind (Hành quân gió nhanh) - di tản bằng trực thăng.

Ông Martin miễn cưỡng đồng ý nhưng vẫn vẫn tiếp tục gửi điện văn từng giờ xin thêm trực thăng để di tản người Việt cho đến lúc 4 giờ 45 mờ sáng ngày 30/4/1975, khi có lệnh của Tổng thống là phải bước lên chiếc trực thăng cuối cùng mang bảng số Lady Ace 09. Nếu trái lệnh thì sẽ bị áp giải như chúng tôi đã ghi lại chi tiết về câu chuyện "Con hổ với trái tim đầy tình người" trong cuốn sách Bức tử Việt Nam Cộng Hòa – Kissinger và 8 thủ đoạn nham hiểm sẽ được xuất bản nay mai.

***

Xem như vậy, Trời vẫn còn ban phát một ân huệ cuối cùng cho nhân dân Miền Nam để tránh được một thảm họa khôn lường vào những giờ phút cuối cùng. Vì nếu không thì lịch sử đã phải ghi nhận về "Ngày cuối cùng" lại là "ngày đẫm máu nhất của Chiến tranh Việt Nam".

Sau hai mươi năm chung vai sát cánh trong một cuộc chiến tàn ác, tới lúc hạ màn hai bên Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa lại có thể bắn nhau tan nát ?

Nguyễn Tiến Hưng

Nguồn : BBC, 22/04/2024

***************************

Dinh Độc Lập tháng 3/1975 : Lệnh rời bỏ Cố đô Huế

Nguyễn Tiến Hưng, BBC, 29/03/2024

Ghi chép của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cựu Tổng trưởng Kế hoạch Việt Nam Cộng Hòa, về những quyết định quan trọng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vào giai đoạn tối hậu của Chiến tranh Việt Nam. Đây là bản cập nhật một bài viết đã xuất bản trên BBC vào năm 2017.

vnch6

Binh lính và người dân trên tàu sơ tán khỏi Huế, tháng 3/1975

Vua nước Chiêm Thành là Chế Mân, người anh hùng chiến thắng cả được quân Nguyên Mông, thế mà lại phải đầu hàng trước nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành của Huyền Trân Công chúa. Ông liền dâng cả miền đất của Châu Ô, Châu Rí cho Việt Nam để làm quà sính lễ xin cưới Huyền Trân về làm vợ.

Nàng hy sinh, giúp mở được con đường Nam Tiến. Vua Trần đổi tên hai châu thành Thuận Châu và Hóa Châu, gọi tắt là Thuận Hóa. Chữ "Hóa" dần dần đọc trại đi thành "Huế".

Câu chuyện lãng mạn ấy đi đôi với cái phong cảnh nhẹ nhàng, quyến rũ của miền đất này. Lăng tẩm, Thành Nội, đầm sen tỏa hương thơm ngát. Rồi những buổi chiều tím, những đêm trăng mờ, những con đò nho nhỏ.

Nếu ta dừng lại ở vài bậc chót khi lên Chùa Thiên Mụ mà ngắm cảnh hoàng hôn rực rỡ trên dòng Sông Hương thì sẽ thấy lòng mình lắng xuống, rồi như bị cuốn vào với tiếng chuông chùa, ngân vang vào không trung : "Ai đi xa Huế làm sao quên được Sông Hương ?"

Cái cảnh nửa đi nửa ở không phải chỉ ám ảnh người lữ khách khi phải lìa xa nơi Cố đô, nó còn làm cho các nhà quân sự trăn trở không ít khi phải vĩnh biệt chốn Kinh Kỳ vào cuối tháng Ba năm ấy. Lúc thì cố thủ, lúc thì rút quân, rút xong lại muốn quay về giữ Huế, cứ dùng dằng mãi.

vnch7

Hoàng thành Huế ngày nay

Có nên hay không nên giữ Huế ?

Trong một báo cáo tối mật của Tướng Fred Weyand gửi Tổng thống Gerald Ford sau chuyến viếng thăm chiến trường Miền Nam vào cuối tháng 3/1975 để thẩm định tình hình, ông đề cập tới hậu quả bi đát của việc Mỹ cúp hết viện trợ làm tê liệt khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, như được ghi lại trong cuốn Bức tử Việt Nam Cộng Hòa – Kissinger và 8 thủ đoạn nham hiểm sẽ xuất bản nay mai. Tướng Weyand là người đã bí mật giúp tác giả chuyển được vài lá thư của Tổng thống Richard Nixon gửi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho Tổng thống Gerald Ford đọc - nói về những cam kết đối với Việt Nam Cộng Hòa mà chính ông Ford cũng chưa bao giờ được biết, nên ông đã bàng hoàng !

Về sự trăn trở tại Dinh Độc Lập trước khi bỏ Huế (13/3), Tướng Weyand bình luận :

"Trong mười hai ngày tiếp theo sau buổi họp này (từ 13 tới 25), có sự băn khoăn lớn lao từ phía Quân đoàn I và Sài Gòn về việc nên giữ lại những phần nào ở Quân đoàn I, nhất là về việc có nên hay không nên giữ Huế ?"

Tiến thoái lưỡng nan

vnch8

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và các thành viên nội các tại Sài Gòn

"Anh Trưởng hả ? Liệu có giữ được Huế không ?"

Tổng thống Thiệu nhấc điện thoại nóng hỏi Tướng Ngô Quang Trưởng ở Đà Nẵng. Hôm đó là ngày 25/3/1975.

Một cuộc họp tại Dinh Độc Lập dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Thiệu lúc 9 giờ 30 sáng. Những người hiện diện, ngoài Phó Tổng thống Trần Văn Hương và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, còn có :

  • Về phía quân sự : Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang, Trung tướng Đồng Văn Khuyên
  • Về phía dân sự : Ngoại trưởng Vương Văn Bắc, Tổng trưởng Kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng

Khi mọi người đã đến đông đủ, một bầu không khí im lặng ghê rợn bao phủ phòng họp. Những điểm màu đỏ đánh dấu vị trí đồn trú của quân đội Bắc Việt trên tấm bản đồ lớn trên tường đã mọc lên như nấm. Cuộc duyệt xét tình hình quân sự bắt đầu.

Sau khi Tướng Khuyên trình bày về tình hình Quân khu I và II, Tổng thống Thiệu nhấc máy điện thoại gọi Tướng Trưởng hỏi xem có giữ được Huế hay không. Rồi ông nhắc lại câu trả lời từ đầu giây bên kia cho mọi người nghe :

Trung tướng Trưởng : "Nếu có lệnh, thì giữ".

Tổng thống Thiệu : "Liệu giữ được bao lâu ?"

Trung tướng Trưởng : "Ngày một ngày hai".

Tổng thống Thiệu : "Vậy nếu không giữ được, thì phải quyết định ngay. Nếu quyết định (bỏ Huế) thì phải làm cho lẹ".

Vì những biến cố về thảm họa mất Huế còn đặt ra nhiều nghi vấn nên chúng tôi đã ghi lại thật rõ ràng về những diễn tiến liên quan tới Quân đoàn I vào tháng 3/1975 ở Chương 3 trong cuốn sách "Tâm tư Tổng thống Thiệu", cùng với suy tư của Tổng thống Thiệu và Trung tướng Trưởng. Thêm vào đó là tường thuật của Đại tướng Cao Văn Viên và những tài liệu của Hoa Kỳ.

Cuộc họp giữa Tổng thống Thiệu và Trung tướng Trưởng ngày 19/3/1975

Vì Bắc Việt đã điều động toàn bộ bảy sư đoàn Tổng trừ bị vào Miền Nam, ba sư đoàn cơ hữu của Tướng Trưởng ở Quân Đoàn I phải đối mặt với sức mạnh áp đảo sau trận chiến Ban mê Thuột.

Sáng ngày 19/3/1975, Tướng Trưởng bay vào Sài Gòn để trình bày với Tổng thống Thiệu kế hoạch rút quân của ông. Lần này có sự hiện của cả Phó Tổng thống Trần Văn Hương.

Sự hiện diện của cụ Hương là việc bất thường, vì xưa nay khi bàn chuyện quân sự ông Thiệu thường chỉ mời có ba vị : Khiêm, Viên và Quang mà thôi. Chắc hôm ấy ông phải nhờ đến sự ủng hộ của Phó Tổng thống để thuyết phục Tướng Trưởng nên bỏ Huế.

Theo Đại tướng Viên thuật lại trong cuốn "Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa" (trang 162-163):

"Tướng Trưởng trình bày kế hoạch với hai giải pháp :

  • Kế hoạch thứ nhất : Nếu Quốc lộ 1 còn sử dụng được, quân ông sẽ rút từ Huế về Đà Nẵng và từ Chu Lai về Đà Nẵng ;
  • Kế hoạch thứ hai : Nếu Quốc lộ bị cắt, các lực lượng sẽ rút vào ba cứ điểm là Chu Lai, Huế và Đà Nẵng, nhưng Huế và Chu Lai chỉ là hai nơi tập trung quân để cuối cùng thì rút về Đà Nẵng bằng đường biển. Đà Nẵng sẽ là điểm phòng thủ chánh do bốn sư đoàn bộ binh và bốn liên đoàn Biệt đông quân đảm nhận.

Vì lúc ấy "không thể rút quân theo kế hoạch thứ nhất được vì hai đoạn đường từ Huế đến Đà Nẵng và từ Chu Lai đến Đà Nẵng đã bị chốt hết rồi, và làn sóng người tỵ nạn lại đang từ mọi ngả dùng con lộ duy nhất này để chạy về Đà Nẵng, nên Tướng Trưởng kết luận : "Chúng ta chỉ có một chọn lựa và chúng ta phải thi hành ngay trước khi quá trễ".

Chọn lựa của Tướng Trưởng là phải rút quân về Huế, Đà Nẵng, Chu Lai và lợi dụng những công sự phòng thủ đã có trong thành phố, hay địa hình chung quanh, như những cao điểm của những ngọn đồi ngoại thành (Huế) để chống cự".

Trong cuộc họp ngày 19/3, Tổng thống Thiệu kể lại là ông đã miễn cưỡng chấp thuận kế hoạch thứ hai của ông Trưởng vì ông Trưởng nói không còn đường nào tháo lui khỏi Huế được nữa vì Quốc lộ 1 đã bị chặn : "Tôi nói với Tướng Trưởng là mặc dầu lịch sử có thể sẽ phán xét tôi như một thằng ngu (imbécile) nhưng vì lòng tôi đối với đất nước, tôi đồng ý". Sau đó ông Thiệu tiễn ông Trưởng ra khỏi Dinh Độc Lập và nói : "Tôi đợi đến khi anh về tới Đà Nẵng rồi sẽ tuyên bố cố thủ Huế trên đài phát thanh".

Tổng thống Thiệu kể thêm : Khi bay về tới Đà Nẵng thì "ông Trưởng lại gọi điện thoại để yêu cầu tôi hãy hoãn lại việc tuyên bố tử thủ Huế trên đài phát thanh, vì có thể ta không giữ nổi Huế". Tôi hỏi tại sao Tướng Trưởng lại thay đổi chiến lược ?

Tổng thống Thiệu trả lời : "Lý do là khi máy bay vừa đáp xuống Đà Nẵng thì Tướng Trưởng lại nghe Tướng (Lâm Quang) Thi, Tư lệnh phó Quân đoàn I báo cáo là quân đội Bắc Việt đã bắt đầu nã pháo vào Bộ Chỉ huy rồi".

Việc Tướng Thi báo cáo Bộ Tư lệnh của ông đã bị pháo thì Đại tướng Viên cũng xác nhận trong cuốn hồi ký của ông (sđd., trang 164-165). Nhưng việc Tướng Trưởng xin hoãn tuyên bố cố thủ Huế trên đài phát thanh thì chưa thấy ai nói tới.

Cũng theo lời Tổng thống Thiệu, vì ông đã miễn cưỡng đồng ý với Tướng Trưởng về việc giữ Huế mà bây giờ lại thấy ông Trưởng dè dặt, lung lạc nên nhân cơ hội này, ông Thiệu lại nói thêm về việc nên bỏ Huế. Ông cho ông Trưởng biết là cả Phó Tổng thống, cả Thủ tướng đều chống lại việc giữ cả hai nơi - Huế và Đà Nẵng - cùng một lúc vì không đủ sức.

Nhưng mặc dù Tổng thống Thiệu tỏ ý dè dặt, Tướng Trưởng vẫn tiến hành kế hoạch giữ ba cứ địa Huế, Chu Lai và Đà Nẵng, vì Quốc lộ 1 đã bị chặn rồi, không thể rút được nữa, vả lại ông cho rằng Tổng thống Thiệu tuy dè dặt nhưng chưa rút lại lệnh đó.

vnch9

Tổng thống Thiệu trong chuyến thị sát Huế - Đà Nẵng tháng 2/1975

Nơi đây chúng tôi xin mở ngoặc để nói tới một nhược điểm của Việt Nam Cộng Hòa về sự thiếu điều hợp giữa các cơ quan, dẫn đến sự bất nhất : Trong buổi họp ngày 19/3/1975, sau khi do dự rồi đồng ý để Tướng Trưởng giữ Huế, Tổng thống Thiệu chỉ thị Văn phòng soạn một bài về "cố thủ Huế" để ông trấn an nhân dân trên đài phát thanh. Tới khi Tướng Trưởng về tới Đà Nẵng thì lại gọi điện thoại vào Sài Gòn yêu cầu tổng thống hoãn tuyên bố cố thủ Huế. Và ông Thiệu đã đồng ý nhưng - có thể là vì Dinh Độc Lập đã không có chỉ thị rõ ràng cho đài phát thanh là phải hủy lời tuyên bố "cố thủ Huế" cho nên ngày hôm sau (20/3), đài phát thanh vẫn cứ oang oang phát sóng lời hiệu triệu !

Lời hiệu triệu cố thủ Huế trên đài phát thanh đã làm cho Tướng Trưởng bàng hoàng, đồng thời làm cho Tổng thống Thiệu bất mãn vì bị coi là đã có hành vi bất nhất !

***

Vào thời điểm này thì Đài BBC luôn luôn loan báo đầy đủ chi tiết về cuộc triệt thoái Pleiku và tiên đoán là quân đội Bắc Việt sẽ tới vùng phụ cận Sài Gòn trong vòng vài ba tuần lễ vì Quốc lộ 14 từ Ban Mê Thuột đã mở rộng.

Đài VOA thì tường thuật về vụ nhóm Dân chủ ở Hạ viện đã bỏ phiếu chống viện trợ bổ túc cho Miền Nam (ngày 12/3/1975) với số phiếu 189-49 ; rồi nhóm ở Thượng viện theo sau với số phiếu 34-6 !

Binh sĩ nghe liên tục như vậy nên tinh thần sa sút rất nhanh. Từ Miền Trung, đơn xin tiếp liệu về thực phẩm, dược phẩm, nhà tạm trú cho gia đình binh sĩ và người di tản tới tấp bay về Sài Gòn, nhưng chính phủ trung ương đã hầu như cạn kiệt, không thể đáp ứng được nữa.

Năm ngày trăn trở về Huế

Ngày 23/3/1975, theo Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn trong hồi ký "Đất nước tôi" :

"Tướng Trưởng họp bộ tham mưu tại Đà Nẵng, ra chỉ thị cho Tướng Thi tử thủ Huế nhưng đồng thời phải có kế hoạch để sẵn sàng di tản về Đà Nẵng nếu tình hình đòi hỏi. Đến đây ai cũng nhận thấy tình hình cố đô Huế rất nguy kịch, nếu không nói là tuyệt vọng. Sau đó, sáng ngày 24/3/1975, Tướng Thi và Bộ Tư lệnh tiền phương đáp tầu Hải quân đi Đà Nẵng…".

Ngày 25/3/1975, theo Đại tướng Viên :

"Tất cả các đơn vị của Quân đoàn I tụ lại tại ba phòng tuyến chánh : nam Chu Lai, Đà Nẵng (kể cả Hội An) và Bắc thành phố Huế… Tinh thần binh sĩ xuống thấp và chán nản. Từ lâu, chinh chiến hết trận này đến trận nọ, nhưng chưa bao giờ họ nằm trong cảnh tuyệt vọng như vầy… Trong tình thế thất vọng đó, Quân đoàn I nhận thêm một quân lệnh từ Dinh Độc Lập : Tổng thống Thiệu ra lệnh Tướng Trưởng dùng ba sư đoàn cơ hữu của quân đoàn để phòng thủ Đà Nẵng. Sư đoàn Thủy quân lục chiến được đóng vai trừ bị. Đêm đó Tướng Trưởng ra lệnh cho Sư đoàn 1 Bộ binh và các đơn vị chung quanh Huế rút về Đà Nẵng…".

"Kế hoạch di tản lực lượng khỏi Huế bắt đầu bằng cách cho sư đoàn 1 Bộ binh và các đơn vị cơ hữu của sư đoàn rút ra Cửa Tư Hiền…".

Lệnh bỏ Huế ngày 25/3/1975

vnch10

Quân Bắc Việt chặn Quốc lộ 1, những người di tản phải sơ tán bằng đường biển

Như viện dẫn ở đầu bài, trong buổi họp ngày 25/3/1975, sau khi Tổng thống Thiệu hỏi Tướng Trưởng "nếu ông quyết định giữ Huế thì được bao lâu", ông Trưởng trả lời là chỉ giữ được "ngày một ngày hai", ông Thiệu lặp lại cho mọi người nghe, rồi ra lệnh : "Vậy nếu không giữ được, phải quyết định ngay và nếu quyết định (bỏ Huế) thì phải làm cho lẹ".

Tới đây Tổng thống Thiệu không nhắc lại thêm các câu trả lời sau đó của Tướng Trưởng nữa. Ông đặt ống nói xuống và nói : "Ông Trưởng rất depressed" (chán nản).

Sau khi tham khảo với Đại tướng Viên, Tổng thống Thiệu ra chỉ thị cho ông gửi công điện cho Tướng Trưởng, đưa ra ba lệnh (và chúng tôi đã ghi rất rõ ràng xuống cuốn sổ tay còn giữ được) :

"Thứ nhất, bỏ Huế ;

"Thứ hai, phải làm cho lẹ ;

"Thứ ba, tử thủ Đà Nẵng".

Tổng thống Thiệu thở dài : "Mình trông cậy vào ba 'enclaves' (cứ điểm), mà bây giờ chỉ còn một ở Đà Nẵng". Nghe vậy, ông Bắc và tôi bàng hoàng nhìn nhau. Như vậy là đã có lệnh chính thức bỏ Huế.

Số phận người quân nhân

Nơi đây, chúng tôi xin mở ngoặc để nhắc lại về tình trạng kinh tế khó khăn của thân nhân người binh sĩ trước khi sụp đổ. Từ mùa hè 1974, sau khi giá xăng dầu tăng lên gấp ba lần, ngân sách không còn đủ khả năng tăng lương cho quân đội để đáp ứng với lạm phát vì viện trợ đã bị cắt gần hết.

Chính phủ chỉ định cho mỗi bộ nhận một sư đoàn để tìm cách giúp đỡ. Sư đoàn I được giao cho Bộ Kế hoạch.

Trong một chuyến đi Huế thăm sư đoàn này, chúng tôi được Tư lệnh Sư đoàn I là Chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm đưa đi thăm hỏi gia đình binh sĩ.

Ông tâm sự rằng để cho thân nhân sống trong các lều, bạt ngay sát trại như thế này thì thật là nguy hiểm khi bị pháo kích và cũng thật khó khăn khi phải chuyển quân, nhưng phải chấp nhận vì với số lương quá ít ỏi, người lính phải chi tiêu chung với gia đình.

Thật vậy, với 20.000 đồng một tháng (mãi lực bằng khoảng 28 đô la), người quân nhân chỉ có thể mua gạo, nước mắm cho gia đình, còn lại rất ít cho những nhu cầu khác như thuốc men, may mặc, giáo dục con cái, giải trí.

Đúng như Tướng Điềm nói, để cho gia đình binh sĩ làm lều bạt để sinh sống ngay sát với doanh trại đã làm cho việc chuyển quân trở nên vô cùng nguy hiểm, vì ngoài việc chiến đấu, anh em binh sĩ còn phải quan tâm đến sự an toàn của vợ con.

Về tình trạng Sư Đoàn I tan rã, trong cuốn "Decent Interval", tác giả Frank Snepp có viết về việc Tướng Trưởng cho phép binh sĩ lo cho gia đình như sau :

"Đang khi Tướng Trưởng trình bày với Tổng thống Thiệu về kế hoạch của ông thì số quân đội mà ông cần để thi hành này lại đang tan rã (disintegrating). Và đó là lỗi của ông ta một phần (He was partly to blame). Mấy ngày trước đó, ông ta đã cho phép quân nhân của Sư đoàn 1 được phép lo cho an toàn của gia đình họ. Ông đã làm như vậy là vì lòng thương của một tư lệnh đối với binh sĩ, nhưng khi Quốc lộ 1 đã bị chặn rồi thì chỉ thị này đã dẫn tới hỗn loạn, vì sĩ quan cũng như quân nhân đã bỏ đồn từng loạt để lo cho thân nhân tìm lối thoát".

Hồn khí linh thiêng nơi Cố đô

Vừa rút khỏi Huế buổi sáng thì buổi chiều lại có một tin sét đánh, hy vọng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa để có chút tiền sống cầm hơi đã bị tan biến.

Vào cuối năm 1974, một tia sáng lóe lên. Có ông vua dầu lửa người xứ Saudi Arabia chiếu cố đến Miền Nam. Vua Saud al Faisal (Faisal bin Abdulaziz al Saud) cho biết ông có rất nhiều thiện cảm với nhân dân Miền Nam và đã bí mật đồng ý cho Miền Nam vay một số tiền để mua tiếp liệu (xem "Khi Đồng Minh Tháo Chạy", trang 474).

Thật là một cơ hội quý báu. Đang lúc nguy kịch lại có nhà hảo tâm đến cứu. Vua Faisal bằng lòng cho vay dài hạn 300 triệu đô la (để bù đắp cho số tiền vừa bị Quốc hội Mỹ vét nạo hết). Bao nhiêu hy vọng tràn trề. Họp lên họp xuống, nhất thiết là phải thực hiện ngay kế hoạch này để đáp ứng nhu cầu về dầu, xăng, thực phẩm, thuốc men và phân bón. Nếu quá khan hiếm những sản phẩm này thì chắc chắn sẽ có khủng hoảng lớn.

Nhưng đúng là "họa vô đơn chí". Những cái rủi ro hay theo nhau mà đến. Đang lúc chúng tôi sửa soạn để cùng với Ngoại trưởng Vương Văn Bắc lên đường đi Riyadh đàm phán, mong sớm có giải ngân, thì đùng một cái, vua Faisal bị chính cháu ruột sát hại một cách thảm thương ngay trong hoàng cung.

Chính phủ Miền Nam bàng hoàng. Tổng thống Thiệu gửi điện văn chia buồn cùng Hoàng gia, nói tới nghĩa cử cao đẹp của ngài Faisal, cầu xin cho Allah sớm đưa Ngài về nơi cực lạc. Vì tình cảm cao đẹp ấy, Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu Hoàng gia tiếp tục thực hiện công cuộc yểm trợ Miền Nam như Ngài đã vạch ra.

Thế nhưng, trong lúc tang gia bối rối, tình hình quốc nội xáo trộn, Hoàng gia Saudi đâu còn thời giờ hay tinh thần mà để ý đến chuyện của nước khác.

Đứng về khía cạnh tâm linh, chúng tôi tự hỏi làm sao lại có sự trùng hợp giữa cố đô Hoàng triều Huế và Hoàng triều của ông vua xứ Saudi cùng một ngày như vậy ?

Phải chăng đã đến lúc vận nước suy tàn ?

Nguyễn Tiến Hưng

Nguồn : BBC, 29/3/2024

Bài viết của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Ông là tác giả cuốn Khi Đồng minh Tháo chạy và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh. Hiện ông định cư tại Virginia, Hoa Kỳ.

Quay lại trang chủ

Additional Info

  • Author: Nguyễn Tiến Hưng
Read 2228 times

Viết bình luận

Phải xác tín nội dung bài viết đáp ứng tất cả những yêu cầu của thông tin được đánh dấu bằng ký hiệu (*)