Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Khi Bảo Đại đưa ông Diệm về làm Thủ tướng, một trận đấu đá đã xảy ra

Trong cuốn "Việt Nam Máu lửa Quê hương tôi" do Đỗ Mậu đứng tên, được Văn Nghệ xuất bàn tại Weatminster, California, năm 1993, nhóm viết cuốn sách này đã dựa theo những tài liệu truyền truyền của CSViệt Nam, cho rằng có ba cuộc vận động đưa ông Diệm về làm Thủ Tướng : Hồng Y Spellman, Ngoại Trưởng Foster Dulles và Phong Trào Bình Dân Thiên Chúa Giáo Pháp (MRP).

diem1

Quốc trưởng Bảo Đại

Nhưng trong cuốn "Vietnam, A history", một cuốn sách viết về lịch sử chiến tranh Việt Nam nổi tiếng của Mỹ, sử gia Stanley Karnow, lại viết hoàn toàn khác :

"Khi cuộc các cuộc thương thuyết tại Geneva gần kết thúc, cuối cùng Bảo Đại nhận thức rằng địa vị của ông treo mỏng manh như sợi tóc, ông ta mời ông Diệm đến. Người ăn chơi và nhà đạo đức không thích hợp nhau, nhưng họ có thể dùng nhau. Diệm coi Bảo Đại là con đường đưa đến chính quyền. Còn Bảo Đại nhìn thấy hai cái lợi ở ông Diệm. Thứ nhất Ngô Đình Nhu, em ruột ông Diệm, đã thành lập được Mặt trận Cứu nguy Dân tộc ở Sài Gòn, một cơ cấu xem ra được coi là một liên minh chính trị đáng tin cậy. Thứ hai Bảo Đại nghĩ rằng Diệm đã từng ở Hoa Kỳ, có thể đưa Mỹ vào chính trường Việt Nam thay thế Pháp mà sự có mặt sẽ chấm dứt trong những ngày gần đây. 

"Nhưng trái với chuyện hoang đường cho rằng (Ngoại trưởng) Foster Dulles, Hồng y Spellman và nhiều người Mỹ khác vận động đưa ông Diệm lên, Hoa Kỳ lúc ấy vẫn chưa chấp nhận Diệm. Quả thật các viên chức ngoại giao Mỹ tại Geneva đã từ chối khéo ông Luyện, em ông Diệm, khi ông thúc đẩy họ tiếp kiến ông Diệm. Trong khi đó chính phủ Pháp nhìn Diệm với sự thờ ơ."

(Stanley Karnow, Vietnam a History, Penguin Book 1984, tr. 234).

Bảo Đại nói rõ lý do đưa ông Diệm về

Trong cuốn hồi ký "Le Dragon d’Annam" do Plon, Paris, xuất bản năm 1980, Quốc trưởng Bảo Đại đã trình bày tình hình chính trị và những lý do cá nhân khiến ông mời ông Diệm làm thủ tướng với toàn quyền quân sự và dân sự như sau : 

"Chúng tôi không còn có thể trông cậy vào người Pháp được nữa. Tại bàn hội nghị Geneva, chỉ còn người Mỹ là đồng minh của chúng ta. Trước tình thế đang biến chuyển, họ muốn dựng nên một hệ thống phòng thủ mới tại Đông Nam Á. Họ có thể giúp chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đầu chống cộng sản. Tại Sài Gòn thủ tướng chính phủ (Bửu Lộc) gặp phải sự chống đối mãnh liệt của những thành phần quốc gia được kết hợp lại trong phòng trào Đoàn Kết Quốc Gia do Ngô Đình Nhu lãnh đạo. Những thành phần này tiên thiên chống lại những quyết định sẽ được đạt đến tại Geneva. Tôi bèn triệu tập đến Cannes các lãnh tụ của tất cả các xu hướng chính trị và tôn giáo của Việt Nam để tham khảo ý kiến. Tôi giải thích cho họ những gì sẽ xảy ra, tôi cho họ biết tất cả đã được sắp xếp, kể cả việc phân chia đất nước. Tôi gợi ra sự cần thiết phải đem lại cho nước Việt Nam một hướng đi rõ rệt hơn, và đề nghị thay thế Hoàng thân Bửu Lộc trong chức vụ thủ tướng bởi ông Ngô Đình Diệm. Tất cả những người có mặt đã nồng nhiệt chấp thuận đề nghị của tôi".

Quốc trưởng Bảo Đại viết tiếp :

"Biết trước mình khó lòng theo đuổi được con đường đã vạch, Bửu Lộc đệ đơn xin từ nhiệm cho cả chính phủ.

"Sau khi thảo luận với ông Foster Dulles, để cho ông ta biết ý định ấy, tôi cho mời ông Ngô Đình Diệm và bảo ông ta :

- Cứ mỗi khi mà tôi cần thay đổi chính phủ, tôi lại phải gọi đến ông. Ông thì lúc nào cũng từ chối. Nay tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị chia cắt làm đôi. Ông cần phải lãnh đạo chính phủ.

- Thưa Hoàng thượng, không thể được ạ. Ông ta đáp. Tôi xin trình Ngài là sau nhiều năm suy nghĩ, tôi đã quyết định. Tôi định đi tu...

- Tôi kính trọng ý định của ông. Nhưng hiện nay, tôi kêu gọi đến lòng ái quốc của ông. Ông không có quyền từ chối trách nhiệm của mình. Sự tồn vong của Việt Nam buộc ông như vậy.

Sau một hồi yên lặng, cuối cùng ông ta đáp :

- Thưa Hoàng thượng, trong trường hợp đó, tôi xin nhận sứ mạng mà Ngài trao phó.

"Cầm lấy tay ông ta, tôi kéo sang một phòng bên cạnh, trong đó có cây thánh giá. Trước thánh giá, tôi bảo ông ta :

- Đây Chúa của ông đây. Ông hãy thề trước chân dung Chúa là giữ vững đất nước mà người ta đã trao cho ông. Ông sẽ bảo vệ nó để chống lại bọn cộng sản, và nếu cần, chống luôn cả người Pháp nữa.

"Ông ta đứng yên lặng một lúc lâu rồi nhìn tôi, sau khi nhìn lên thánh giá, ông nói với một giọng nghẹn ngào :

- Tôi xin thề.

(Bảo Đại, Le Dragon d’Annam, Plon, Paris 1980, tr. 514 - 515)

Ngày 16/06/1954 Thủ tướng Bửu Lộc từ chức. Bảo Đại ký Sắc lệnh số 38-QT cử Ngô Đình Diệm thành lập tân chính phủ.

Bốn mươi tám giờ đồng hồ sau, ông Diệm trở về Sài Gòn cùng với Hoàng thân Bửu Lộc để bàn giao quyền hành. Trước khi ra đi, Bảo Đại đã trao cho ông một đạo Dụ ủy cho ông mọi quyền hành về hành chánh cũng như quân sự. Nhưng khi ông Diệm vừa rời Paris thì một nhóm người Pháp thuộc Ngân hàng Đông Dương (Bank de l’Indochine) đã đến phản đối Bảo Đại về việc cử ông Diệm làm Thủ tướng. Họ sợ rằng ông Diệm sẽ gạt bỏ mọi quyền lợi về kinh tế và văn hoá của Pháp tại Việt Nam. Nguyễn Đệ, Đổng lý Văn phòng Quốc trưởng, và một số người thân cận với Bảo Đại cũng không đồng ý việc cử ông Diệm. Họ sợ ông thâu tóm hết mọi quyển hành.

Ngày 24/06/1954, ông đáp phi cơ hãng Air France rời Ba Lê và hai ngày sau đến Sài Gòn. Cùng đi với ông, có người em trai là Ngô Đình Luyện, ông Trần Chánh Thành, ông Nguyễn Văn Thoại, một giáo sư đại học tại Pháp,

Ông Diệm và các ông Luyện, Thành, Thoại đều vui vẻ hân hoan ra mặt. Ngày 26/06/1954, phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Ngoài số người đón tiếp tại phi trường, nhiều nhóm dân chúng chờ đợi hai bên các con đường mà đoàn xe chở thủ tướng Ngô Đình Diệm đi qua, như nhân chứng Đại tá Edward Lansdale thuật lại, chứ không phải họ tránh né như ông Joseph Buttinger đã viết. Nhưng đoàn xe chở Thủ tướng Diệm chạy nhanh làm dân chúng không thấy rõ mặt thủ tướng, theo nhận xét của Trung tá Lansdale.

Ông Diệm gặp nhiều khó khăn khi lên cầm quyền

Bảo Đại nói rằng công việc của ông Diệm không dễ dàng. Việc ông đến Sài Gòn chẳng ai hoan nghênh. Người ta cần phải động viên tinh thần của mọi người đang rơi vào tình trạng hoang mang. Ngày 30/06/1954 ông đến Hà Hội. Những điều ông thấy không thể tưởng tượng được. Chẳng còn ai nghỉ đến chống lại cộng sản. Hàng trăn ngàn người đau khổ, trong đó có những người công giáo mà ông tin rằng sẽ ủng hộ ông, đang tìm đường chạy vào miền Nam. Thật quá chậm trể để không còn hành động gì được nữa. Ông trở về Sài Gòn.

diem2

Thủ tướng Ngô Đình Diệm

Việc thành lập chính phủ rất khó khăn vì có sự tranh chấp của các đảng phái và giáo phái, nhưng rồi ngày 6/7/1954, ông Diệm cũng đã ban hành Sắc Lệnh số 43-CP công bố thành phần chính phủ và ngày 7/7/1954 chính phủ Ngô Đình Diệm bắt đầu chấp chánh.

Ngày 20/07/1954 đại diện Pháp và Việt Minh ký hiệp định Genève chia cắt đất nước làm đôi, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ và đọc một bài diễn văn chống lại sự bất công của Hiệp Định Genève đã trao cả miền Bắc cho Cộng Sản và thêm 4 tỉnh miền Trung. Thủ tướng nói : "Chúng tôi không thể đặt vào vòng nô lệ hàng triệu đồng bào trung thành với chủ nghĩa quốc gia...". Từ trên sự đổ nát và hổn loạn, ông Diệm đã đưa được khoảng một triệu người từ miền Bắc vào miền Nam, ổn định tình miền Nam và xây dựng chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa.

Mặc dầu tuyên bố chính thức chấp chánh, chính phủ Ngô Đình Diệm không nằm được bao nhiêu quyền hành. Người thật sự có quyền lúc đó là tướng Pháp Paul Ely, Cao ủy Pháp kiểm Tổng Tư lệnh Quân đội Pháp, đóng tại dinh Norodom của Toàn quyền Pháp ngày trước tại Sài Gòn. Tướng Ely cầm đầu luôn cả guồng máy dân sự.

Chỉ có Bộ Tư lệnh Pháp có quyền điều động "Quân đội quốc gia Việt Nam" và chỉ huy tác chiến. Pháp cử tướng Nguyễn Văn Hinh, con cựu thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, "Hùm Xám Cai Lậy", làm Tham mưu trưởng "Quân đội Quốc gia". 

Ông Diệm căn cứ vào các thỏa ước mà Pháp đã ký kết về việc thừa nhận và hoàn thành nền độc lập của Việt Nam, để đòi Pháp trao trả các quyền và tài sản của một quốc gia độc lập mà Pháp còn sử dụng hay nắm giữ. Hai tháng sau, Pháp mới chịu giao trả dinh Norodom cũng như Phủ Toàn quyền tại Hanoi.

Mỹ chớp thời cơ nhảy vào cuộc

Khi nhận thấy tình hình đang thuận lợi, ngày 20/08/1954, Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ đã họp và ban hành các nghị quyết nói về chính sách của Hoa Kỳ sau Hiệp định Genève (US policies toward post-Geneva Vietnam), đồng thời phái Trung tá Lansdale thuộc cơ quan OSS (tiền thân của CIA) đến hướng dẫn ông Diệm thi hành.

Nghị Quyết số NSC 5429/2 ngày 20/08/1954 và Nghị Quyết số NSC 5429/3 ngày 19/11/1954 nhận định rằng Pháp đã mất ý chí chiến đấu tại Việt Nam và Mỹ phải đưa ra kế hoạch để đảm đương vai trò của Pháp trên đất nước này. Ngoài phần nhận định, sau đây là những điểm chính của hai Nghị Quyết :

1) Pháp phải trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam ;

2) Truất phế Bảo Đại một cách hợp pháp (legally dethrone Bao Dai) ;

3) Diệm phải mở rộng căn bản chính phủ, bầu cử quốc hội và soạn thảo hiến pháp ;

4) Thành lập một chính phủ bản xứ mạnh (a strong indigenous government) ;

5) Kết hợp việc cải cách ruộng đất với việc định cư người tỵ nạn và

6) Xây dựng những lực lượng quân sự có thể bảo đảm an ninh quốc nội.

Tuy đã có nghị quyết như vậy, việc thì hành không dễ dàng vì tình hình miền Nam lúc đó rất phức tạp, đặc biệt là mức sống và dân trí còn quá thấp và thiếu đoàn kết. Quyền hành về chính trị và quân sự lại vẫn còn nằm trong tay người Pháp, nên việc hình thành một chính phủ bản xứ mạnh (a strong indigenous government) như Mỹ muốn để ổn định tình hình và thống nhất miền Nam rất khó. Một cuộc tranh chấp giữa Mỹ và Pháp đã xảy ra.

Trong thời gian chiến tranh, ngoài quân đội chính quy, Pháp phải xử dụng những tổ chức tự lâp để bảo vệ những khu vực mà Pháp không chiếm giữ được. Hai lực lược Bình Xuyên và giáo phái Phật Giáo Hòa Hảo được Pháp coi như là Phụ lực quân (Supplétifs). Bình Xuyên giữa phía Nam Sài Gòn, còn Hòa Hảo giữ một số vùng ở miền Tây. Trong khi đó, giáo phái Cao Đài lại hình thành một lực lượng riêng để vừa chống Việt Minh vừa chống Pháp. Nay thấy Mỹ muốn xử dụng chính phủ Ngô Đình Diệm do Bảo Đại mới thành lập để hất chân Pháp ra khỏi Đông Dương, dĩ nhiên là Pháp phải chống lại để khi quân đội Pháp không còn ở đây nữa, ảnh hưởng về chính trị, kinh tế và văn hóa của Pháp vẫn còn. Vì thế Pháp đã dùng mọi cách để phá sập chính phủ Ngô Đình Diệm.

Một trận đấu đá cạn tàu ráo máng

Vốn biết Bảo Đại là một tay ăn chơi trác táng, nên Pháp đã hướng dẫn Lê Văn Viễn, thường được gọi là Bảy Viễn, vốn là tướng cướp và là người chỉ huy lực lượng Bình Xuyên, tìm cách mua chuộc Bảo Đại để nắm chính quyền. Với sự giúp đỡ của Bảo Đại, kể từ năm 1951, Bình Xuyên trúng thầu sòng bạc Đại Thế Giới (Grand Monde) ở Chợ Lớn. Mỗi tháng Bảy Viễn nạp cho Bảo Đại 240.000 đồng như đã giao kết. Còn gái và rượu, Bảo Đại muốn bao nhiêu cũng có. Tính chung, tổng số thu nhập của Bảo Đại khoảng từ 110 đến 120 triệu đồng mỗi năm (tương đương 6 triệu Mỹ kim).

Ngày 22/04/1952, Bảo Đại ký Sắc lệnh phong cho Bảy Viễn làm Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ngày 30/04/1954, Bảo Đại gởi về một công điện, cử người phụ tá quân sự của Bảy Viễn là Lai Hữu Sang, làm Tổng Giám đốc Công an Cảnh sát Quốc gia. Nhưng theo tướng Edward G.Lansdale, một nguồn tin từ người Pháp cho biết, Bảo Đại thiếu tiền ăn chơi ở Riviera, đã về bán chức Tổng Giám đốc Công an Cảnh sát Quốc gia cho Bảy Viển với giá 44.000.000 đồng, tương đương với 1.250.000 USD.

Thấy Bảy Viễn là người có thế lực, tướng Hinh đã liên kết với Bảy Viễn để loại bỏ ông Diệm. Ngày 11/09/1954, Thủ tướng Diệm cho tướng Hinh nghỉ phép 6 tuần và rời khỏi xứ trong vòng 24 giờ.

diem3

Ngày 17/09/1954, ông Diệm ký Sắc lệnh số 84/CP cử tướng Nguyễn Văn Xuân làm Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng thay Luật sư Lê Ngọc Chấn. Ngày 20/09/1954, tướng Xuân đã nhận chức và ra lệnh cho tướng Hinh phải rời khỏi Việt Nam. Cũng trong ngày hôm đó. 9 trong số 15 tổng trưởng trong chính phủ Ngô Đình Diệm từ chức. Tướng Hình liền gởi một điện văn cho Bảo Đại yêu cầu cất chức ông Diệm.

Ngày 23/09/1954, Bảo Đại gởi cho ông Diệm một công điện đồng ý để cho ông Diệm được trút bỏ gắng nặng do lời hứa trung thành. Đây là một cách yêu cầu từ chức nhẹ nhàng. Bảo Đại cũng gởi cho Tướng Nguyễn Văn Xuân một công điện ủy quyền cho tướng Xuân lập chính phủ. Tướng Xuân đã vào trình công điện này cho ông Diệm xem. Ngay lập tức, Đại sứ Heath gởi một công điện cho Bộ Ngoại giao, đề nghị tiếp xúc với Bảo Đại và yêu cầu hủy bỏ hay tạm đình hoãn ý định thay thế ông Diệm. Thứ Trưởng Ngoại Giao Smith liền chỉ thị cho Đại Sứ Dillon cử người gặp Bảo Đại, yêu cầu Bảo Đại nên khuyến khích ông Diệm cầm quyền.

Sau nhiều cuộc tranh luận kéo dài, sáng 28/03/1955 Bình Xuyên đã pháo kích vào Dinh Độc Lập. Cuộc chiến bắt đầu. Nhưng với sự quyết tâm chiến đấu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, sự cộng tác của giáo phái Cao Dài, mưu lược của ông Ngô Đình Nhu và sự vận động khôn khéo và quyết liệt của Tướng Lansdale, Pháp đã rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chính phủ đã dẹp tan được các lực lượng của phiếm quân, thống nhất quân đội, truất phế Bảo Đại và thành lập một chính quyền bản xứ mạnh với một chế độc độc đảng theo mô thức của Trung Hoa Quốc Dân Đảng Đài Loan để chống cộng theo như sự đòi hỏi của chính phù Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, sau khi chế độ miền Nam đã ổn định, Mỹ muốn đổ quân vào để mở một cuộc chiến mới, ông Diệm từ chổi, Mỹ đã tổ chức một cuộc đảo chánh và ra lệnh giết ông Diệm. Đây là một bài học lịch sử quan trọng mà các nước trên thế giới đã học được mỗi khi quyết định làm đồng minh với Mỹ.

Bảo Đại nhìn nhận việc ông Diệm phải làm

Năm 1982, nhân khai trương Hội Hoàng tộc ở hải ngoại tại California, Bảo Đại sang thăm Mỹ lần đầu tiên với tư cách cá nhân, ông Cao Xuân Vỹ có hỏi Bảo Đại : "Ngài nghĩ thế nào về việc ông Diệm tổ chức trưng cầu dân ý để truất phế Ngài ?" Bảo Đại trả lời : "Việc thế thì phải thế thôi. Pháp đã quyết định trước rồi !".

Trong một bài phỏng vấn được đăng trên tạp chí Phụ Nữ Diễn Đàn số 104, xuấn bản ở Burke, Virginia, ký giả Phan văn Trường hỏi Bảo Đại : "Tại sao Ngài lại trao quyền cho ông Ngô Đình Diệm để rồi bị ống ấy lật Ngài ?" Bảo Đại trả lời ngay :

"Ông Diệm là người tôi tín nhiệm. Lúc đó thế lực của Pháp đã thất bại. Phía CS đã được Liên Xô tích cực ủng hộ về mọi mặt, nên tôi khuyên ông Diệm nên tìm sự ủng hộ của Mỹ để ngăn chận sự bành trướng của CS. Việc ông ta lật đổ tôi là do sức ép của chính trị. Ông Diệm là người yêu nước, lúc trao quyền tôi có yêu cầu ông ấy cam kết với tôi hai điều trước bàn thờ Chúa và ông rất mộ đạo, là phải giữ miền Nam và nếu ông không làm được sứ mạng ấy thì phải trao trả lại quyền cho tôi. Nhưng rồi ông ta chết khi thi hành nhiệm vụ. Dù sao ông ta cũng cố sức giữ những lời cam kết ấy mà không được".

Bảo Đại không hay biết gì về nghị quyết của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ truất phế ông.

Ngày 30/10/2018

Lữ Giang

Published in Diễn đàn

Lời tác giả : Muốn chứng minh hay tranh luận về chủ quyền lãnh thổ phải căn cứ vào sử liệu và các quy luật dẫn chứng (rules of evidence), trong vấn đề này các văn kiện chính thức và các văn kiện pháp lý đóng vai trò quan trọng nhất. Các sử liệu đó hiện còn được lưu trử trong văn khố của Pháp.

Trước đây chúng tôi phải nhờ các thân hữu ở Pháp sao chụp giúp những phần chính để viết. Nay toàn bộ hồ sơ này đã được in trong cuốn "Biên giới Việt – Trung 1885 – 2000" từ trang 257 đến 273 (bản đánh máy lại) và từ trang 274 đến 324 (bản hình chụp), ai cũng có thể tham khảo một cách dễ dàng.

ai1

Ải Nam Quan ngày xưa

Những tài liệu chính thức nói trên cho thấy Ải Nam Quan là của Tàu, chưa bao giờ là của Việt Nam. Ai cho rằng các tài liệu chính thức nói trên không đúng có thể dùng phản chứng (counterevidence) để chống lại, nhưng phản chứng cũng phải căn cứ vào sử liệu và các quy luật dẫn chứng, chứ không thể "chọi đá đường rày xe lửa" hay nói theo cảm tính của cá nhân hay số đông, vì một triệu con số không cộng lại cũng là số không (A million zeros joined together equal zero).

Sau đây là tóm lược những dẫn chứng đã được chúng tôi trích dẫn nhiều lần trong các bài trước…

*********************

Tài liệu lịch sử cho thấy Nam Quan là của Tàu

1. Tài liệu của nhà Nguyễn

Về phương diện lịch sử, sách "Đại Nam Nhất Thống Chí" viết bằng chữ Hán do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức, đã viết rất rõ về ải Nam Quan như sau :

"Cửa [Nam Giao] này dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại ; có tên nữa là "Đại Nam Quan", phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở giữa, có biển đề ba chữ "Trấn Nam quan", dựng từ năm Ung Chính thứ 6 triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có Chiêu Đức đài, đằng sau đài có Đình tham đường (nhà dừng ngựa), của nước Thanh ; phía nam có Ngưỡng Đức đài, của nước ta, bên tả bên hữu đài có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan, thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ"

[Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 4, trang 385, Nhà xuất bản Thuận Hóa năm 1997].

ai2

"Trấn Nam quan", dựng từ năm Ung Chính thứ 6 triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu đời Càn Long nhà Thanh.

Như vậy theo sử của Triều Đình nhà Nguyễn, ải Nam Quan được Tàu xây từ đời Gia Tỉnh nhà Minh (1522 – 1567), đến thời Ung Chính nhà Thanh (1723 – 1736) được tu chỉnh lại và gọi tên là "Trấn Nam Quan", qua thời Càn Long nhà Thanh (1736 – 1796) dựng thêm cái bảng "Trung ngoại nhất gia" (Trung Quốc và bên ngoài là cùng một nhà) ở tầng trên. 

Đây là sử liệu chính thức. Không hề có tài liệu nào cho thấy ải đó do Việt Nam xây. Nếu ải đó là của Việt Nam và do Việt Nam xây thì phải gọi là Bắc Quan hay Củng Bắc (cổng phía Bắc - như người Tàu thường dùng), chứ không bao giờ gọi là Nam Quan. 

2. Ai giữ Ải Nam Quan ?

Đại Nam Nhất Thống Chí cũng cho biết ải Nam Quan "có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở". Vậy ai là người canh giữ cửa quan này ?

ai3

Không lẻ "Nam Quan là của ta" mà khi sứ giả Việt Nam đi qua lại bị quan Tàu làm khó dễ sao ?

Sử Việt Nam có kể lại năm 1308 Mạc Đỉnh Chi đi sứ Trung Quốc, khi qua ải Nam Quan đã bị chận lại không cho qua vì đến trể hẹn. Sau đó quan Tàu bắt phải làm câu đối mới cho qua

Mạc Đĩnh Chi (1280 – 1346) quê ở Chí Linh, Hải Dương, đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn (1304), được sung chức Nội Thư Gia và bốn năm sau (1308) được cử cầm đầu một phái bộ sứ giả sang Trung Hoa mừng Nguyên Vũ Tông lên ngôi. Ông người bên ngoài thấp bé, xấu xí, nhưng có một trí tuệ rất sắc sảo và thông minh tuyệt vời.

Hôm đó, vì đường sá xa xôi và mưa gió, phái bộ của Mạc Đỉnh Chi đến cửa ải Nam Quan trễ mất một ngày, không đúng với ngày hẹn, nên viên qua Tàu giữ cửa làm khó dễ, không chịu mở cửa cho đi qua. Thấy sứ bộ Đại Việt cứ biện bạch mãi, viên quan phụ trách canh cửa ải đã thả từ trên lầu cao xuống một câu đối, bảo nếu đối được sẽ mở cửa. Câu đối có nội dung như sau :

"Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan"

(Tới cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường cứ qua)

Đây là một câu đối khá hóc búa, có đến 4 chữ quan và 3 chữ quá. Nhưng Mạc Đĩnh Chi nhanh trí, dùng mẹo để đối lại như sau :

"Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh Tiên sinh tiên đối"

(Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin mời tiên sinh đối trước)

Vế đối của ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên, đúng với yêu cầu câu đối của viên quan Tàu đã ra. Quan Tàu rất phục, liền mở cửa ải để đoàn sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi qua biên giới.

Không lẻ "Nam Quan là của ta" mà khi sứ giả Việt Nam đi qua lại bị quan Tàu làm khó dễ sao ?

Pháp phá sập Ải Nam Quan

Đầu năm 1885, Thiếu tướng De Négrier đem quân đánh vào Lạng Sơn rồi tiến lên Đồng Đăng. Quân Tàu chạy về hai ngả, một phần qua cửa ải Nam Quan, còn một phần chạy lên Thất Khê cách Lạng Sơn khoảng 70km. Tướng De Négrier đuổi quân Tàu lên đến cửa Nam Quan, truyền phá sập ải Nam Quan rồi quay về giữ Lạng Sơn.

ai4

Đầu năm 1885, Thiếu tướng De Négrier đem quân đánh vào Lạng Sơn rồi tiến lên Đồng Đăng.

Nhưng sau đó quân Tàu trở lại đông hơn và ngày 22/03/1885 đã đánh bại quân Pháp ở Lạng Sơn. Tướng De Négrier bị thương ở Kỳ Lừa. Tháng 4 năm 1885, Trung – Pháp mở hội nghị đình chiến, quân Tàu rút khỏi Bắc Kỳ, sau đó Công Sứ Patenôtre và Lý Hồng Chương ký hiệp ước Thiên Tân ngày 6/9/1885, Pháp rút khỏi Cơ Long, Đài Loan và Bành Hồ, còn Tàu trao Bắc Kỳ lại cho Pháp những được phép giao thương buôn bán tự do.

Tài liệu pháp lý cho thấy Nam Quan là của Tàu

1. Pháp và Trung Hoa ấn định biên giới Việt - Trung

Theo điều 3 của hiệp ước Thiên Tân, 6 tháng sau khi ký hiệp ước này, phái đoàn của hai bên sẽ họp và ấn định biên giới Việt – Trung. Loạt bài "Sur les frontières du Tonkin" (Trên các biên giới của Bắc Kỳ) của Bác sĩ Néis, người đi theo phái đoàn Pháp phụ trách việc ấn định biên giới Việt – Trung, đã cho chúng ta biết nhiều điều thú vị trong công việc khó khăn này. Chẳng hạn như chuyện Pháp làm thế nào để có thể buộc Tàu chấp nhận cột mốc trước ải Nam Quan nằm rất gần cửa ải.

ai5

Theo Bác sĩ Néis, Pháp đã buộc Tàu chấp nhận cột mốc trước ải Nam Quan nằm rất gần cửa ải.

Mặc dù quân Tàu đã rút về Trung Quốc, nhưng vùng trước ải Nam Quan kéo dài qua Đồng Đăng (cách cửa ải 3 km) cho đến phía bắc sông Kỳ Cùng (cách cửa ải 18 km), đều không có người Việt sinh sống. Dân ở vùng đó đều là các sắc tộc thiểu số của Tàu. Ông De St Chaffray, trưởng phái đoàn Pháp, tin rằng Tàu sẽ đòi lấy sông Kỳ Cùng, làm biên giới, nên nói với các nhân viên dưới quyền :

"Chúng ta phải xem Đồng Đăng như thuộc về Bắc Kỳ, và, nếu phái đoàn Trung Hoa muốn đến ở thành phố này, chúng ta phải tiếp đón họ như những người khách của chúng ta, nhường cho họ những nơi tốt nhất, nhưng phải cho họ biết họ đang ở trên đất chúng ta".

("Nous devions regarder Dong-dang comme faisant partie du Tonkin, et, si les commissaires chinois désiraient venir habiter cette ville, nous voulions les recevoir comme nos hôtes, mettre en cette qualité les meilleurs logements à leur dispositions, mais le bien montrer qu’ils étaient chez nous).

Năm 1886, khi phái đoàn Pháp đến Nam Quan, một cổng Nam Quan mới đã được xây lại bằng đá đẽo để thay thế cổng cũ đã bị Tướng De Négrier phá sập năm 1885. Kiểu của cổng này cũng gióng kiểu các lầu canh của Vạn Lý Trường Thành, trên cổng có khắc ba chữ Trấn Nam Quan. Một cầu thang bằng đá nối từ cổng lên núi dài 377m. Năm 1953 Trung Quốc lại xây một cổng khác thay thế cổng cũ.

ai6

Ra khỏi Đồng Đăng, cờ nheo của Tàu cắm đầy trên các ngọn đồi.

Đúng như ông De St Chaffray đã tiên đoán, ra khỏi Đồng Đăng, phái đoàn đã thấy cờ nheo của Tàu cắm đầy trên các ngọn đồi. Khi phái đoàn đến, lính Tàu đứng hai bên đường phất cờ nheo chào. Vào cuộc họp, gặp ông Đặng Thừa Tu (Tseng-Tcheng-Siéou), Chủ tịch Ủy ban Trung Hoa, Pháp đánh phủ đầu ngay, đòi cắm cột mốc biên giới sát chân cổng Đại Nam Quan. Sau những cuộc tranh luận gay cấn, cuối cùng, phái đoàn Trung Hoa đồng ý cắm cột mốc biên giới chỉ cách chân ải Nam Quan 100m về phía nam, chứ không phải ở sông Kỳ Cùng, cách chân ải Nam Quan đến 18 cây số như Trung Hoa đòi hỏi. Nếu không có mưu lược và áp lực của Pháp, chúng ta đã không có biên giới Việt - Trung như ngày nay.

2. Những văn kiện pháp lý căn bản

Sau đây là những văn kiện pháp lý căn bản liên quan đến Ải Nam Quan :

- Hiệp ước Hòa bình, Hữu nghị và Thương mại (Traité de Paix, d'Amitié, et de Commerce) ngày 9/6/1885 giữa Pháp và Trung Hoa. 

- Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ngày 26/6/1887 được bổ sung bởi Công ước ngày 20/6/1895 với biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo. 

- Các biên bản và bản đồ cắm mốc thực hiện tại hai Công ước vừa nói ký kết từ ngày 15/4/1890 đến ngày 13/6/1897.

Biên bản của Ủy ban Phân định Biên giới Trung - Việt, phần phía Đông tỉnh Quảng Tây (Procès Verbal de la Commission d'Abornement de la Frontière Sino - Anamite, Section Est du Kouang Si) lập ngày 21/8/1891, được đính theo Hiệp ước Thiên Tân ngày 26/6/1887, đã ghi rõ :

"Từ Nam Quan đến Bình Nhi, cột mốc thứ nhất : trên đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng (100m về phía nam của cổng)".

"De Nam Quan à Bình Nhi, 1ère borne : sur le chemin de Nam Quan à Dong Dang (à 100m au sud de la porte)".

Nói rõ hơn, cột móc phân chia biên giới giữa hai nước đã được cắm cách ải Nam Quan 100 m về phía Nam xác định Nam Quan là của Tàu.

Khi vẻ các bản đồ quân sự vùng biên giới Việt – Trung, người Pháp và người Mỹ đều ghi Ải Nam Quan là "Porte de Chine" (Cửa của Trung Hoa hay Cửa khẩu Trung Quốc).

ai7

Lối vào Cửa của Trung Hoa và bức Đại Tường Thành

Rất nhiều hình ảnh do nhà nhiếp ảnh Pierre Dieulefils (1862-1937) của Pháp chụp về Ải Nam Quan từ 1902 – 1924 cũng đều ghi tương tự, chẳng hạn như tấm bưu thiệp mang số 111, chụp đường đi vào Ải Nam Quan, có đông người đang ra vào và ghi : "Entrée de la Porte de Chine et la grande Muraille" (Lối vào Cửa của Trung Hoa và bức Đại Tường Thành)

Lịch sử là lịch sử

Như vậy các tài liệu lịch sử chính thức cũng như các văn kiện pháp lý đều xác định Nam Quan là của Tàu, nằm ở phía Bắc đường ranh giới giữa hai nước, cách đường ranh giới 100 m.

Những phản đối, dù rất dữ dội, cũng không bao giờ trở thành bằng chứng lịch sử và pháp lý chứng minh chủ quyền về lãnh thổ. 

Đức Dalai Lama đã nói : "Lịch sử là lịch sử, và lời tuyên bố của tôi không làm thay đổi lịch sử đã qua được".

"History is history, and my statement will not change past history". 

Ngày 20/03/2014

Lữ Giang

Published in Tư liệu
vendredi, 19 octobre 2018 09:36

Khi Đồng minh đi đêm với Địch

Mới cầm quyền chưa đến hai năm, Donald Trump đã làm đảo lộn cả nước Mỹ và thế giới. 

trump1

Donald Trump tự nhận tự nhận mình là người hành động theo bản năng), không cần kế hoạch, chiến lược hay chiến thuật gì cả !

Ông Richard N. Haass, nguyên Giám đốc Hoạch định Chính sách Bộ Ngoại giao Mỹ và hiện là Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại, cho biết Trump đã gặp hay điện đàm với khoảng 130 nhà lãnh đạo trên thế giới, nhưng phần lớn họ chẳng hiểu Trump đã nói gì và muốn gì. Họ đã nói với ông : "Hãy giúp chúng tôi thấu hiểu vị tổng thống này, cho chúng tôi lời khuyên xử lý tình huống này ra sao ?". Chẳng ai dám trả lời câu hỏi đó, vì Trump đã tự nhận mình là người hành động theo bản năng (instinct), không cần kế hoạch, chiến lược hay chiến thuật gì cả !

Lãnh đạo một công ty địa ốc thì có thể làm như thế được, nhưng không thể làm như thế khi lãnh đạo nước Mỹ và thế giới. Do đó, cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ cũng như các nhà lãnh đạo ở Tòa Bạch Ốc đang kết hợp với nhau và đưa ra các biện pháp để vô hiệu hóa các quyết định và hành động của Trump có thể gây tác hại cho nước Mỹ, đợi sau bầu cử sẽ có biện pháp.

Còn người Việt đấu tranh thì sao ? Trong 43 năm qua, họ cũng thường suy nghĩ và hành động theo cảm tình (emotion) như Trump nên khi "tần số" của Trump được phát ra là họ chụp lấy ngay, và nghĩ ra một tương lai rất tốt đẹp sắp đến : "Trump là người được Thiên Chúa sai đến để cứu nước Mỹ và Việt Nam. Ông ta sẽ đánh Trung Quốc và giải phóng Việt Nam". 

Nhưng đó chỉ là hoang tưởng. Phải nhớ lại lời của Tôn Tử : "Bất tri bỉ, bất tri kỉ, mỗi chiến tất đãi", có nghĩa là "Không biết người, không biết mình, trăm trận đều thua".. Vậy cần phải nhìn lại chính mình và thế trận mà Đồng Minh và Địch đang phối trí để quyết định phải hành động như thế nào.

Não trạng phân biệt giới tuyến

Đa số người Việt tỵ nạn đều sinh ra và lớn lên trong thời chiến tranh lạnh, trong thời đại đó "não trạng phân biệt giới tuyến" (demarcation mentality) đã được tạo ra để hình thành hai khối đối đầu với nhau : Bạn và Thù hay Ta và Địch.

Talà ai và Địchlà ai ?

Ta là Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ và các quốc gia đồng minh ; Địch là cộng sản Việt Nam, Tàu, Nga và khối cộng sản. Ta tốt Địch xấu, Ta hay Địch dỡ, Ta khôn Địch dại, Ta mạnh Địch yếu, Ta thắng Địch thua... Cả hai đều nhất quyết không đội trời chung và tìm cách tiêu điệt lẫn nhau. Chủ trương "Bốn Không" của Tổng thống Thiệu cũng phát xuất từ đó. Nhưng sau đó Mỹ đã biến Bốn Không thành Hai Có : "Có thừa nhận cộng sản" và "Có nhượng đất cho cộng sản". Ngày 20/06/1972 Tổng thống Nixon đã sai Kissinger đến Bắc Kinh gặp Thủ tướng Chu Ân Lai và giao Miền Nam cho Trung Quốc, rồi lừa Tổng thống Thiệu mở các cuộc hành quân "tái phối trí" làm mất Miền Nam chỉ trong 40 ngày.

Quan niệm mới về Bạn và Thù

Năm 1991, Liên Bang Xô Viết sụp đổ, khối Cộng sản tan rã, Chiến tranh lạnh chấm dứt. Thế giới lưỡng cực -Cộng sản và Tự do - đã trở thành đơn cực : Mỹ một mình lãnh đạo thế giới. Não trạng phân biệt giới tuyến cũng thay đổi.

Carl Schmitt, một luật gia và là một nhà lý luận chính trị người Đức đã đưa ra một quan niệm mới về "sự phân biệt bạn - thù" (friend-enemy distinction) có ảnh hưởng đến sự tương quan giữa các khối cũng như các quốc gia trên thế giới : Bạn hay Thù, Ta hay Địch được thay đổi tùy theo trường hợp và giai đoạn, chứ không căn cứ và một ranh giới cố định như trước nữa.

Trường hợp tương quan giữa 5 cường quốc trên thế giới hiện nay là Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc là một thí dụ điển hình. Trong vụ tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc là kẻ thù của Mỹ, Anh và Pháp. Nga đứng ngoài. Trong vụ Ukraine, Nga trở thành kẻ thù của Mỹ, Anh và Pháp còn Trung Quốc đứng ngoài. Nhưng đối với Hiệp ước Paris về biến đổi khí hậu và Thỏa thuận hạt nhân Iran 2015, cả 5 nước đều là bạn.

Donald Trump đưa đến những tướng quan quái đản !

Sự xuất hiện của Donald Trump đầu năm 2017 đã đem đến hai tương quan chưa từng có trong lịch sử. Với hai chủ trương "Nước Mỹ trước hết" và "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại", Trump đã biến Thù thành Bạn và Đồng Minh thành Thù.

1. Coi kẻ Thù như Bạn

Hôm 7/9/2016, trong một cuộc phỏng vấn của NBC, Donald Trump khen ngợi ông Putin là nhà lãnh đạo giỏi hơn Tổng thống Mỹ Obama. Ông nói : "Tôi nghĩ tôi sẽ có mối quan hệ rất tốt với ông Putin và đồng thời có mối quan hệ rất tốt với Nga. Ông Putin kiểm soát đất nước rất mạnh mẽ. Đó là một hệ thống rất khác và chắc chắn ở hệ thống đó, ông ấy là một nhà lãnh đạo thực sự, vượt xa tổng thống của chúng ta".

Bà Nina Khrushcheva, giáo sư người Mỹ gốc Nga về quan hệ quốc tế thuộc đại học New School ở New York đã có nhận xét : "Rõ ràng là Trump mong muốn trở thành một nhà lãnh đạo quyền lực và mạnh mẽ, có thể uy hiếp đối phương chỉ bằng ánh mắt giống như ông Putin". 

Nói cách khác, Trump đang muốn lãnh đạo nước Mỹ theo phương thức Putin đang lãnh đạo nước Nga. Thấy Trump đã vào đúng tần số, hôm 17/06/2017 Putin gọi tỷ phú Trump là một người "đa sắc" và hoan nghênh đề xuất "khôi phục hoàn toàn" mối quan hệ Nga - Mỹ của Trump.

Trước tình trạng này, cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ đã soạn thảo một đạo luật trừng phạt Nga lấy cớ là Nga đã can thiệp vào cuộc bầu cử Mỹ 2016, để chận đứng sự thỏa hiệp giữa Trump và Putin. Ngày 25/07/2017 Hạ viện đã thông qua dự luật này với 419 phiếu thuận và 3 phiếu chống. Hai ngày sau, ngày 27/07/2017 Thượng viện cũng thông qua với 98/2 phiếu. Trump định phủ quyết, nhưng các cố vấn cho ông biết tỷ số chấp thuận dự luật là tuyệt đối nên không thể phủ quyết được. Ngày 2/8/2017 Trump đành phải ký ban hành luật này. Tình nghĩa Trump - Putin bổng ra mây khói !

2. Biến Đồng Minh thành Kẻ Thù số 1

Trump là một con buôn bất động sản, gần như không biết gì về kinh tế vĩ mô (macroeconomy) nên nghĩ rằng thâm thủng mậu dịch giữa Mỹ và các quốc gia khác, nhất là với Liên Hiệp Âu Châu, Trung Quốc, Canada, Mexico, Nhật... là một hình thức ăn cắp của Mỹ nên ông nhất quyết lấy lại bằng cách phá bỏ tất cả các hiệp ước thương mại quốc tế hiện nay và ký lại với từng nước theo các điều kiện áp đảo của Mỹ. Mặc dầu các chuyên gia đã cho ông biết thâm thủng mậu dịch còn mang những ý nghĩa khác, nhưng Trump nhất định làm.

Liên Âu gồm 28 nước, vốn là đồng minh chí cốt và lâu đời nhất của Mỹ nay bị Trump coi là kẻ thù số 1. Trong cuộc phỏng vấn của CBS News được phát sóng hôm 15/07/2018, Donald Trump tuyên bố :

"Tôi nghĩ chúng tôi có rất nhiều kẻ thù. Liên Hiệp Châu Âu (EU) là kẻ thù vì những gì họ làm với nước Mỹ trong thương mại. Có thể bạn không nghĩ tới nhưng họ là kẻ thù".

Còn Trung Quốc tuy có thâm thủng lớn nhất và Nga lại được Trump xếp vào hàng thứ yếu :

"Nga là kẻ thù ở một số khía cạnh nào đó. Trung Quốc là kẻ thù kinh tế, chắc chắn họ là kẻ thù. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là họ xấu mà chỉ mang nghĩa họ là đối thủ cạnh tranh. Họ muốn làm tốt và chúng tôi cũng vậy".

Dĩ nhiên, các quốc gia bị áp lực đều không chấp nhận các điều kiện của Trump đưa ra. Họ đòi Trump phải tôn trọng các nguyên tắc vận hành của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) đã được 164 quốc gia ký kết, trong đó có Hoa Kỳ.

Bà Merkel, Thủ tướng Đức nói : "Liên Âu sẽ không đàm phán với một khẩu súng dí vào đầu". Còn phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc là Cảnh Sảng tuyên bố Bắc Kinh sẽ không tham gia đàm phán kiểu "tự sát" như vậy. Ông Philippe Martin, Chủ tịch Hội đồng Phân tích Kinh tế của Liên Âu cảnh báo ý đồ phá vỡ các nguyên tắc đa phương của Donald Trump. Bà Agnès Benassy-Quéré, chuyên gia kinh tế và giáo sư đại học Paris-I cho rằng Donald Trump muốn làm tan rã Liên Âu.

Trump bỏ rơi Biển Đông

Sau khi nhận chức, ngày 23/01/2017 Trump tuyên bố rút khỏi hiệp định TPP và ngày 14/03/2013 tuyên bố "chính thức chấm dứt chính sách xoay trục" về Biển Đông. Lợi dụng sự rút lui của Hoa Kỳ, Trung quốc đã phát triển một cách nhanh chóng về cả quân sự lẫn kinh tế ở Biển Đông và Đông Nam Á. Phần lớn các nước Châu Á Thái Bình Dương đã bỏ Mỹ đi theo Trung Quốc.

Bị phản đối dữ dội, ngày 30/07/2018 Trump đã cho Ngoại trưởng Mike Pompeo công bố thành lập"Vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương tự do và mở rộng" với một gói đầu tư trị giá 113 triệu USD để xây dựng hạ tầng cơ sở. Nhưng không ai tin rằng với số đầu tư nhỏ bé đó các nước Nam Thái Bình Dương sẽ từ bỏ Trung Quốc và quay về với Mỹ. Hiện nay Trung Quốc đang bỏ ra hơn 1.000 tỷ USD để đầu tư và xây dựng đường sắt, đường cao tốc và cảng nối liền Châu Á và Châu Âu.

Trước tình thế này, hôm 3/10/2018 tướng James Mattis Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ra lệnh cho Hải quân Hoa Kỳ lên kế hoạch tổ chức một tuần thao diễn quân sự tại Biển Đông và eo biển Đài Loan, để cảnh cáo Trung Quốc và trấn an các quốc gia trong vùng. Còn Phó Tổng thống Mike Pence tuyên bố : "Mỹ sẽ không để bị hù dọa tại Biển Đông". Nhưng hôm 14/10 Trump lại bắn tiếng rằng ông Mattis là người của đảng Dân chủ, ông ấy có thể ra đi... Tướng Mattis là người thường hay chống lệnh của Trump như lệnh rút quân khỏi Syria hay lệnh hủy bỏ xoay trục về Biển Dông. Ông tuyên bố sẽ không ra đi.

Người Việt đấu tranh đi về đâu ?

Khác với các cộng động di dân khác, cộng đồng người Việt hải ngoại, nhất là tại Hoa Kỳ, thường tự coi mình là cộng đồng đấu tranh chính trị, có nhiệm vụ giải phóng Viêt Nam khỏi chế độ cộng sản ở trong nước. Vì thế cộng đồng này thường được tổ chức và sinh hoạt giống các tổ chức chính trị và có những đặc điểm chính sau đây :

1. Vẫn ôm chặt não trạng phân biệt giới tuyến

Mặc dầu chiến tranh lạnh đã qua, cho đến nay, đa số người Việt đấu tranh vẫn ôm chặt não trạng phân biệt giới tuyến của thời đó : Ta là Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ và các quốc gia đồng minh ; Địch là cộng sản Việt Nam, Tàu, Nga và khối cộng sản.

Ngay trong sinh hoạt của nước Mỹ, não trạng phân biệt giới tuyến cũng được nhiều người Việt đấu tranh dùng để phân biệt giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa. Khi đến Mỹ, đa số người Việt đã ghi danh theo Đảng Cộng hòa vì cho rằng Đảng này chống cộng. Còn Đảng Dân chủ bị coi là đảng thiên tả, tức theo cộng sản !

Theo sử liệu, lúc đầu hai đảng Dân chủ và Cộng hòa là một với một tên gọi chung là Đảng Dân chủ - Cộng hòa (Democratic - Republican Party), được thành lập năm 1791 để đối lập với Đảng Liên bang (Federalist Party) trong các cuộc bầu cử. Năm 1812 Đảng Liên bang tan rã, Đảng Dân chủ - Cộng hòa được chia thành hai đảng là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa để bảo vệ dân chủ, không cho nước Mỹ trở thành một chế độ độc đảng và độc tài như trong các chế độ cộng sản.

Luật bầu cử Hoa Kỳ cho phép cử tri, khi bỏ phiếu có quyền bầu cho bất cứ ai, không bắt buộc phải bỏ phiếu cho người của đảng mình. Tiêu chuẩn để chọn thường không phải là đảng phái mà là tư cách, khả năng, đường lối và tinh thần phục vụ của ứng cử viên.

Não trạng của người Việt bắt đầu thay đổi dần. Năm nay, số cử tri người Mỹ gốc Việt ở Orange County, thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa nối dài, có khoảng 100.000 người, trong đó có 29,5% theo Đảng Dân chủ, 32% theo Đảng Cộng hòa, và 35% không theo đảng nào.

Niềm tin vào Đảng Cộng hòa đã dâng cao khi Donald Trump lên nắm chính quyền. Tuy nhiên, vì tỷ lệ cử tri người Mỹ gốc Việt quá thấp, khoảng 0,5%, nên những nỗ lực của người Việt ảnh hưởng rất ít đến các cuộc bầu cử cấp liên bang.

2. Nuôi dưỡng một chế độ Chống Cộng Giống Cộng

Vốn đi ra từ trong chế độ cộng sản, nhiều người Việt đấu tranh chống cộng sản lại thích hình thành ở hải ngoại một chế độ giống chế độ cộng sản ở trong nước.

Ở trong nước, những ai nói hay làm gì trái với chế độ đều bị coi là phản động, sẽ bị truy tố và trừng phạt về "tội tuyên truyền chống Nhà nước" hay "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân".

Ở hải ngoại, ai nói hay làm khác những người tự xưng là chống cộng hay đe dọa "chỗ đứng" của họ đều bị kết án là "tay sai cộng sản" hay "đặc công cộng sản nằm vùng". Do đó, khi Luật sư trẻ Trần Kiều Ngọc vừa tuyên bố : công việc của tôi "không phải là chống cộng" mà là "chống cái ác"... Tiếng la hét đã vang lên. Vì thế, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, gần như ở đâu cũng thấy có Nón Cối.

Một "đạo luật" hà khắc và vượt lên trên cả Hiến pháp và luật pháp Hoa Kỳ đã được công bố : "Không nói, không viết, không làm những gì có lợi cho công sản. Diệt Việt gian trước, Việt cộng sau". Ai làm khác đều bị coi là "thi hành Nghị quyết số 36" của Đảng cộng sản Việt Nam.

Vì quyền tự do ngôn luận được Tu chính án số 1 của Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm đã bị tước đoạt, nên chúng ta thấy có đến 80% các bài "bình luận chính trị" trên các cơ quan truyền thông Việt ngữ hàng ngày đều là những bài tố cộng, từ anh lớp 3 trường làng đến anh ghi danh là tiến sĩ đều viết như nhau và đi tới một kết luận gióng nhau : "Chúng nó gian ác, chúng nó ngu dốt, chúng nó bán nước, chúng nó thất bại, chúng nó sắp sụp dỗ rồi", v.v.

Đây là một khuôn mẫu viết bình luận thường được gọi là "quốc văn giáo khoa thư chống cộng". Những phân tích và bình luận dựa trên sự thật khách quan ít khi được tìm thấy.

Khi Đồng minh và Địch đi đêm với nhau

Từ ngày qua Mỹ đến nay, đa số người Viêt vẫn tin Mỹ chống Cộng và tôn trọng Nhân quyền nên bị CIA dùng làm công cụ. Khi Kháng chiến mới được phát động thì Mỹ lập bang giao với Việt Nam và ra lệnh bỏ chiến khu, trở về thành lập "xã hội dân sự" để "đấu tranh chính trị". Phải công nhận Đảng Việt Tân đã tiến hành công tác này rất xuất sắc. Đùng một cái, Mỹ tuyên bố "đối tác toàn diện" với Việt Nam và ra lệnh cho Việt Tân đi chỗ khác chơi.

trump2

Đã đến lúc cộng đồng người Việt phải ủng hộ các phong trào đấu tranh tư tưởng và chính trị trước rồi mới hành động sau

Bây giờ Mỹ đang biến cộng sản Việt Nam thành một "Tiền đồn chống Trung Quốc ở Đông Nam Á" nên viện trợ cho Việt Nam cả về kinh tế lẫn quân sự. Nhưng cũng như Nga, Trung Quốc và các đồng minh của Mỹ, Đảng cộng sản Việt Nam vẫn do dự không muốn đưa ra những cam kết dứt khoát vói Mỹ, vì nghĩ rằng với tính bất định, sáng nắng chiều mưa của Donald Trump, chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Trong năm nay, tướng Mattis, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, phải đến Việt Nam hai lần. Lần này tướng Mattis đã xác định với Việt Nam về chính sách "trước sau như một" của Mỹ dù có Trump hay không có Trump, và hứa sẽ tiến hành công tác tẩy chất độc Da Cam cho Việt Nam bắt đầu từ năm tới. Đây là một yêu cầu mà Việt Nam đã đưa ra từ sau chiến tranh nhưng vẫn không được Mỹ chấp thuận. Liên Hiệp Châu Âu cũng xúc tiến nhanh hiệp ước thương mại với Việt Nam. Trước những tiến bộ đó, Việt Nam có vẽ đang mạnh dạn nghiêng phía Mỹ hơn. 

Hình như hai bên cũng đã thảo luận về vấn đề can thiệp của Mỹ vào các cuộc đấu tranh ở trong nước và Mỹ đồng ý đưa ra khỏi nước các thành phần "bất khả trị" của Việt Tân đã bị nhận diện và bị bắt. Vì thế, nhà cầm quyền đã không còn nương tay với các phong trào đấu tranh ở trong nước. Hôm 5/10/2018, Tổ chức Ân Xá Quốc tế cho biết số tù nhân lương tâm bị bắt giam ở trong nước đến nay đã lên đến 246 người, bao gồm 219 người đã bị kết án. Con số này đang tăng lên mỗi ngày.

Có thể coi đây là một trong những giai đoạn khó khăn của người Việt đấu tranh ở trong cũng như ngoài nước. Nếu người Việt đấu tranh không đổi phương thức hoạt động và thận trọng, có thể bị biến thành công cụ hay con bài thí giống như những lần trước đây.

Ngày 19/10/2018

Lữ Giang

Published in Diễn đàn

Ông Lê Xuân Nhuận, một người chuyên đả kích Công giáo và chính phủ Ngô Đình Diệm, cho phổ biến cuốn "Những ngày bên Ngô Đình Diệm" của Văn Bia trên diễn đàn của Phật Giáo (Cette adresse e-mail est protégée contre les robots spammeurs. Vous devez activer le JavaScript pour la visualiser.), tôi đoán ngay anh này lại định chơi trò ném đá giấu tay nữa rồi, mượn Văn Bia để đánh phá. Quả đúng như vậy. Anh ta đã trích toàn những đoạn xuyên tạc lịch sử để bêu xấu ông Diệm và Công giáo. Đây là những chuyện hoàn toàn bịa đặt.

ngo1

Sách "Những ngày bên Ngô Đình Diệm" của Lê Văn Bia

Những chuyện Văn Bia viết trong phần "IIa. Giai đoạn 1947…", như sau :

1. Chuyện ông Diệm ở Dòng Chúa Cứu Thế Huế

Văn Bia viết :

"Riêng ở Việt Nam, ông Ngô Đình Diệm đã nương thân trong nhà dòng Chúa Cứu Thế tại Huế trước khi tá túc trong nhà dòng ở Sài Gòn, và lần ở ngoài đó ổng đã lâm cảnh khốn đốn đến nỗi phải đội lốt ông già gánh cháo heo để thoát thân. Lần nào cũng vào lúc tôi có mặt tại chỗ mà không để ý" (trang 31)...

"Sau đó không bao lâu, cha Yến đưa tôi tới ông Diệm, nói là cụ Diệm muốn gặp tôi và cha khuyên tôi nên làm việc giúp cụ. Cuộc diện kiến diễn ra tại phòng ông Diệm trọ trong nhà dòng....

"Và càng ngạc nhiên hơn, là sau đó ông Diệm lại thâu dùng tôi, thường chuyện vãn với nhau thân mật. Nhiều lần ông còn nói với tôi :

- Anh làm thư ký cho tôi hỉ ?...".

Láo :

Ở Huế ông Diệm luôn ở nhà ông Ngô Đình Khả ở Phủ Cam chứ không bao giờ ở Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Gia đình ông Diệm thuộc loại giàu có ở Huế, có ruộng vườn làm nguồn lợi. Từ ngày ông thôi chức Thượng thư, đi đâu cũng đi bằng xe kéo có vài người đi theo. Ông Võ Văn Hải và ông Võ Như Nguyện thường được ông Diệm sai đi chuyện nọ chuyện kia. Ông Hải theo ông Diệm từ hồi còn làm Tuẫn Vũ, qua Pháp học đậu về Science Politique, trở về vẫn theo ông Diệm. Ông Võ Như Nguyện là giáo sư, từng giữ chức Giám Đốc Công An Trung Phần.

Ông Diệm chẳng bao giờ "lâm cảnh khốn đốn đến nỗi phải đội lốt ông già gánh cháo heo để thoát thân" như Văn Bia bịa đặt.

2. Chuyện ông Diệm ở Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn

Văn Bia viết :

"Nhà dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng Sài Gòn là nơi tôi gặp ông Ngô Đình Diệm lần đầu tiên vào khoảng năm 1947, trong một căn phòng nhỏ mà trước đó vài năm, chính tôi cũng đã có tạm trú đôi ngày, để chờ chuyến xe lửa ra Huế, đi học tu trở lại lần thứ hai…

"Ông Diệm ở ẩn trong một căn phòng, sống đời yên lặng của một tu sĩ, cũng luôn luôn mặc áo dài thâm quần trắng. Có ai tình cờ gặp chắc cũng tưởng đây là một người trong nhà dòng…

"Tôi hình dung cách ông được tiếp đãi ở đó giống như trước kia tôi đã hưởng qua trong mấy ngày, như vào giờ cơm được một thầy giúp việc mang ẩm thực đến, có chuông bấm gọi mỗi khi cần việc gì, v.v…

"Nhưng tôi nào biết nhà dòng cũng đang có cho ông Diệm nương náu, và cũng không rõ ông đã đến ẩn náu trong nhà dòng trước hay sau tôi… (các trang 21-22).

Láo :

Ngày 15/07/1944 mật thám Pháp bắt đầu đến vây nhà ông Khả ở Phủ Cam, Huế, để bắt ông Diệm, thấy chiếc xe kéo còn trước sân nên tin rằng ông Diệm vẫn còn trong nhà. Biết đang bị Pháp vây, trong nhà cho ông Trưng ra đứng bên xe giả như đang đợi đưa ông Diệm ra đi, rồi ông Diệm mặc bộ áo bà ba lụa cùng với ông Hoàng Văn Phẩm đi ra cửa sau phía đường Phan Châu Trinh và qua cầu Phủ Cam. Mật thám Pháp gác hai bên cầu, nhưng không nhận ra ông Diệm vì họ không ngờ ông đi bộ. Cả hai giả nói chuyện về làm vườn và đi đến phía nhà ông Lãnh sự Nhật gần Dòng Chúa Cứu Thế Huế. Ông Phẩm cho biết ông Diệm đã vào nhà ông lãnh sự Nhật và ở đó ba ngày, rồi ngày 17/07/1944 Trung úy Kuga của Nhật đưa ông Diệm vào Đà Nẵng và lấy máy bay đưa ông Diệm đi Sài Gòn, rồi đưa ông đến ở trong trường Petrus Ký với vài nhà cách mạng khác, nơi đây đang bị Nhật chiếm làm căn cứ quân sự... Ít lâu sau, ông Diệm đi về Vĩnh Long ở với Giám mục Ngô Đình Thục, chớ không ở Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Chính Giám mục Thục đã tìm cách giúp ông Diệm liên lạc với các nhà cách mạng để thành lập các tổ chức chống Pháp.

Tháng 8 năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền ở Huế, các nhà cách mạng nhờ ông Diệm đi về Huế xem tình hình ra sao. Ông Diệm đi với ông Võ Văn Hãi đến Tuy Hòa thì vào cư ngụ tạm tại nhà Linh mục Đại. Việt Minh biết được đã đến bắt ông Diệm đưa ra Hà Nội. Võ Nguyên Giáp định đưa ông Diệm đi giam ở Tuyên Quang. Giám mục Lê Hữu Từ được tin đã đến can thiệp với Hồ Chí Minh. Ông Diệm được thả ra, đã lén về lại Vĩnh Long và tiếp tục hoạt động.

Giữa năm 1947, ông Ngô Đình Diệm và ông Nguyễn Tôn Hoàn thành lập Việt Nam Quốc gia Liên hiệp và ông Diệm thường về Sài Gòn họp. Mỗi lần lên Sài Gòn ông thường tạm trú tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Phải chăng đây là chuyện Văn Bia đã dựa vào đó để bịa đặt thêm ?

3. Chuyện ông Ngô Đình Diệm ở Mỹ

Văn Bia viết :

"Trong thời gian lưu vong ở Hoa Kỳ (1950-53), ông lặng lẽ sống suốt mấy năm nữa trong một nhà dòng khác, cũng làm người giúp việc khiêm nhường, hằng ngày lau quét dọn dẹp. Trong khi đó, ông vua cũ của ông là Bảo Đại lưu vong ở Hương Cảng rồi Pháp, sống đời trụy lạc".

Láo :

Để tránh sự theo dõi của Pháp, nhân dịp Năm Thánh năm 1950, ông Diệm và Dức Giám mục Ngô Đình Thục đã xin đi Roma dự Năm Thánh, nhưng