Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

vendredi, 01 septembre 2017 04:21

Người Chăm 5 - Thời kỳ xung đột

Người Chăm tại Việt Nam

Bài 5

Thời kỳ xung đột

Biến cố Đại Cồ Việt, năm 939, thay đổi hẳn tương quan lực lượng giữa các thế lực trong vùng.

cham15

Vết tích của một thời vàng son : Thánh địa Mỹ Sơn (Amavarati)

Do chưa bao giờ là một định chế chính trị có tổ chức, các vương quyền người Việt chọn khuôn mẫu Trung Hoa để quản trị đất nước. Với thời gian, chọn lựa này vô tình quyết định luôn chỗ đứng của hai nền văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ trong khu vực ; người Pháp đặt tên vùng đất này là bán đảo Ấn Hoa (Indochine), không phải là Đông Dương (Biển Đông) như chúng ta dịch lại. Người Pháp còn đặt tên Nam Kỳ (miền Nam) là Cochinchine, sự ghép tên của một thành phố ở miền Nam Ấn Độ, Kochi (hay Cochin) với Trung Hoa (Chine).

Cũng do chưa bao giờ là một thế lực hùng mạnh có thể bành trướng sang Trung Hoa, người Việt thường tiến về phía Nam để tránh nạn khi có nội chiến, hay tìm đất mới để khai phá. Cuộc Nam tiến tuy không rầm rộ nhưng tiệm tiến này đã thu hẹp dần lãnh thổ của người Chiêm Thành, để rồi mất hẳn dưới thời Gia Long. Và cũng do vị trí địa dư đặc biệt, tranh chấp Bắc-Nam và nhu cầu thống nhất lãnh thổ và đất nước đã xảy từ thời vương quốc Chiêm Thành chứ không phải mới đây giữa người Việt Nam với nhau.

Triều vương thứ bảy (991-1044) : vương triều Vijaya

Năm 989 Lưu Kỳ Tông, một người Kinh tự nhận là vua lãnh thổ Chiêm Thành phía Bắc từ năm 983, bị Bằng Vương La (Cu-thì-lợi Hà-thanh-bài Ma-la), một vương tôn Chăm phía Nam, nổi lên lật đổ và được dân chúng tôn lên làm vua, hiệu Harivarman II (Dương-to-pai hay Dương Đà Bài). Harivarman II xưng vương tại Phật Thành (Vijaya), nhưng tổ chức vương quyền vẫn đặt tại Indrapura (Đồng Dương), ý muốn đề cao nguồn gốc thần quyền của ông từ bộ tộc Dừa.

Harivarman II được nhiều sử gia xác nhận là người sáng lập vương triều thứ bảy của Chiêm Thành.

Năm 990, một người Việt tên Dương Tiến Lộc - làm quan quản giáp đi thu thuế tại châu Ái và châu Hoan (Thanh Hóa, Nghệ An) - hô hào người Kinh và Chăm nổi lên chống lại nhà Lê. Dương Tiến Lộc có yêu cầu Harivarman II giúp đỡ nhưng bị từ chối. Hay tin có phản loạn, Lê Đại Hành liền mang quân vào đánh dẹp, Dương Tiến Lộc cùng những người phản loạn bị giết chết, hơn 360 tù binh Chăm bị bắt mang về miền Bắc, một số được tuyển làm nài điều khiển voi trong binh lực nhà Lê.

Năm 992, quan hệ giữa nhà Lê và vương triều Vijaya trở nên bình thường và, để tỏ lòng biết ơn Harivarman II từ chối không ủng hộ cuộc phản loạn của Dương Tiến Lộc, Lê Đại Hành trả tự do cho hơn 300 tù binh Chăm về nước.

Cũng nên biết làn ranh phân chia Đại Cồ Việt và Chiêm Thành trong giai đoạn này được xác định tại đèo Ngang, tức địa phận Di Luân, gần cửa sông Gianh (Quảng Bình). Cùng thời gian này, quan hệ giữa Chiêm Thành và Trung Hoa trở nên bình thường, Harivarman II được nhà Tống công nhận, hai bên trao đổi nhiều phẩm vật quí giá. Nhân dịp này Harivarman II yêu cầu vua Tống giao trả những người Chăm tị nạn tại Quảng Châu trước đó (986-988) về lại Chiêm Thành.

Mối giao hảo thân thiết giữa Chiêm Thành và Trung Hoa không làm vua Lê hài lòng. Năm 994, Lê Đại Hành cho người vào Viyaja yêu cầu Harivarman II triều cống nhưng bị từ chối, vua Lê liền cất quân sang đánh. Quân Chiêm tuy có đẩy lui được cuộc trừng chinh này nhưng hao tổn cũng khá nhiều, Harivarman II chấp nhận sẽ triều cống trở lại. Nhưng Lê Đại Hành yêu cầu phải triều cống tức khắc và buộc Harivarman II phải đích thân sang bái kiến mới vừa lòng. Vua Chiêm liền sai một thân tín tên Chế Đông sang thay mặt, Lê Đại Hành trách là vô lễ ; Harivarman II phải sai cháu là Chế Cai sang chầu và hứa sẽ không quấy phá vùng biên giới nữa mọi việc mới yên. Tuy vậy trong những năm 995 và 997, do thiếu đói vì mất mùa quân Chiêm có tràn sang cướp phá một số làng xã dọc vùng biên giới rồi rút về liền. Lê Đại Hành cũng chỉ củng cố lại một số địa điểm phòng thủ chứ không trả đũa ; một số gia đình nông dân nghèo gốc Kinh được đưa vào lập nghiệp trên một phần lãnh thổ Bắc Chiêm Thành, sau này có tên là Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh.

Năm 999, Harivarman II mất, con là Po Alah (Po Ovlah hay Âu Loah) - một tín đồ Hồi giáo trung kiên đã từng sang La Mecque hành hương - lên thay, hiệu Yanpuku Vijaya (Dương-phổ-cu Bi-trà-xá-lợi). Trung tâm quyền lực đặt tại Vijaya, tức thành phố Chiến Thắng (còn có tên là Phật Thệ, Phật Thành hay Chà Bàn, Đồ Bàn, nay là thị trấn An Nhơn). Toàn bộ vương tộc tại Indrapura (Đồng Dương) được đưa về Sri Bini (Qui Nhơn) định cư, vì nơi này ít bị uy hiếp hơn khi có chiến tranh.

Dưới thời Yanpuku Vijaya (999-1010), đạo Hồi cùng với đạo Bà La Môn phát triển mạnh mẽ. Tân vương tổ chức lại quân đội và cử nhiều phái đoàn sang Trung Hoa thông sứ với hy vọng được nhà Tống bảo vệ khi bị Đại Cồ Việt tấn công.

Năm 1005, hay tin Lê Đại Hành mất, Yanpuku Vijaya mang quân tấn công Đại Cồ Việt, lúc đó do Lê Long Đĩnh (1005-1009), một hôn quân, cai trị. Hai bên giữ thế giằng co, bất phân thắng bại trong 40 năm (1005-1044).

Yanpuku Vijaya mất năm 1010, Sri Harivarmadeva lên thay, hiệu Harivarman III. Tân vương cai trị đến năm 1018 thì mất, Chế-mai-pa Mộ-tài (Chemeipai Moti) lên thay, hiệu Paramesvaravarman II.

Trong lãnh thổ người Kinh, Lý Công Uẩn lật đổ nhà Lê, thành lập nhà Lý (năm 1010), hiệu Thái Tổ, đổi quốc hiệu là Đại Việt.

E ngại uy dũng và mến mộ đức độ của Lý Thái Tổ, Chiêm Thành và Chân Lạp cử người sang triều cống. Giao hảo giữa Chiêm Thành và Đại Việt rất là tốt đẹp, nhưng chỉ kéo dài được mười năm. Năm 1020, do mất mùa và đói kém, quân Chiêm Thành tiến chiếm hai châu Bố Chánh và Ma Linh (Quảng Bình). Năm 1021, thái tử Phật Mã, trưởng nam của Lý Thái Tổ, chiếm lại hai châu bị mất. Năm 1026, quân của thái tử Phật Mã chiếm luôn châu Điền (Thừa Thiên).

Lý Thái Tổ mất năm 1028, Phật Mã lên thay, xưng hiệu Thái Tôn. Vua Chiêm Thành không những không chịu thông sứ với Đại Việt mà còn xua quân đánh phá các làng ven biển tại châu Điền, châu Ái (Thanh Hóa) và châu Hoan (Nghệ An). Sau khi củng cố lại lực lượng tại châu Hoan, Lý Thái Tôn sát nhập ba châu Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh vào lãnh thổ Đại Việt và cử võ quan vào trấn thủ.

Năm 1030, Paramesvaravarman II qua đời, triều đình Viyaja rối loạn. Một vương tôn tên Chế Li (Cheli) tiếm ngôi, xưng hiệu Vikrantavarman IV. Nội chiến liền xảy ra, rất là khốc liệt. Con cháu Paramesvaravarman II nổi lên chống lại.

Năm 1038, con Vikrantavarman IV là hoàng tử Địa Bà Thích cùng với một số thủ hạ trong binh đội địa phận Bố Chánh (hơn 100 người do các tướng Bố Cả, Lan Đồ Thích, Lạc Thuẩn, La Kế và A Thát Thích chỉ huy) nổi lên giành ngôi với vua cha nhưng không thành, phải chạy vào Đại Việt xin tị nạn. Tại đây Địa Bà Thích hai lần xin nhà Lý (1039 và 1040) đưa về làm vua, nhưng không được chấp nhận.

Trước đe dọa của chính con mình, năm 1401 Vikrantavarman IV - sau khi liên minh được với vương quốc Angkor là vua Surayavarman I - yêu cầu nhà Lý giao hoàng tử Địa Bà Thích phản nghịch về xử tội, nhưng không thành. Quân Chăm liền tấn công Đại Việt, Vikrantavarman IV bị giết ngay trong trận đầu, con là thái tử Sạ Đẩu (Po Tik) lên thay, hiệu Jaya Sinhavarman II. Tân vương sai sứ sang Trung Hoa xin vua Tống tấn phong đồng thời cũng xin được bảo vệ, nhờ đó được yên bình vài năm. Năm 1043, quân Chiêm dùng thuyền đổ bộ vào một số làng xã ven biển đánh phá và chỉ rút lui khi quân Lý tiến tới.

Năm 1044, viện cớ Chiêm Thành không chịu triều cống từ hơn 16 năm qua và còn quấy rối lãnh thổ, Lý Thái Tôn dẫn đầu một đại binh gồm 10.000 thủy quân xuống đánh. Jaya Sinhavarman II vừa tổ chức phản công vừa cho người sang Trung Hoa cầu cứu. Quân Chiêm chận quân Đại Việt tại phía nam sông Thu Bồn (Quảng Nam) nhưng bị thua to : gần 30.000 binh sĩ và hơn 60 voi trận phơi thây trên chiến trường, hơn 5.000 quân Chiêm và 30 voi trận bị bắt sống. Jaya Sinhavarman II cũng bị tử thương trong trận này, tướng Quách Gia Gi (Isvaras) liền cắt lấy đầu mang sang trại vua Lý làm lễ vật xin hàng. Lý Thái Tôn thấy quân Chiêm bị giết quá nhiều liền ra lệnh không cho binh sĩ giết người vô cớ. Quân Đại Việt tiếp tục tiến xuống phía Nam, chiếm đế đô Phật Thệ (Vijaya hay Đồ Bàn), bắt được vương phi Mỹ Ê cùng nhiều cung nữ và nghệ nhân mang về đất Bắc.

Trên đường về nước, khi đến sông Lý Nhân (sông Hương), Lý Thái Tôn cho người mời Mỹ Ê sang chầu nhưng bà nhảy xuống sông tự tử để giữ tiết với chồng. Quý mến sự thủy chung này, vương phi Mỹ Ê được Lý Thái Tôn phong tước Hiệp chánh hộ thiên và cho lập đền thờ. Những tù binh Chiêm Thành sau đó được cấp ruộng đất và cho định cư tại Hưng Hóa (Nghệ An) trong hai xã Vĩnh Khương và Đăng Châu. Nông dân Đại Việt cũng di cư vào các vùng đất mới tại Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh lập nghiệp.

Trong số tù binh Chăm có một thiền sư Phật giáo tên Thảo Đường. Tăng sư Thảo Đường lập ra phái Thiền tông thứ ba tại Đại Việt. Nhiều chùa Phật giáo Tiểu Thừa tại miền Bắc Việt Nam (chùa Vạn Phúc ở Bắc Ninh, chùa Thiên Phúc ở Sơn Tây) do nhân công gốc Chăm xây dựng. Thợ Chăm dạy cho thợ Đại Việt cách đúc tượng Phật và xây cất chùa kiểu Ấn Độ. Nghệ nhân Chiêm Thành dạy cho các cung nữ triều đình nhà Lý các điệu nhạc Chiêm Thành (các điệu nam ai, nam oán...).

cham11

Sơ đồ lãnh thổ Champa trong thế kỷ 11

Triều vương thứ tám (1044-1074) : loạn sứ quân

Quách Gia Gi là một vương tôn thuộc đẳng cấp Ksatriya (chiến sĩ). Sau khi đầu hàng nhà Lý, ông được triều thần tôn lên làm vua năm 1044, hiệu Jaya Paramesvaravarman I. Trước một đất nước bị kiệt quệ vì chiến tranh, Quách Gia Gi một mặt phải giao hảo tốt với Trung Hoa và Đại Việt để được yên thân, mặt khác tập trung sức lực còn lại bình định loạn lạc ở phía nam.

Trước kia, theo thỏa hiệp giữa Vikrantavarman IV và Surayavarman I (vương quốc Angkor), quân Khmer vào giúp Chiêm Thành dựng trại tại Panduranga, khi Vikrantavarman IV mất quân Khmer không những không chịu rút quân về mà còn muốn chiếm giữ luôn lãnh thổ Panduranga.

Năm 1050, viện cớ một tiểu vương tại Panduranga không tuân phục triều đình trung ương, Jaya Paramesvaravarman I cùng cháu là hoàng thân Yavaraja Mahasenapati mang quân chinh phạt và cũng nhân dịp đánh đuổi quân Khmer ra khỏi lãnh thổ.

Tiểu vương Panduranga thua trận, một số binh sĩ và dân chúng đất Pănrăn (Phan Rang) phải trốn trong các hầm đất, hang động hoặc chạy lên núi trốn, một số khác chạy theo quân Khmer về bên kia biên giới lánh nạn. Toàn bộ tài sản, súc vật của dân chúng Pănrăn bị tịch thu mang về Vijaya làm chiến lợi phẩm ; những tù binh bị mang về làm nô lệ và hạ xuống làm đẳng cấp Sudra. Tiểu quốc Panduranga bị đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của triều đình trung ương Vijaya.

Trong giai đoạn này, người Chăm chạy loạn lên Tây Nguyên (đặc biệt là cao nguyên Đắc Lắc) lánh nạn một số đã ở lại định cư vĩnh viễn, hòa trộn với những nhóm dân cư có trước để thành người Rhadé.

Dẹp xong loạn phía Nam, Jaya Paramesvaravarman I xây dựng lại đất nước. Nhà vua cho dựng lại các tượng đài bằng đá hoa cương trong tháp Po Nagar, cấp cho những vị tu sĩ giữ đền 50 nô lệ Chăm, Khmer, Hoa, Miến, Xiêm, 15 cân vàng, 15 cân bạc, và nhiều vật dụng quí giá khác. Nhà vua mất năm 1060, con trai trưởng lên kế vị hiệu Bhadravarman III, trị vì được một năm (1060-1061) thì mất.

Năm 1061, em trai của Bhadravarman III là Chế Củ lên thay, hiệu Rudravarman III. Rudravarman III là một người tinh khôn, một mặt giao hảo bình thường với nhà Lý để tránh bị nghi ngờ, mặt khác chuẩn bị quân sĩ tiến đánh Đại Việt. Năm 1068, Rudravarman III mang quân đánh vào các làng của người Việt tại Ma Linh và Địa Lý, quân Lý thua phải rút lên phía Bắc.

Năm 1069, Lý Thánh Tôn (lên ngôi năm 1054) cùng Lý Thường Kiệt mang 30.000 quân và 200 chiến thuyền tiến chiếm Sri Bini (Qui Nhơn), rồi đế đô Vijaya (Bình Định), giết tướng giữ thành là Bố Bì Đà La trên sông Tu Mao (nay là Hà Giao). Rudravarman III băng rừng chạy sang Chân Lạp tị nạn. Tại đây hoàng gia Chăm bị người Khmer bạc đãi, Rudravarman III về lại Vijaya chịu cho quân Đại Việt bắt sống, cùng với 3.000 quân và gia quyến, hơn là qui thuận Angkor. Tuy vậy thành Vijaya vẫn bị quân Đại Việt tràn vào đốt phá trước khi rút về nước. Dân số Vijaya lúc đó được ghi nhận là hơn 2.560 gia đình. Để chuộc lại tự do, Rudravarman III xin dâng ba tỉnh phía bắc Chiêm Thành gồm Bố Chánh (hay Bố Chính), Địa Lý và Ma Linh (Quảng Bình và bắc Quảng Trị ngày nay). Lãnh địa Indrapura bị xóa tên và trở thành ba tỉnh của Đại Việt. Nhà Lý đổi tên Ma Linh thành châu Minh Linh, Địa Lý thành châu Lâm Bình, châu Bố Chánh được giữ nguyên tên.

Thật ra ba châu Bố Chánh, Địa Lý và Ma Linh đã thuộc về Đại Việt từ lâu, từ đời nhà Tiền Lê (năm 982), cách đó gần 80 năm. Do sức ép về dân số, nhiều gia đình nông dân nghèo khó không có đất canh tác trên đồng bằng sông Hồng và sông Cả đã tự động di cư đến đây rồi khai phá đất hoang và canh tác hoa mầu. Trong cuộc sống cộng cư, với thời gian, có thể những nhóm di dân cư này đã hòa trộn với các nhóm dân cư gốc Kinh có mặt từ trước, khi vương quốc Lâm Ấp được thành hình, hoặc với người Chăm địa phương từ nhiều đời để tạo thành các nhóm "dân miền Trung". Yếu tố Chăm do đó không còn mạnh mẽ, nếu không muốn nói là mất hẳn ảnh hưởng trên vùng đất này, nhường chỗ cho yếu tố Kinh, đầy sức sống và đông đảo hơn.

Nói một cách khác, sự dâng đất này là một hình thức công nhận quyền sở hữu chính thức của nhà Lý trên một vùng đất đã thoát khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương Chiêm Thành từ lâu. Sự dâng đất này còn ngụ ý là Chiêm Thành sẽ không mang quân sang quấy phá nữa, vì thần linh bảo vệ hoàng tộc và đất đai không còn nữa. Đất ở ba châu này thật ra có phì nhiêu hơn ở vùng Thanh Hóa (tức châu Điền), nhưng không phì nhiêu bằng đất ở Amavarati (Quảng Nam). Sự tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành về sau trên phần lãnh thổ này vì tự ái dân tộc nhiều hơn vì sự mầu mỡ của đất đai.

Sau khi nhượng hẳn cho Đại Việt ba châu phía Bắc, Rudravarman III mất uy tín trước các tiểu vương. Chiêm Thành bị loạn sứ quân, không ai còn nghe ai nữa. Hơn mười tiểu vương tự tuyên bố độc lập, kẻ mạnh mang quân đi đánh kẻ yếu hơn để mở rộng lãnh thổ hoặc gây thanh thế. Các tiểu vương ở phía Nam, liên minh với đế quốc Angkor, biến Panduranga thành trung tâm chống lại vương triều và các tiểu vương phía Bắc.

Năm 1074, buồn phiền trước cảnh đất nước loạn lạc và bị các tiểu vương phía Nam xua đuổi, Rudravarman III (Chế Củ) dẫn gia đình sang Đại Việt xin tị nạn và tan biến luôn trong xã hội người Kinh.

Triều vương thứ chín (1074-1139) : tranh chấp với Đại Việt

Tại Panduranga, một hoàng thân xuất thân từ Panduranga tên Thăn (còn gọi là Yan Visnumurti, Madhavamurti hay Devatamurti, tiếng Việt là Thân), cùng em là hoàng tử Pãn (tên Việt là Phan), đã lần lượt chinh phục các tiểu vương sứ quân, thống nhất lại đất nước.

Năm 1074, Thăn được quần thần tôn lên làm vua, hiệu Harivarman IV, mở đầu triều vương thứ chín.

Thăn là tên một hoàng tộc thuộc bộ tộc Cau mà dân chúng Panduranga cho là dòng vương tôn chân truyền của vương quốc Champa. Chính vì thế Harivarman IV rất tự hào về nguồn gốc xuất thân của mình, vì luôn tự nhận là sự kết hợp của hai bộ tộc lớn nhất của Chiêm Thành : cha là Pralaysvara Dharmaraja, dòng Narikelavansa thuộc đẳng cấp Ksatriya, bộ tộc Dừa ở Amaravati ; mẹ thuộc dòng Kramukavansa, đẳng cấp Brahman, bộ tộc Cau ở Panduranga.

Sở dĩ có sự giải thích dài dòng về nguồn gốc xuất thân này - nhất là nguồn gốc xuất thân của mẹ, dòng Brahman chính thống - vì Harivarman IV biết chắc rằng trong các sứ quân không ai hội đủ điều kiện về nguồn gốc xuất thân để có thể được tôn lên làm vua trên toàn cõi Chiêm Thành.

Việc làm đầu tiên của Harivarman IV là phục hồi lại các đền đài đã bị tàn phá bởi quân Đại Việt và cuộc nội chiến. Không đầy một năm sau, Chiêm Thành trở nên hùng mạnh trở lại. Harivarman IV mang quân sang đánh Đại Việt, giành lại phần lãnh thổ mà Rudravarman III đã nhượng trước đó.

Năm 1075, viện cớ phục hồi ngôi vua cho con cháu Rudravarman III (Chế Củ), nhà Lý sai Lý Thường Kiệt mang quân chiếm lại ba châu vừa bị mất. Trước sự chống trả mãnh liệt của quân Chiêm, Lý Thường Kiệt phải lui binh nhưng cho người vẽ lại địa thế rồi đưa một số nông dân gan dạ (thật ra là những binh lính trá hình) vào định cư. Hay tin quân Lý bị Chiêm Thành đánh bại, vua Tống sai Vương An Thạch mang 10.000 quân tiến qua biên giới tấn công Đại Việt. Lý Thường Kiệt lui về bảo vệ lãnh thổ phía bắc. Ba châu vừa chiếm lại lọt vào tay Chiêm Thành.

Năm 1076, vua Tống sai Quách Quì kết hợp với Chiêm Thành và Angkor, mang 7.000 quân tiến công Đại Việt nhưng bị Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đánh bại. Thừa thắng, Lý Thường Kiệt tiến xuống chiếm đóng đế đô Phật Thành, Harivarman IV phải cùng con cái và một số thân tín chạy lên núi trốn ; tại đây phái đoàn được các sắc dân Thượng che chỡ.

Quân Lý chỉ chịu rút khỏi Phật Thành khi Harivarman IV tuyên bố chấp nhận triều cống nhà Lý trở lại. Hay tin này, hoàng thân Sri Nandanavarmadeva (người Khmer) - mang quân vào miền Nam Chiêm Thành theo lời mời của Quách Quì để chống lại nhà Lý - chiếm luôn Panduranga. Vua Harivarman IV phải yêu cầu nhà Lý giúp đỡ. Lúc này mặc dù đã tuổi già sức yếu, Lý Thường Kiệt vẫn phải thân chinh đi đánh dẹp. Quân Khmer thua to bỏ chạy về nước, Harivarman IV truy đuổi và tiêu diệt hết tại Somesvara (Biên Hòa ngày nay). Nhà vua sai em là hoàng tử Pãn (tiếng Việt là Phan) chiếm thành Sambhupura (Sambor) trên sông Mekong, bắt được nhiều tù binh cùng vàng bạc và của cải mang về nước.

Dẹp xong loạn phương Nam, Harivarman IV tập trung phục hồi đất nước. Mặc dù vẫn duy trì triều đình tại Vijaya, nhà vua sửa sang lại các nơi thờ phượng khác trên toàn quốc và cho xây dựng lại các thánh địa tôn giáo tại Indrapura (Đồng Dương) và Sinhapura (Mỹ Sơn). Hoàng tử Pãn đích thân đôn đốc việc trùng tu các đền thờ tại Sinhapura (Mỹ Sơn). Dưới triều vua Harivarman IV, Chiêm Thành trù phú trở lại, đền đài cung điện tìm lại những nét huy hoàng tráng lệ ngày xưa.

Năm 1080, Harivarman IV nhường ngôi cho con là thái tử Văk Pulyan Rajadvara, 9 tuổi. Tân vương lên ngôi năm 1081, hiệu Jaya Indravarman II (Chế Ma Na). Chú là hoàng tử Pãn thế quyền giám quốc.

Nhưng không biết vì nguyên do nào mà cả triều thần và thái tử Văk đồng tôn Pãn lên làm vua, hiệu Sri Paramabodhisatva (Si-bà Ra-ma Bồ-đề Sát-bà). Paramabodhisatva giao hảo tốt với Đại Việt, mục đích chính của nhà vua là duy trì sự thống nhất của Chiêm Thành, vì lúc đó một tiểu vương Panduranga tên Rudravarman ly khai, không công nhận vương quyền phương Bắc. Thật ra sự ly khai này đã xảy ra từ 16 năm trước, nhưng triều đình Vijaya vì bận lo giải quyết những vấn đề khác cấp bách hơn nên chưa ra tay. Tiểu vương Rudravarman bị đánh bại, Panduranga bị đặt dưới quyền cai trị trực tiếp của Phật Thành (Vijaya).

Năm 1086, nội bộ Chiêm Thành xảy ra nội chiến. Thái tử Văk (Jaya Indravarman II) được triều đình thúc đẩy cầm quyền trở lại. Ước muốn này gặp sự phản đối của vua Paramabodhisatva (hoàng tử Pãn) - người muốn đưa trưởng nam của mình là hoàng tử Pulyan Sri Yavaraja lên ngôi - đã tìm mọi cách loại trừ thế lực của thái tử Văk nhưng không được.

Cuối cùng Paramabodhisatva mất tích, phe của ông bị phe của thái tử Văk giết hết. Jaya Indravarman II lên ngôi và tiếp tục triều cống Đại Việt. Năm 1092, Jaya Indravarman II nhờ nhà Tống giúp đòi lại vùng đất đã mất nhưng không kết quả.

Năm 1103, một người Việt ở phủ Diên Châu (Nghệ An) tên Lý Giác nổi lên làm phản. Lý Thường Kiệt vào đánh, Lý Giác thua chạy sang Phật Thành (Vijaya) thuyết phục vua Jaya Indravarman II hưng binh chiếm lại vùng đất đã mất. Lý Thường Kiệt một lần nữa phải thân chinh đi dẹp lọan, Jaya Indravarman II bị thua phải trả lại ba châu đã chiếm và chịu triều cống trở lại năm 1104.

Nhà Lý liền phân chia lại các châu vừa lấy lại như sau : châu Bố Chánh gồm huyện Nam Bố Chánh (Bố Trạch ngày nay) và huyện Bắc Bố Chánh (Quảng Trạch và Tuyên Hóa ngày nay), châu Lâm Bình (Địa Lý cũ) gồm huyện Phong Lộc (Quảng Ninh ngày nay) và huyện Phong Đăng (sau gọi là Phong Phú, tức huyện Lệ Thủy ngày nay). Hai huyện Phong Lộc và Phong Phú là vựa lúa lớn nhất của đất Indrapura. Châu Minh Linh (Ma Linh cũ) được chia thành hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh.

Năm 1113, cháu Jaya Indravarman II là Harivarman V lên ngôi, tân vương giữ nguyên chính sách cai trị của chú, quan hệ giữa Chiêm Thành và Đại Việt rất là thân thiết.

Harivarman V trị vì đến năm 1129 thì mất không người kế vị, Chiêm Thành lâm cảnh loạn lạc. Vương triều Panduranga không chịu sự cai trị của Vijaya, liên kết với Chân Lạp đánh lại. Hai miền Nam Bắc đánh phá lẫn nhau trong suốt 10 năm (1129-1139).

Triều vương thứ mười (1139-1145) : dưới sự khống chế của người Khmer

Năm 1129 Harivarman V mất, hoàng triều Champa tôn người con nuôi của nhà vua tên Po Sulika lên thay, hiệu Jaya Indravarman III.

Vì không có quan hệ gia tộc trực tiếp với dòng vua cũ, Jaya Indravarman III phải tự nhận có quan hệ xa xôi với các triều vua trước để được dân chúng phục tùng.

Theo các bia ký đọc được tại Đồng Dương và Po Nagar, Jaya Indravarman III sinh năm 1106, được nhận vào hoàng tộc năm 1129 tước Devaraja, được phong vương (Yuvaraja) năm 1133. Jaya Indravarman III xây thêm nhiều tượng thần Siva, Visnu và Linga trong những năm 1139, 1142 và 1143 tại Indrapura và Kauthara để xác nhận ông là truyền nhân của đẳng cấp Brahman.

Cùng thời gian này, năm 1112, tại Chân Lạp vua Suryavarman II lên ngôi. Năm sau tân vương xua quân đánh chiếm Chiêm Thành. Tham vọng của nhà vua Khmer được thời cuộc hỗ trợ vì bên Trung Hoa nhà Tống đang bận chống quân Kim (Mãn Châu) ; về phía Đại Việt, vua Lý Thần Tông chết sớm, Lý Anh Tôn còn quá nhỏ, các tướng lãnh tranh quyền, Đại Việt bị suy kém. Năm 1128, được Nam Chiêm Thành hỗ trợ, Suryavarman II dẫn 20.000 quân, đi trên 700 chiến thuyền, đổ bộ vào Thanh Hóa đánh phá và cũng là một cách răn đe Đại Việt không nên hỗ trợ Bắc Chiêm Thành.

Về phía Chiêm Thành, bị Angkor liên tục đánh phá từ 1030, đời sống người Chăm Bắc Chiêm Thành rất là khổ sở. Không chịu đựng nổi sự cai trị hà khắc và sự hà hiếp của người Khmer, một số vương tôn Chăm chạy vào Đại Việt xin tị nạn (Cụ Ông và 30 gia nhân, Kim Đình A Phú và 4 gia nhân, Tư Bồ Đà La cùng 30 gia nhân, Ưng Ma và Ưng Câu…). Trong những năm 1131 và 1136, quân Nam Chiêm Thành và Chân Lạp hợp nhau đánh phá Nghệ An và bờ biển Thanh Hóa.

Năm 1132, viện cớ Jaya Indravarman III không chịu hợp tác tấn công Đại Việt, Suryavarman II tiến quân lần nữa sang đất Chiêm Thành : đế đô Vijaya bị chiếm năm 1145. Jaya Indravarman III mất tích trên chiến trường (được dân chúng thờ dưới tên Rudraloka), những người chống lại quân Khmer đều bị xử trảm. Suryavarman II tự xưng là hoàng đế của cả Chân Lạp lẫn Chiêm Thành.

Kể từ 1145 đến 1149, lãnh thổ đế quốc Khmer được nới rộng lên phía Bắc, từ Champassak (Nam Lào) đến đèo Hải Vân (Bắc Chiêm Thành), người Khmer trực tiếp điều khiển binh lực Chiêm Thành.

Triều vương thứ mười một (1145-1318) : xung đột với Angkor

Năm 1145 hoàng thân Parabrahman được triều thần đưa lên kế vị Jaya Indravarman III, hiệu Rudravarman IV.

cham17

Phù điêu chiến trận giữa đế Quốc Angkor và Champa (quần thể Angkor Wat)

Vừa lên ngôi, Rudravarman IV cùng con trai là Ratnabhumivijaya (hoàng tử Sivanandana) bị quân Khmer truy lùng ráo riết phải bỏ Vijaya chạy vào Đại Việt lánh nạn. Thời gian sau, Rudravarman IV băng rừng về lại Panduranga lập chiến khu trên cao nguyên, nhiều bộ lạc Thượng gia nhập quân kháng chiến rất đông. Trên đường chạy loạn, Rudravarman IV lâm bệnh mất năm 1147 (dân chúng thờ dưới tên Brahmaloka hay Parabrahmaloka), con là thái tử Ratnabhumivijaya lên thay, hiệu Jaya Harivarman I (Chế Bì Ri Bút).

Trên cao nguyên, Jaya Harivarman I được đông đảo người Thượng và người Khmer (có thể là người Thượng thuộc hệ ngôn ngữ Môn Khmer) ủng hộ. Nhà vua tổ chức kháng chiến chiếm lại Panduranga, nhưng lãnh thổ Bắc Chiêm Thành (Vijaya) vẫn còn nằm trong tay người Khmer, do em rể vua Jaya Indravarman III là hoàng tử Hariveda (đẳng cấp Ksatriya) cai trị. Vương quốc Chiêm Thành bị chia đôi.

Năm 1148, vua Khmer (Jaya Indravarman III) cử tể tướng Sankara cùng tướng Sipakhya tấn công Panduranga, nhưng bị quân Chăm đánh bại tại đồng bằng Kayev, tỉnh Virapura (tiếng Khmer là Rajapura, tiếng Việt là Phan Rang). Thừa thắng xông lên, năm 1149, Jaya Harivarman I dẫn đầu đoàn quân Chăm, Thượng chiếm thành Vijaya, giết Hariveda trên sông Yami (sông Hà Giao, Bình Định), thống nhất lại đất nước. Kinh đô đặt tại Vijaya.

Do phân chia quyền lợi không đồng đều, người Rhadé, Bahnar và nhiều bộ lạc Thượng khác tôn Vansaraja (Ưng Minh Diệp), anh rể Jaya Harivarman I, lãnh đạo phong trào kháng chiến chống lại Jaya Harivarman I.

Năm 1150, sau khi xưng vương tại Madhyamagrama (ngày nay là An Khê, cạnh núi Yang Mung), Vansaraja dẫn đại quân xuống đồng bằng tấn công người Chăm, nhưng bị đánh bại tại làng Slay. Jaya Harivarman I tiến lên cao nguyên càn quét quân nổi loạn, Vansaraja phải chạy vào Đại Việt xin nhà Lý giúp đỡ đưa về làm vua.

Lý Anh Tôn sai thương chế Nguyễn Mông mang 5.000 binh sĩ từ Thanh Hóa và Nghệ An vào đánh Chiêm Thành. Chiến trận đã diễn ra rất là khốc liệt tại Dalva (Đông Hà) và Lavan (La Vang), cả Nguyễn Mông lẫn Vansaraja đều bị tử trận. Trong những năm sau (1151-1155), quân Chiêm Thành thường xuyên vào lãnh thổ Đại Việt (Nghệ An) cướp phá, vua Lý Anh Tôn định cất quân đi chinh phạt nhưng Jaya Harivarman I chịu dâng nhiều phẩm vật quí giá nên thôi, thực sự nhà Lý cũng e ngại sức mạnh quân sự của Chiêm Thành.

Vì dồn hết mọi năng lực vào chiến tranh đánh dẹp nội loạn và ngoại xâm, đời sống dân chúng Chiêm Thành trở nên cơ cực, nhiều lãnh chúa địa phương nổi lên chống lại triều đình trung ương. Năm 1151, Jaya Harivarman I phải hao tổn nhiều công sức lắm mới khuất phục được những cuộc nổi loạn tại Amavarati. Vừa dẹp loạn phương Bắc, Jaya Harivarman I lại phải đương đầu với những cuộc nổi loạn tại Panduranga, do người Khmer đỡ đầu. Phải mất năm năm (1151-1155), nhà vua mới dẹp xong được loạn và sau 1160 Chiêm Thành tìm được lại sự hùng mạnh của quá khứ và giao hảo tốt với các lân bang.

Năm 1162, Jaya Harivarman I băng hà truyền ngôi cho con là hoàng tử Sakan Vijaya, hiệu Jaya Harivarman II. Năm 1167 Sakan Vijaya bị hoàng thân Vatuv Gramapuravijaya soán ngôi, hiệu Jaya Indravarman IV.

Trong những năm 1164-1166, quân Chiêm Thành thường xuyên tổ chức đánh cướp các tàu buôn Ả Rập qua lại trên Biển Đông và tiến lên đánh phá các làng xã của Đại Việt tại châu Lâm Bình và Minh Linh. Năm 1167, Lý Anh Tôn sai Tô Hiến Thành mang quân đánh Chiêm Thành. Jaya Indravarman IV vội cử người sang cống nạp, Tô Hiến Thành lui quân về nước. Quà cáp thường là chiến lợi phẩm cướp từ các tàu buôn Ả Rập.

Chính vì những hành vi cướp bóc tàu thuyền này mà nhà Tống từ chối không phong vương cho Jaya Indravarman IV, mặc dầu đã cử nhiều phái đoàn sang Trung Hoa triều cống.

Jaya Indravarman IV (1151-1205), còn gọi là Po Klong Girai, Po Klong Garai hay Po Klău Girai, là người có công xây đập Chaklin (Nha Trinh) và hai mương dẫn nước (mương Cái và mương Đực) tại Phan Rang để canh tác nông nghiệp.

Theo truyền thuyết, Po Klong Garai - còn gọi là Vua Lác, con của nữ thần Po Sah Ino - lúc mới sinh ra đã mắc bệnh cùi, may nhờ có rắn naga liếm nên lành bệnh. Tuy mang bệnh cùi từ lúc còn trẻ nhưng nhà vua đã tỏ ra đắc lực trong việc chiến chinh. Khi băng hà, nhà vua dân được chúng thờ trong tháp Po Klong Garai (nay là tháp Chàm Phan Rang, phường Lưu Vinh, thị xã Tháp Chàm).

Jaya Indravarman IV quyết chí phục thù đế quốc Angkor về việc xâm chiếm và đô hộ Chiêm Thành. Quân lực Chiêm Thành dưới thời Jaya Indravarman IV rất giỏi về tượng binh và thủy chiến. Năm 1170, sau khi điều đình với Đại Việt giữ thế trung lập (bằng phẩm vật triều cống), Jaya Indravarman IV mang đoàn tượng binh tấn công Chân Lạp, lúc đó do vua Dharanindravarman II cai trị. Cuộc chiến kéo dài một năm, bất phân thắng bại (quân Khmer cũng dùng tượng binh đối chọi), sau cùng quân Chiêm phải rút về nước vì hết lương thực.

Năm 1171, một quan nhân gốc Hoa (không rõ tên) - quê ở Ki Yang Kiun, Quí Châu đảo Hải Nàm, bị chìm tàu trôi giạt vào bờ biển Chiêm Thành - được dân chúng dẫn đến trình diện Jaya Indravarman IV. Người này chỉ cho vua Chiêm cách cưỡi ngựa xung trận thay vì dùng voi như trước, điều này làm nhà vua rất thích thú vì hiệu quả thần tốc và gọn nhẹ của nó. Sau khi nắm vững được thuật cỡi ngựa, Jaya Indravarman IV cử một đoàn người sang Cửu Châu, đảo Hải Nàm, mua hết ngựa chiến nhưng bị vua Tống không cho bán (vì những hành vi hải tặc trước đó). Đoàn thương buôn Chăm nổi giận bắt người, đốt những trại nuôi ngựa không chịu bán. Dân Hải Nàm quá lo sợ phải bán cho họ một số ngựa mới được yên, nhưng không đủ để thành lập một đội kỵ binh. Năm 1172, Jaya Indravarman IV cử một đoàn người khác sang Trung Hoa triều cống, trả về những thường dân bị bắt và yêu cầu xin được mua ngựa, vua Tống vẫn từ chối.

Không mua được ngựa, Jaya Indravarman IV tấn công Chân Lạp bằng đường thủy (năm 1176). Nhà vua cho đóng thêm nhiều tàu chiến, tập dượt thủy binh. Năm 1177, Jaya Indravarman IV đi thuyền từ cửa sông Cửu Long vào chiếm Vrah Nagar (Prah Nokor, ngày nay là Sài Gòn). Quân Chiêm tịch thu nhiều chiến lợi phẩm và bắt theo nhiều tù binh Khmer về nước. Những tù binh này lúc đầu có bị bạc đãi, nhưng về sau được đối xử tử tế để trở thành dân Chăm và hội nhập hoàn toàn vào xã hội dân Chiêm Thành.

Trong số tù binh này có một vương tôn Khmer, sau này là Jayavarman VII. Lúc còn ở Chiêm Thành, Jayavarman VII học được cách tổ chức xã hội, cách huấn luyện binh sĩ thủy bộ và còn kết thân được với nhiều hoàng thân của xứ này. Ông được thả về nước năm 1186 để kế nghiệp anh là vua Yasovarman II, bị soán ngôi.

Về lại Chân Lạp, Jayavarman VII kết nghĩa với một vương tôn Chăm tên Sri Vidyanandana, quê ở Tumpraukvijaya (một làng ở Bình Định), đến Chân Lạp lập nghiệp từ 1182. Sau khi dẹp được loạn ở Malyan (hay Mou Leang, một làng ở vùng phía Đông Chân Lạp), hoàng thân Sri Vidyanandana được Jayavarman VII phong một tước hoàng tộc Khmer là Yuvaraja.

Năm 1190, Jayavarman VII sai Vidyananada đi đánh Chiêm Thành, ông chiếm được Vijaya, bắt sống Jaya Indravarman IV mang về Chân Lạp. Hoàng tử In (anh em cột chèo với Jayavarman VII) được phong làm tiểu vương xứ Nagara Vijaya (Bắc Chiêm Thành), hiệu Surya Jayavarman (hay Surya Jayavarmadeva), hoàng thân Vidyanandana được phong làm tiểu vương xứ Rajapura (Nam Chiêm Thành), hiệu Suryavarman (Suryavarmadeva hay Bố Trì), cả hai đều đạt dưới sự lãnh đạo của Jayavarman VII. Vương quốc Chiêm Thành trở thành một thuộc địa của Chân Lạp. Panduranga và Vijaya là hai tỉnh của đế quốc Angkor. Người Thượng trên Tây Nguyên không công nhận vương quyền mới này đã cùng một số vương tôn Chăm khác tổ chức đánh phá Amavarati, Vijaya và Panduranga.

Năm 1191 tại Vijaya, Suryajayavarman (hoàng tử In) bị Rasupati, một hoàng thân Champa, đánh bại phải chạy về lại Chân Lạp. Rasupati tự xưng là vua xứ Vijaya, hiệu Jaya Indravarman V.

Không nhìn nhận vương quyền mới này, Jayavarman VII cho Jaya Indravarman IV (cựu vương Chiêm Thành và cũng là thân phụ của hoàng tử In) về Bắc Chiêm Thành chiếm lại ngôi báu. Jaya Indravarman IV được Suryavarman (hoàng thân Sri Vidyananda) tiếp sức mới chiếm được Vijaya, Rasupati (Jaya Indravarman V) bị xử trảm. Thay vì giao thành lại cho vua Chăm cũ, Suryavarman chiếm luôn Vijaya ; Jaya Indravarman IV liền kêu gọi dân chúng tại Amavarati và các làng Ulik, Vyar, Jriy, Traik chống lại. Năm 1192, Jaya Indravarman IV bị tử trận tại Traik. Suryavarman thống nhất lại đất nước, lên ngôi vua và tìm cách tách khỏi ảnh hưởng của đế quốc Angkor.

Hay tin hoàng thân Suryavarman làm phản, Jayavarman VII cử đại quân, trong số này có cả người Thượng (do tướng Jai Ramya cầm đầu), sang đánh Chiêm Thành. Cuộc chiến kéo dài từ 1193 đến 1194, đại quân Khmer bị đánh bại. Thay vì theo quân Khmer về nước, một người Djarai tên Sri Agara chiếm một vùng đất lớn từ Amavarati đến Pidhyan (Phú Giang, bắc Phú Yên) rồi tự xưng vương năm 1193, hiệu Patau Ajna Po Ku.

Tuy đẩy lui được quân Khmer, Suryavarman vẫn lo sợ. Năm 1194, ông dời cư lên Amaravati (Quảng Nam) tránh nạn và giao hảo tốt với Đại Việt năm 1198, bằng cách triều cống hằng năm, và được vua Lý Cao Tông (Long Cán) phong vương năm 1199. Đất nước được thái bình trong vài năm thì Suryavarman bị chú là Yuvaraja on Dhanapati Grama (Bố Do) soán ngôi năm 1203.

Dhanapati Grama đưa quân Khmer vào chiếm Amaravati, Suryavarman dẫn một hải đội hơn 200 chiến thuyền chạy vào cửa Cửu La (Nghệ An) xin tị nạn. Tại đây, vị hoàng thân Chăm (người Việt gọi là Bố Trì) bị Dĩ Mông và Phạm Giêng, hai quan trấn thủ Nghệ An, nghi ngờ. Suryavarman rất buồn lòng, dùng mưu đốt thuyền của Phạm Giêng và giăng buồm ra khơi mất tích.

Dhanapati được lệnh vua Khmer đánh dẹp các cuộc nổi loạn tại Chiêm Thành, đặc biệt là trên cao nguyên. Patau Ajna Po Ku bị bắt sống đem về Chân Lạp trị tội. Dhanapati được phong toàn quyền cai trị xứ Chiêm Thành. Chiêm Thành trở thành một tỉnh của đế quốc Angkor lần thứ hai.

Dhanapati được con trưởng của Jaya Harivarman II (1162-1167), sinh sống tại Chân Lạp, tên Ansaraja Turaivijaya phụ lực cai trị Chiêm Thành. Turaivijaya cai quản đất Amavarati, tổ chức nhiều cuộc tấn công vào lãnh thổ Đại Việt (Nghệ An) trong những năm 1207, 1216 và 1218 ; tất cả đều bị quan trấn thủ Nghệ An Lý Bất Nhiêm đẩy lui.

Chiêm Thành bị đế quốc Angkor tái đô hộ trong suốt 17 năm (1203-1220). Năm 1220 bị quân Xiêm La làm áp lực tại chính quốc, quân Khmer rút khỏi Chiêm Thành. Trong gần 100 năm chống chọi và bị Angkor đô hộ, Chiêm Thành hoàn toàn kiệt quệ.

Quân Chân Lạp rút khỏi Chiêm Thành, hoàng tử Ansaraja Turaivijaya (tên Khmer là Sri Ajirang) được hoàng tộc Chăm tôn lên làm vua, hiệu Jaya Paramesvaravarman II, đóng đô tại Viyaja.

Vừa lên ngôi, tân vương cho xây lại những tượng đài bị đập phá tại tháp Sri Sanabhadresvara (Mỹ Sơn) và Po Nagar (Nha Trang), xây thêm các đập nước, mở rộng diện tích dinh điền, đất nước phồn thịnh trở lại ; nhiều bộ lạc Thượng trên Tây Nguyên trở về thần phục.

Năm 1230, hoàng tử Abhimanyuvarman, một vương tôn tỉnh Pankaja người Cathei, được Jaya Paramesvaravarman II cử làm thống lãnh đất Panduranga. Những tiểu vương kế nghiệp ông được biết đến sau này tại Panduranga là Po Unvavah, Po Binasur, Po Putrik v.v... (Tên những vương tôn Chăm tại miền Nam Chiêm Thành, hay tại Panduranga sau này, đều kèm theo chữ Po (Pô, Pu, Pou hay Poh), có nghĩa là Ông, Ngài hay Vua).

Năm 1244, vua Chiêm tổ chức nhiều đợt tấn công vào duyên hải Nghệ An và Thanh Hóa, chiếm đóng Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh.

Tại Đại Việt, sau khi ổn định triều chính, năm 1252 Trần Thái Tôn dẫn đại quân đi đánh Chiêm Thành. Cuộc tiến công kéo dài gần một năm, thành Vijaya thất thủ, vương phi Bố Gia La cùng nhiều cung phi, tù binh và quan chức triều đình Chăm bị bắt mang về Đại Việt. Jaya Paramesvaravarman II bị tử trận năm 1254, em là hoàng tử Sakan Vijaya lên thay, hiệu Jaya Indravarman VI.

Jaya Indravarman VI duy trì giao hảo với Đại Việt, triều cống đều đặn. Năm 1257, nhà Trần rút quân về nước, lúc đó đang bị quân Nguyên (Mông Cổ) đe dọa.

Năm 1257, Jaya Indravarman VI bị ám sát, hoàng tử Pulyan Sri Yuvaraja, con người chị (công chúa Suryadevi) lên thay, hiệu Jaya Sinhavarman VI. Năm 1266, hoàng tử Chay Nuk, con Jaya Paramesvaravarman II, lên kế vị, hiệu Indravarman V.

Indravarman V tiếp tục giao hảo tốt với Đại Việt. Năm 1278, Indravarman V sai hai sứ giả (Bồ Tinh và Bồ Đột) sang Đại Việt xin bảo hộ và thành lập một liên minh chống lại quân Mông Cổ.

Hay tin này, năm 1281, vua Nguyên (Hốt Tất Liệt) cử hữu thống chế Toa Đô (Sogatu) và tả thống chế Lưu Thâm cùng tham chính A Lý và Ô Mã Nhi mang 10 vạn thủy binh từ Quảng Châu sang Chiêm Thành buộc Indravarman V phải đích thân về Trung Nguyên triều cống. Không chống nổi quân Mông Cổ, Indravarman V chịu đặt Chiêm Thành dưới sự bảo hộ của nhà Nguyên năm 1282. Toa Đô được nhà Nguyên phong làm thống đốc toàn quyền cai trị xứ Chiêm Thành, tiểu vương Chăm nào chịu theo quân Nguyên đều được phong làm phó vương.

Hoàng tử Harijit Po Devada Svor (hay Po Depitathor), con Indravarman V, cùng mẹ là hoàng hậu Gaurendraksmi, không chấp nhận sự đô hộ của Mông Cổ rút vào rừng, tổ chức kháng chiến. Harijit mộ được khoảng 20.000 người, gồm đủ mọi các sắc tộc Thượng sinh sống trên cao nguyên Ya Heou, phía tây bắc Chiêm Thành, tấn công quân Nguyên trên khắp lãnh thổ Bắc Chiêm Thành. Năm 1283, Toa Đô dẫn đầu một đoàn quân gồm 5.000 người, 100 tàu và 250 thuyền đi dọc theo bờ biển và các con sông lớn đổ bộ lên Tây Nguyên nhưng bị đánh bại. Quân Mông Cổ - một phần bị bệnh tật, không chịu đựng nổi khí hậu nóng nực của miền nhiệt đới, một phần vì đói kém, thiếu tiếp liệu từ lục địa - phải rút về trấn giữ đồng bằng.

Tháng 4 năm 1285, Toa Đô cùng Ô Mã Nhi mang hải đội từ Chiêm Thành, trong đó có đội thủy binh người Chăm, tiến lên ra Bắc hợp với Thoát Hoan vây thành Thăng Long, kinh đô của Đại Việt. Quân của Thoát Hoan bị quân Trần đánh bại phải rút về nội địa, quân của Toa Đô bị đánh tan tại Nghệ An. Toa Đô bị chết tại trận, quân Trần bắt được rất nhiều tù binh Mông Cổ và Chăm, trong đó có hai tướng Chăm tên Lậu Khê và Na Liên, bị trả về cho vua Chiêm Thành xử tội. Những binh lính Chăm khác theo Mông Cổ, không dám về lại quê cũ, theo quân Nguyên về Hoa lục và được cho định cư trên đảo Hải Nàm, bờ biển nam Quảng Châu, nơi đã có nhiều người Chăm khác đến lập nghiệp từ năm 992 dưới thời Lưu Kỳ Tông. Những binh lính Chăm này, đa số theo đạo Hồi, đã lập gia đình với người địa phương và ở lại lập nghiệp. Đây là đợt di dân thứ hai của người Champa ra hải ngoại.

Năm 1288 Indravarman V mất, hoàng tử Harijit lên ngôi, hiệu Jaya Sinhavarman III (Chế Mân), đặt kinh đô tại Vijaya. Mặc dù không triều cống nhà Trần, bang giao giữa Đại Việt và Chiêm Thành rất là thắm thiết. Chỉ một thời gian ngắn sau Chiêm Thành hùng mạnh trở lại, các vương quốc lân bang, trong có Đại Việt cử người sang thông hiếu đều đặn. Nhiều đền đài được xây cất cả tại đồng bằng lẫn trên cao nguyên. Chế Mân cho xây một tháp trên đồi Chok Hala, gọi là đồi Trầu, để dân chúng đến tế lễ, sau này là tháp Po Klong Garai (Tháp Chàm Phan Rang).

Năm 1292 và 1293, trên đường tiến đánh Java (Indonesia) và Madjapahit (Mã Lai) quân Mông Cổ xin vào bờ mua tiếp liệu nhưng bị Chế Mân từ chối, phải giương buồm đi tiếp. Cũng nên biết Chế Mân có rất nhiều quan hệ tình cảm với các tiểu vương Nam Đảo. Vợ cả của Chế Mân là vương phi Bhaskaradevi, con một đại vương Java ; thứ phi là hoàng hậu Tapasi, con gái một tiểu vương Yavadvipa (Mã Lai).

Lãnh thổ Chiêm Thành trong thời kỳ này được nới rộng lên cao nguyên Darlac và Langbian, Chế Mân cho xây một đền thờ tại Yang Prong (An Khê) để đón nhận phẩm vật triều cống của những bộ lạc Thượng trên Tây Nguyên.

Năm 1301, cựu hoàng Đại Việt là Trần Nhân Tôn, sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tôn, đi thăm các nước láng giềng. Khi thăm Chiêm Thành, Trần Nhân Tôn được Chế Mân tiếp đãi nồng hậu và đã ở lại đây 9 tháng. Để tạ ơn, khi ra về cựu vương hứa gả công chúa Huyền Trân (em gái Trần Anh Tôn) cho Chế Mân. Cuối năm 1301, Chế Mân sai Chế Bồ Đày mang lễ vật sang cưới Huyền Trân. Triều đình nhà Trần có nhiều người không thuận, cuộc thương thảo kéo dài từ 1302 đến 1305 ; sau cùng, mùa hè năm 1306, Chế Mân thuận tặng cho nhà Trần hai châu Ô và châu Rí (châu Lý), phía bắc đèo Hải Vân, để làm quà cưới, nhà Trần mới chịu và sai Đoàn Nhữ Hài đưa Huyền Trân về Chiêm Thành. Tại đây, Huyền Trân được Chế Mân đặt tên là hoàng hậu Paramesvari.

Châu Ô và châu Rí là đề tài tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành trong thời gian sau đó. Năm 1307, Trần Anh Tôn đặt tên lại hai châu mới này thành Thuận châu (Quảng Trị) và Hóa châu (Thừa Thiên và một phần Quảng Nam ngày nay), rồi giao cho Đoàn Nhữ Hài cai quản. Châu Thuận gồm các huyện Đăng Xương (nay là Triệu Phong), Hải Lăng, Phong Điền, Quảng Điền và Hương Trà. Châu Hóa gồm các huyện Phú Vang, Phú Lộc, Diên Phước và Hòa Vang. Người Chăm sống trong các làng La thỉ, Tác Hồng và Đà Bồng nổi lên chống sự cai trị của người Việt. Để trấn an dân Chăm, Đoàn Nhữ Hài chấp nhận để người Chăm chịu sự quản trị trưc tiếp của các nhân sĩ Chăm địa phương và cho miễn thuế ba năm.

Về chủ quyền, nông dân Việt đã đến lập nghiệp và khai phá hai châu này từ lâu, nhất là trong thời gian có chiến tranh với Mông Cổ. Thật ra sự sát nhập này, trên bình diện nào đó, chỉ là sự hợp thức hóa một sự kiện đã rồi, vì quan hệ cộng sinh giữa hai chủng tộc đã diễn ra từ lâu đời. Những cuộc hôn nhân dị chủng chắc chắn không phải là những trường hợp ngoại lệ, với thời gian dân cư Việt có lẽ đã đông hơn dân cư Chăm tại đây.

Nguyễn Văn Huy

(2002)

Đọc thêm :

Người Chăm 1 - Tìm lại anh em, nhận lại bạn bè

Người Chăm 2 - Thời kỳ xác định bản thể 

Người Chăm 3 - Thời kỳ mở nước và dựng nước 

Người Chăm 4 - Thời vàng son

Người Chăm 5 - Thời kỳ xung đột

Người Chăm 6 - Bùng lên trước khi tàn lụi

Người Chăm 7 - Cố gắng tồn tại trong khó khăn

Người Chăm 8 - Cộng đồng người Chăm tại Campuchia

 

Published in Tư liệu
vendredi, 01 septembre 2017 05:55

Người Chăm 4 - Thời vàng son

Người Chăm tại Việt Nam

Bài 4

Thời vàng son

Sau thời kỳ dựng nước và mở nước khó khăn, dưới thời Bradravarman I (Phạm Hồ Đạt) - người sáng lập triều đại Gangaraja phía Bắc, từ thế kỷ thứ 4 vương quốc Lâm Ấp đã trở thành một thế lực chính trị đáng kể trong vùng.

Là một kết hợp của nhiều tiểu vương quốc khác nhau, lãnh thổ phía Bắc giáp ranh với quận Cửu Chân, lãnh thổ phía Nam trải dài đến mũi Kê Gà (Varella, Phan Thiết). Hào quang của Lâm Ấp chiếu sáng vùng trời Đông Nam Á, các quốc gia láng giềng đều tìm đến để làm thân.

cham14

Sơ đồ các tiểu vương quốc trên lãnh thổ Champa cổ

Cho đến nay không ai biết hai miền Nam Bắc đã thống nhất như thế nào, nhưng từ thế kỷ 5 trở về sau thông thương giữa hai miền trở nên liên tục và ồ ạt, lượng người và hàng hóa di chuyển từ miền Nam lên miền Bắc thay đổi dần dần cán cân quyền lực.

Người Chăm phía Bắc, vì thường xuyên đối phó với các thế lực thù địch, trở nên thiện chiến. Khi mộ quân hay trên đường chạy nạn, vì bị quân Trung Hoa truy đuổi, người Chăm phía Bắc khuất phục luôn những tiểu vương quốc khác đã có mặt dọc bờ biển miền Trung từ lâu đời, quen sống trong hòa bình và an lạc.

Với thời gian, vương quyền miền Bắc suy yếu dần, vì dồn hết tài nguyên nhân vật lực cho chiến tranh, vai trò lãnh đạo nhường lại cho các vương triều phía Nam giàu có và hùng mạnh hơn.

Triều vương thứ năm (758-854) : vương triều Panduranga hay Hoàn Vương Quốc

Năm 757, môt tiểu vương phía Nam nổi lên hạ bệ Bhadravarman II - nhà vua trẻ vừa lên ngôi - rồi tự xưng vương, hiệu Prithi Indravarman, chấm dứt dòng Gangaraja phía Bắc.

Theo bia ký đọc được, Prithi Indravarman là người đã thống nhất lãnh thổ Champa một cách chính danh nhất, vì được triều thần công nhận là "người thống lãnh toàn bộ đất nước như Indra, thần của các vị thần".

Tuy đất nước đã được thống nhất, lãnh thổ này vẫn chưa có tên. Khi sang Trung Hoa triều cống, không biết sứ thần của Prithi Indravarman đã giải thích như thế nào mà sử liệu cổ Trung Hoa đặt tên lãnh thổ mới của người Chăm trong thời kỳ này là Hoàn Vương Quốc, "vương quyền trở về quê cũ". Để xác minh điều này, việc làm đầu tiên của Prithi Indravarman là dời kinh đô Sinhapura (thành phố sư tử hay Trà Kiệu, Quảng Nam) về Virapura (thành phố Hùng Tráng, nay là thôn Palai Bachong, xã Hòa Trinh, huyện An Phước - cách Sài Gòn 310 cây số về phía Bắc trên quốc lộ 1, tỉnh Ninh Thuận).

Dưới thời Prithi Indravarman, văn minh và văn hóa Ấn Độ từ phía Nam đưa lên lấn át toàn bộ sinh hoạt của người Chăm phía Bắc : chữ Phạn được phổ biến rộng rãi trong giới vương quyền và các nơi thờ phượng ; đạo Bà La Môn (Brahmanism) được đông đảo người theo ; đạo Phật Tiểu Thừa (Thevada) phát triển mạnh trong chốn dân gian ; đền đài, dinh thự và chùa tháp được xây dựng lên khắp nơi, nhiều nhất là tại Khu Lật (Huế), Amavarati (Mỹ Sơn), Sinhapura (Trà Kiệu)… để tạ ơn thần linh. Tuy vậy nguyên tắc tự trị của các tiểu vương quốc phía Bắc vẫn được tôn trọng, vì không thấy di ảnh hay hình tượng nữ thần Bhagavati - vị thần bảo hộ Panduranga được Prithi Indravarman chọn làm "Bà Mẹ xứ sở" để dân chúng thờ phượng – trong các di tích khảo cổ trên lãnh thổ Chiêm Thành phía Bắc.

cham13

Phù điêu nữ thần Bhagavati hay "Bà Mẹ xứ sở" được dựng trong tháp Po Nagar (Tháp Chàm ngày nay)

Về "Bà Mẹ xứ sở", ngôi tháp bằng gỗ trước kia thờ nữ vương Jagadharma (646-653) được Prithi Indravarman cho xây dựng lại bằng vật liệu cứng tại Aya Tră (Nha Trang), trên một ngọn đồi cao cạnh cửa sông Cái (Xóm Bóng), để thờ tượng nữ thần Bhagavati (bằng vàng). Tháp này về sau được biết dưới tên Po Nagar, hay Tháp Bà.

Truyền thuyết Chăm cho rằng Hoàn Vương Quốc trước kia do nữ vương Po Nagar cai trị trong suốt 200 năm, từ 758 đến 958. Thời gian trị vì lâu dài này là thời gian mà vương triều Panduranga thịnh hành.

Nữ vương Po Nagar - còn gọi là Yan Pu Nagara, Po Ino Nagar hay Bà Đen (nguời Việt Nam gọi là Thánh Mẫu Thiên Y Ana) - là vị nữ thần được tạo nên bởi áng mây trời và bọt biển, người tạo dựng ra quả đất, sản sinh gỗ quí, cây cối và lúa gạo. Bà có 97 phu quân, trong đó chỉ một mình Po Yan Amo là người có uy quyền và được tôn trọng hơn cả. Bà có 38 người con gái, tất cả đều hóa thân thành nữ thần, trong đó có ba người được người Chăm chọn làm thần bảo vệ đất đai và còn thờ phượng cho tới ngày nay : Po Nagar Dara, nữ thần Kauthara (Khánh Hòa) ; Po Rarai Anaih, nữ thần Panduranga (Ninh Thuận) và Po Bia Tikuk, nữ thần Manthit (Phan Thiết).

Prithi Indravarman là một quân vương tài giỏi, đất nước thái bình và rất phồn vinh. Sự giàu có của Hoàn Vương Quốc hấp dẫn các vương quốc lân bang, đặc biệt là Srivijaya (Palembang), Malayu (Malaysia), Javadvipa (Java), Nagara Phatom (Thái Lan), Sriksetra (Miến Điện) và Angkor (Chân Lạp) ; họ đến để trao đổi hoặc chờ dịp cướp phá.

Năm 774, quân Nam Đảo từ ngoài khơi đổ bộ vào Kauthara và Panduranga, chiếm Virapura. Vua Prithi Indravarman đã chống trả lại mãnh liệt nhưng bị chết trong đám loạn quân (sau này được dân chúng tôn thờ dưới pháp danh Rudraloka). Một bia ký đọc được ở tháp Po Nagar ghi "những người đen đủi và gầy yếu từ miền xa đến, ăn những thức ăn khủng khiếp hơn xác chết, lại có tính hung ác. Bọn người này đi mành đến lấy cắp tượng linga của thần Sri Sambhu, đốt phá đền thờ [Po Nagar]". Sau cuộc tấn công này quân Nam Đảo cướp đi rất nhiều báu vật, trong đó có tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng.

Ngay khi Prithi Indravarman vừa tử trận, một người cháu gọi ông bằng cậu tên Satyavarman được hoàng tộc tôn lên thay thế. Nhưng vừa lên ngôi, Satyavarman đã cùng hoàng tộc chạy lên miền Bắc (Bình Định) lánh nạn. Tại đây, nhà vua được cộng đồng người Chăm và người Thượng địa phương (Bahnar, Hré) giúp thành lập một đạo quân hùng mạnh tiến xuống Kauthara tấn công quân Nam Đảo. Trước uy lực của Satyavarman, quân Nam Đảo lên thuyền bỏ chạy ra khơi, tân vương dẫn hoàng gia về lại Virapura. Tại đây, nhà vua xây thêm một cung điện mới trong thành Krong Laa và không ngờ đã sáng chế ra một phong tục mới mà các đời vua sau bắt chước theo, đó là tục trồng cây Kraik, biểu tượng của hoàng gia, trước cung điện.

Đền Po Nagar, bị quân Nam Đảo phá hủy, được Satyavarman cho dựng lại bằng gạch, 10 năm sau (774-784) thì hoàn thành và tồn tại cho tới ngày nay. Năm 786, Satyavarman mất (được dân chúng thờ phượng dưới pháp danh Isvaraloka), em trai út của ông được hoàng tộc đưa lên ngôi, hiệu Indravarman I (786-801).

Hay tin Satyavarman từ trần, năm 787, quân Java từ ngoài khơi lại tràn vào Virapura cướp phá, sát hại rất nhiều binh sĩ và dân chúng, phá tháp Hòa Lai thờ thần Bhadradhipatisvara tại Virapura. Quân Nam Đảo chia ra làm hai nhóm, một nhóm bắt theo nhiều phụ nữ cùng báu vật chở về nước, một nhóm khác chiếm giữ Panduranga. Phải hơn mười năm vất vả Indravarman I mới đuổi được quân Nam Đảo ra khơi để khiến thiết lại xứ ở (năm 799).

Tại Virapura, nhà vua xây lại tháp Hòa Lai bằng ba tháp mới, gọi là Kalan Ba Tháp, thờ các thần Indrabhadresvara, Sankara và Narayana. Cũng vất vả lắm Indravarman I mới dẹp yên được một số giặc giã nổi lên từ khắp nơi, như tại Candra (phía bắc), Indra (đông-bắc), Agni (phía đông), Yama (đông-nam), quan trọng nhất là loạn Yakshas (phía nam). Yakshas là những bộ lạc Thượng cư ngụ trên lãnh thổ đế quốc Angkor chứ không phải là quân Khmer.

Đầu thế kỷ thứ 9, Indravarman I mất, em rể là hoàng thân Deva Rajadhiraja lên thay, hiệu Harivarman I, mở đầu một trang sử mới.

Trong hai năm đầu tân vương dồn mọi nổ lực xây dựng lại đất nước và phục hồi thế lực quân sự. Để nhận thêm sự ủng hộ của quần chúng, nhà vua sai tể tướng Senapati Pangro trùng tu lại tháp Po Nagar và xây thêm hai tháp mới cạnh tháp chính, một ở hướng nam và một ở hướng tây-bắc để dân chúng đến chiêm bái tượng nữ thần Bhagavati, được tạc lại bằng đá hoa cương.

Sau những cố gắng vượt bực, Hoàn Vương Quốc hưng thịnh trở lại, Harivarman I quyết định trả thù những quốc gia đã tấn công và cướp bóc đất nước của ông trước đó. Tháng 1 năm 803, quân Chăm tấn công châu Hoan (Tỷ Cảnh, nay là Thanh Hóa) và châu Ái (Hải Âm, nay là Nghệ Tĩnh), mang về rất nhiều phẩm vật. Với lượng lúa gạo mang về miền Bắc, thủy quân Hoàn Vương Quốc xuất dương trừng phạt vương quốc Kelantan ở Java và Patani ở Malaysia. Khi trở về, nhà vua cho người lên Tây Nguyên mộ thêm binh sĩ và được sự hưởng ứng nồng nhiệt của người thiểu số. Với đạo quân này, hai lần (năm 803 và 817), Harivarman I tiến vào cao nguyên Đồng Nai thượng, đánh bại quân Khmer và kiểm soát một vùng đất rộng lớn.

Để có thêm nguồn lương thực, năm 808, Harivarman I xua quân đánh chiếm châu Hoan và châu Ái lần nữa, nhưng bị thái thú Trương Châu đánh bại : 59 người trong hoàng tộc bị bắt sống, nhiều thớt voi, tàu chiến và quân trang quân dụng bị tịch thu, hơn 30.000 người bỏ xác tại trận.

Về con số ba vạn người bị chết này, tưởng cũng nên tương đối hóa nó vì thời đó người Hoa chưa phát minh ra số "không" (zéro) do đó cái gì nhiều quá, đếm không xuể đều được ghi là "vạn" ; con số ba vạn ở đây có thể do nhiều đơn vị khác nhau cùng báo cáo và cũng có thể được thổi phồng để được triều đình trung ương khen thưởng, vì qua năm sau, năm 809, Harivarman I tái chiếm châu Hoan và châu Ái một cách dễ dàng và mang về rất nhiều phẩm vật.

Không rõ Harivarman I mất năm nào nhưng con trai là tiểu vương (pulyan) đất Panduranga lên kế vị năm 817, hiệu Vikrantavarman III. Vì tân vương còn nhỏ tuổi, triều thần phong tể tướng Senapati Par, tiểu vương đất Manidhi (?), làm phụ chính. Viên tể tướng này đã tổ chức nhiều cuộc tấn công vào lãnh thổ Kambujas (Campuchia ngày nay), do vua Jayavarman II cai trị, phá nhiều thành trì khmer trên cao nguyên Đồng Nai thượng.

Để tạ ơn Bà Mẹ Xứ Sở, trong khuôn viên Po Nagar, Senapati Par cho xây thêm hai tháp mới về phía tây và tây-nam, thời gian sau xây thêm ba tháp khác : một tại khu trung tâm thờ Sri Shambu, một phía tây-bắc thờ Shandhaka và một phía nam thờ Ganesha. Mặc dù vậy, trung tâm chính trị và tôn giáo vẫn được duy trì tại Virapura, thủ phủ Panduranga.

Dưới thời Vikrantavarman III, Hoàn Vương Quốc trở nên giàu có, quân lực rất hùng mạnh. Một bia ký, tìm được tại tháp Po Nagar, mô tả Vikrantavarman III như sau :

"[Người] đeo những dây vàng có đính ngọc trai và ngọc bích, giống như mặt trăng tròn đầy đặn, che một chiếc lọng trắng bao phủ cả bốn phương trời bởi vì lọng còn sâu hơn cả đại dương, thân thể [Người] trang sức phủ kín bởi vương miện, đai, vòng, hoa tai, những tràng hồng ngọc... bằng vàng, từ đó phát ra ánh sáng giống như những cây leo [sáng lấp lánh]".

Thư tịch cổ Trung Hoa (Cựu Đường thư) mô tả thêm : "[Vua] mặc áo cổ bối bạch diệp... trên đeo thêm trân châu, dây chuyền vàng làm thành chuỗi...". Đẳng cấp quí tộc và phụ nữ cung đình cũng đeo trang sức quí : "Phu nhân mặc vải cổ bối triệu hà... mình trang sức dây chuyền vàng, chuỗi ngọc trai". "[...] Quân đội được trang bị nhiều loại vũ khí khác nhau...".

Với thời gian, Hoàn Vương Quốc trở thành nạn nhân của sự giàu có của mình, các thế lực lân bang liên tục tràn váo cướp phá. Trong suốt hơn 20 năm, từ 854 đến 875, quân của đế quốc Angkor đã nhiều lần tiến đánh Hoàn Vương Quốc, chiếm nhiều vùng đất rộng lớn dọc tả ngạn sông Đồng Nai, đôi khi còn băng cao nguyên Langbian đột nhập vào lãnh thổ Panduranga cướp phá.

Vikrantavarman III mất năm 854 (được thờ dưới pháp danh Vikrantasvara), không người kế tự, nội bộ triều đình xảy ra tranh chấp.

Triều vương thứ sáu (859-991) : vương triều Indrapura hay Chiêm Thành

Sống mãi trong xa hoa, triều vương Panduranga trở nên yếu đuối. Sau hơn 20 năm chinh chiến với đế quốc Angkor, quyền hành trong nước lọt dần vào tay các dòng vương tôn miền Bắc, chính họ đã chống trả lại các đợt xâm lăng của đế quốc Angkor.

Năm 859, một vương tôn mang nhiều chiến công, tên Laksmindra Bhumisvara Gramasvamin, được triều thần đưa lên ngôi, hiệu Indravarman II.

Mặc dù là truyền nhân đích tôn của các đời vua trước (ông nội là Rudravarman II, cha là Bhadravarman II), Indravarman II lên ngôi do "dày công tu luyện, do sức mạnh của trí tuệ trong sáng", vì Indra là thần trên các vị thần. Sau khi qua đời ông được dân chúng thờ dưới tên Paramabuddhaloka.

Dưới thời Indravarman II, trung tâm quyền lực chính trị và tôn giáo được dời lên phía Bắc tại Indrapura - thành phố Sấm Sét (nay là Đồng Dương, cách Đà Nẵng hơn 50km về phía nam) trên bờ sông Ly Ly (một nhánh sông Thu Bồn, cách thánh địa Trà Kiệu 15 cây số). Vị trí của Indrapura rất thuận lợi trong việc phòng thủ chống lại những cuộc tiến công của quân Khmer và quân Nam Đảo.

Phật giáo Đại Thừa cũng phát triển mạnh trong giai đoạn này, nhiều nhà sư Trung Hoa được phép đến Indrapura truyền đạo, xây chùa chiền và thu nạp giáo đồ, nhưng không mấy thịnh hành. Indravarman II là người đã dung hòa được hai tôn giáo lớn nhất thời đó (Bà La Môn và Phật giáo) trong dân gian và xã hội : nhiều Phật viện (Vihara), Phật đường, tu viện, đền thờ được xây dựng khắp nơi lãnh thổ, một bảo tháp dài 1.330m tên Laksmindra Lokesvara được xây dựng cạnh đền thờ Bà La Môn (một tượng Buddha thời này, cao 1,14m, được tìm thấy tại Đồng Dương năm 1978).

Đẳng cấp tu sĩ (Brahman) rất được trọng vọng, đạo Bà La Môn rất thịnh hành. Indravarman II rất tự hào vì các đại thần dưới quyền đều là những người Brahman và Ksatriya, và chính nhà vua cũng là một Brahman.

Quốc hiệu Campapura (đất nước của người Chăm, theo tiếng Phạn cổ) được Indravarman II chính thức sử dụng khi tôn vinh đất nước mình. Sử sách Trung Hoa phiên âm là Chang Cheng (phiên âm từ chữ Campapura hay Campa mà ra), tiếng Việt là Chiêm Thành, tiếng phương Tây là Champa.

Trong thực tế, Campa là tên của một cây có hoa màu trắng, nhụy vàng, hương rất thơm. Tiếng Việt gọi là hoa đại hay bông sứ. Loài hoa này được trồng quanh cung điện của các vua Chăm và đền thờ của người Chăm ; sau này được trồng tại nhiều nơi thờ tự của các tôn giáo khác ở miền Trung và các gia trang có sân vườn rộng. Mỗi dịp lễ lạc người Chăm thường hái bông sứ dâng lên bàn thờ, mùi hương tỏa ngát không gian của đền thờ.

Campa cũng là tên một địa danh miền bắc Ấn Độ, trên con sông Hasdo, tỉnh Madhya Pradesh, gần thành phố Bhagalpur (Bilaspur). Thời đó, vì mến mộ văn minh và văn hóa Ấn Độ, các vị lãnh đạo Champa thường đặt tên triều vương, lãnh thổ và thành phố của mình theo tên các địa danh đã có tại Ấn Độ.

Chiêm Thành dưới thời Indravarman II rất là hùng mạnh, hai miền Nam-Bắc đã được thống nhất trong hòa bình. Trong những năm 861, 862 và 865, quân Chiêm Thành tổ chức nhiều cuộc tấn công vào phủ An Nam, mang về rất nhiều lương thực và của cải. Năm 889 vua Angkor là Yasovarman hai lần tiến quân vào Chiêm Thành nhưng đều bị đánh bại và chết trong rừng sâu (năm 890), một phần đất trên Đồng Nai thượng và lãnh thổ đông-bắc Angkor (cao nguyên Rattanakiri và Mondolkiri) đặt dưới quyền kiểm soát của Chiêm Thành.

Năm 890 Indravarman II mất, cháu là hoàng thân Jaya Sinhavarmadeva Campapura Paramesvara kế vị, hiệu Jaya Sinhavarman I. Tân vương được nhiều danh tướng Ajna Jayendrapati, Ajna Narendranpavitra, Sivacarya, Po Klun Pilih Rajadvara… tận tình giúp đỡ. Nhà vua tiếp tục cho xây thêm nhiều đền đài tráng lệ, tu viện Phật giáo quanh thánh địa Đồng Dương. Tượng nữ thần Bhagavati được cho đúc lại bằng vàng thờ trong chính điện tháp Yan Po Nagara.

Uy quyền của vương triều Indrapura nới rộng lên đến Tây Nguyên. Cao nguyên Darlac-Kontum do một tiểu vương người Thượng, tên Mahindravarman, cai trị. Nhiều đền đài Chăm được xây cất trong thung lũng sông Bla gần Kontum (đền Kon Kor được xây cất năm 914 thờ thần Mahindra Lokesvara).

Jaya Sinhavarman I mất năm 898, con là Jaya Saktivarman lên thay (899-901). Những vị vua tiếp theo - Bhadravarman II (901-918) và con là Indravarman III (918-959) - tiếp tục sự nghiệp của cha ông trong lãnh vực tôn giáo : đạo Bà La Môn trở thành quốc giáo.

Qua trung gian những gia đình hoàng tộc gốc Nam Đảo - Rahdar Ahmed Abu Kamil, Naqid Amr Ali - trốn chạy chính sách cai trị khắc nghiệt của những tiểu vương Java, được tể tướng Po Klun Pilih Rajadvara nhận vào tị nạn, đạo Hồi chính thức được phổ biến trong chốn hoàng gia. Với thời gian, đạo Hồi được đông đảo quần chúng bình dân tin theo. Nhân cơ hội, những gia đình quí tộc tị nạn này truyền bá luôn văn minh và văn hóa Nam Đảo, đặc biệt là lối kiến trúc và cách điêu khắc, cho nghệ nhân Chăm. Vào thời này, người Chăm đã nắm vững kỹ thuật đi biển, biết buôn bán và giao hảo tốt với các quốc gia lân bang : Trung Hoa và Java.

Vừa lo ngại vừa ganh tị sức mạnh và sự giàu có của Chiêm Thành, năm 945 vua Khmer là Rajendravarman II cùng binh sĩ băng rừng từ Angkor vào Kauthara, cướp tượng nữ thần Bhagavati bằng vàng - vị thần bảo vệ xứ sở và là biểu tượng uy quyền của Chiêm Thành - trong tháp Yan Po Nagara mang về nước ; từ sau ngày đó, vương triều Indravarman III suy yếu hẳn.

Dưới thời Indravarman III, biến cố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong của vương quốc Chiêm Thành là sự hình thành một vương quốc độc lập phía Bắc : nước Đại Cồ Việt, nhưng chỉ thực sự để lại hậu quả qua các triều vua sau. Năm 959, Indravarman III từ trần, con là Jaya Indravarman I lên thay năm 960.

Việc làm đầu tiên của tân vương là cho tạc lại tượng nữ thần Bhagavati bằng đá hoa cương để dân chúng đến thờ, năm 965 mới xong. Năm 972, Jaya Indravarman Iraq từ trần, con là Phê Mi Thuế, Paramesvaravarman I (972-982), lên thay.

Sinh hoạt chính trị của Chiêm Thành trong giai đoạn này rất là hỗn độn. Năm 978, một người tên Kinan Tache mang phẩm vật sang Trung Hoa triều cống để được phong làm vua Chiêm Thành nhưng không được nhà Tống nhìn nhận. Trong lúc đó, lợi dụng tình trạng loạn lạc tại Đại Cồ Việt (loạn thập nhị sứ quân, từ 944 đến 972), quân Chiêm Thành nhiều lần tiến lên đánh phá những quận huyện ở phía nam, gây nhiều thiệt hại nhân mạng và tài sản cho Đại Cồ Việt.

Năm 979, hay tin Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Ngô Nhật Khánh, một sứ quân Đại Cồ Việt, thuyết phục vua Paramesvaravarman I, dẫn hơn một ngàn chiến thuyền từ Chiêm Thành vào chiếm Hoa Lư, nhưng không thành. Ngô Nhật Khánh bị giết, quân Chăm phải rút về.

Tình hình chính trị của Đại Cồ Việt trong giai đoạn này cũng không lấy gì làm sáng sủa : triều đình không có vua, Hạng Lang tức Đinh Vệ Vương còn quá nhỏ (6 tuổi), mẹ là thái hậu Dương Vân Nga không thể một mình đảm đương việc nước vì phía Bắc quân Tống lăm le tiến xuống, phía Nam quân Chiêm sẵn sàng tiến lên. Năm 980, Dương Vân Nga nhường cho Lê Hoàn làm vua Đại Cồ Việt, hiệu Lê Đại Hành hoàng đế. Tân vương sai sứ sang Trung Hoa báo tin, dâng vài tù binh Chiêm vừa bắt được làm quà biếu. Vua Tống nhận tặng phẩm nhưng lại muốn duy trì ảnh hưởng tốt với Chiêm Thành, sai thống đốc Quảng Châu cho những tù binh Chiêm ăn uống rồi thả về nước.

Bực mình trước tin này, Lê Đại Hành sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang Chiêm Thành yêu cầu vua Chiêm sang bái kiến. Paramesvaravarman I, sau khi nhận lại tù binh từ nhà Tống và tin chắc sẽ được Bắc triều bênh vực nếu bị Lê Đại Hành tấn công, đã không những không sang bái kiến mà còn bắt giam sứ giả. Lê Đại Hành rất giận nhưng chưa có phản ứng.

Sau khi đánh đuổi quân Tống ra khỏi lãnh thổ phía Bắc cuối năm 980, Lê Đại Hành củng cố lại lực lượng chuẩn bị tấn công Chiêm Thành. Đầu năm 982, nhà vua dẫn đại quân tiến vào Indrapura. Đây là cuộc Nam chinh đầu tiên của người Việt. Paramesvaravarman I tử trận ngay tại cửa thành, chấm dứt triều đại Indrapura.

Lê Đại Hành tiến vào kinh đô Indrapura (Đồng Dương), giết tướng giữ thành Tỳ My Thuế, bắt sống hàng trăm vũ nữ trong hậu cung, tịch thu rất nhiều báu vật mang về nước. Bên ngoài binh lính Việt đốt phá thành trì, san phẳng lăng tẩm các vị vua Chiêm, bắt theo hàng ngàn tù binh, trong đó một nhà sư Ấn Độ tên Thiền Trước Tăng (bhiksu). Lãnh thổ Bắc Chiêm Thành (Bình Trị Thiên) bị chiếm đóng từ 982 đến 983.

Sau chiến thắng này, văn hóa và nghệ thuật (nhất là âm nhạc) Chiêm Thành chính thức được du nhập vào đời sống cung đình và dân gian Việt. Đền đài, dinh thự tại Hoa Lư được trang trí bằng những chiến lợi phẩm do các thợ Chiêm Thành chạm trổ và sản xuất ra.

Indravarman IV (Xá Lợi Đà Ngô Nhựt Hoàn), được tôn lên làm vua khi Paramesvaravarman I vừa tử trận, chạy vào Panduranga lánh nạn và chịu triều cống nhà Lê mới được yên. Năm 985, Nhựt Hoàn sai pháp sư Kinkoma sang Trung Hoa xin nhà Tống cứu viện nhưng được khuyên là nên duy trì quan hệ tốt với Đại Cồ Việt.

Tranh cãi về quyền lãnh đạo lãnh thổ Bắc Chiêm Thành đã khá gay gắt trong nội bộ triều Lê cũng, người thì đề nghị cai trị trực tiếp, người thì khuyên tản quyền. Cuối cùng một giải pháp trung gian được áp dụng : nơi nào còn đông đảo người Chăm cư ngụ thì giao cho người địa phương quản lý, nơi nào đông dân cư gốc Kinh sinh sống thì triều đình Đại Cồ Việt đặt quan cai trị trực tiếp. Sự kiện này chứng tỏ sự cộng cư giữa các nhóm cư dân địa phương sau khi Lâm Ấp giành được độc lập vẫn còn khắng khít, nhưng từ khi người Kinh bắt đầu cai trị trực tiếp lãnh thổ Bắc Chiêm Thành chống đối bắt đầu xảy ra.

Năm 983, một quản giáp (trưởng làng) người Kinh sinh sống trên lãnh thổ Bắc Chiêm Thành tên Lưu Kỳ Tông nổi lên chém đầu một người con nuôi của Lê Đại Hành, lúc đó là một quan cai trị trực tiếp, rồi xây thêm thành lũy quanh Phật Thành (Fo Che) phòng thủ lãnh thổ Bắc Chiêm Thành, mộ hơn 10.000 người và nhiều voi ngựa đánh Đại Cồ Việt. Lê Đại Hành tiến quân xuống đánh nhưng cuộc chiến đã không xảy ra, vì sau khi vượt núi Đông Cổ và sông Bà Hòa (Thanh Hóa), đại quân của nhà Tiền Lê chịu không nổi sương lam chướng khí phải rút về.

Năm 986, hay tin vua Indravartman IV (Ngô Nhựt Hoàn) của người Chăm từ trần, Lưu Kỳ Tông liền tự xưng vương và xin nhà Tống thừa nhận. Sự tiếm quyền này xúc phạm đến tín ngưỡng của người Chăm vì Lưu Kỳ Tông không xuất thân từ vương tộc hay đẳng cấp tôn giáo nào, và là một đe dọa cho cộng đồng người Hoa địa phương. Một người Chăm gốc Hoa tên Poulo Ngo dẫn theo khoảng 150 người đổ bộ lên đảo Hải Nàm và vùng duyên hải nam Quảng Châu tị nạn. Năm 988, thêm 300 người khác do Ho Siuan dẫn đầu đổ bộ lên bờ biển Quảng Châu. Người Chăm gốc Nam Đảo còn lại theo Bằng Vương La (Cu-thì-lợi Hà-thanh-bài Ma-la), một người Champa sinh sống tại Phật Thành, kháng chiến chống Lưu Kỳ Tông.

Nguyễn Văn Huy

(2002)

Đọc thêm :

Người Chăm 1 - Tìm lại anh em, nhận lại bạn bè

Người Chăm 2 - Thời kỳ xác định bản thể 

Người Chăm 3 - Thời kỳ mở nước và dựng nước 

Người Chăm 4 - Thời vàng son

Người Chăm 5 - Thời kỳ xung đột

Người Chăm 6 - Bùng lên trước khi tàn lụi

Người Chăm 7 - Cố gắng tồn tại trong khó khăn

Người Chăm 8 - Cộng đồng người Chăm tại Campuchia

Người Chăm 9 - Thư tịch về người Chăm và người Thượng ở Việt Nam

Published in Tư liệu

Người Chăm tại Việt Nam

Bài 3

Thời kỳ mở nước và dựng nước

Từ sau nửa thế kỷ thứ hai sau công nguyên, phần lãnh thổ cực nam Giao Chỉ trở nên khó trị, dân cư bản địa liên tục nổi lên chống lại chính sách cai trị hà khắc của chính quyền đô hộ nhà Hán. Huyện Tượng Lâm trở thành nơi tranh chấp thường trực giữa quan quân đô hộ và nhân dân địa phương.

Năm 190, người Tượng Lâm nổi lên giết thứ sử Chu Phù và chiếm huyện thành. Vài năm sau, năm 192, dân cư Tượng Lâm lại nổi lên giết huyện lệnh (huyện trưởng) và tôn Khu Liên, con một quan công tào (xã trưởng) địa phương, lên làm vua. Khu Liên tự tiện xén một phần lãnh thổ cực nam của quận Nhật Nam - huyện Tượng Lâm – thành lập một vương quốc riêng : Lâm Ấp.

 

Lâm Ấp : một biến cố lịch sử

Cho đến nay gần như không một sử gia Việt Nam nào quan tâm đến biến cố Lâm Ấp. Có lẽ nhiều người cho rằng Lâm Ấp không quan trọng vì không dính líu gì, nếu không muốn nói là thù địch, với người Việt Nam. Tất cả đều rất lầm. Cuộc nổi dậy của người Lâm Ấp là của chính dân tộc Việt Nam, người Việt cổ, vào thời đó. Lâm Ấp là một biến cố lịch sử trọng đại, mở đầu giai đoạn đấu tranh giành độc lập của những dân tộc bị đặt dưới ách đô hộ của người Hán.

cham7

Lãnh thổ Lâm Ấp (dưới đèo Hải Vân) thời nhà Lý (thế kỷ 11) - Nguồn : nghiencuulichsu.com

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, một lãnh thổ đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của thiên triều đã tự tách ra và tuyên bố độc lập. Sự kiện này trái với nguyên tắc tổ chức tập quyền của người Hoa, vì từ thế kỷ thứ hai trước công nguyên trở đi, dưới thời nhà Hán, nguyên tắc trung ương tập quyền đã là nền tảng của các chính sách cai trị của người Trung Hoa, do đó không có ngoại lệ.

Giao Chỉ thời đó là một phần lãnh thổ Trung Hoa, các quan cai trị đều do thiên triều trực tiếp chỉ định, mọi ý đồ ly khai hay tự trị đều bị trừng trị. Mục đích của chính sách trung ương tập quyền này là giữ gìn và bảo vệ sự toàn vẹn giống nòi, người Hán không chấp nhận bất cứ một pha trộn chủng tộc nào ngoài chủng tộc Hán với nhau.

Một lấn cấn khó chịu là trong suốt thời Bắc thuộc, đại bộ phận giới "quí tộc" Lạc Việt (Lạc hầu và Lạc tướng), và người Kinh - bị khuất phục bởi văn minh và văn hóa do người Hán mang lại - đã hợp tác với người Hán trong việc quản trị đất nước, đương nhiên ở những địa vị thấp hơn. Những cuộc nổi dậy chống lại chính sách cai trị hà khắc và muốn tách khỏi văn minh và văn hóa của người Hán, phần lớn đều do người Mường (hai Bà Trưng năm 42 và bà Triệu năm 248) và người Nam Đảo (Mai Thúc Loan năm 722) khởi xướng.

Những cuộc nổi dậy của người Kinh - Lý Bí, Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử (thế kỷ 6 và 7), Phùng Hưng và Dương Thanh (thế kỷ 8), Khúc Thừa Mỹ và Dương Đình Nghệ (thế kỷ 10) - đều xuất phát từ động cơ bất mãn của những người cộng tác không được ưu đãi hơn là ý chí giành độc lập hay muốn tách khỏi ảnh hưởng của người Hoa. Chỉ đến thời Ngô Quyền ý chí độc lập của người Việt mới rõ ràng nhưng người Kinh lại xem người Chăm là đối thủ, nên đã không ngừng phân biệt đối xử vì văn hóa khác biệt và uy hiếp họ trong suốt thời kỳ tự chủ, quên hẳn quá khứ ruột thịt đã qua.

Trở về với Lâm Ấp, sau khi thành lập vương quốc riêng có lẽ Khu Liên không có ý định tách rời ảnh hưởng văn minh và văn hóa Trung Hoa, nhưng với thời gian quyết tâm tách khỏi quỹ đạo Trung Hoa ngày càng rõ nét. Sở dĩ có sự đoạn tuyệt này là vì tổ chức chính trị xã hội của người Hoa không còn phù hợp với nền tảng chính trị xã hội Lâm Ấp nữa.

Vào thời kỳ này, thương nhân và tu sĩ Ấn Độ đã giao tiếp mật thiết với người Chăm sinh sống ven biển miền Trung. Khi ở lại chờ thuận buồm xuôi gió trở về quê cũ, những người Ấn này đã truyền cho giới quí tộc địa phương văn minh và văn hóa của họ, và đương nhiên truyền luôn cả cách thức tổ chức xã hội. Khác với người Hoa, tổ chức xã hội của người Ấn dựa trên nguyên tắc tản quyền và phân quyền, phù hợp với nếp sống và ước nguyện tự trị của người địa phương nên rất được ưa chuộng. Đặc điểm của người Ấn là không dùng bạo lực để áp đặt văn hóa hay uy quyền chính trị của mình trên những xã hội khác, kém hơn, mà để các thân hào địa phương tự nguyện làm thay, sau khi hấp thụ văn minh và văn hóa của họ.

Tranh chấp văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ trong nội bộ Lâm Ấp ngã ngũ sau khi Khu Liên qua đời, chữ Phạn cổ (sanscrit, một loại chữ viết xuất phát từ miền nam Ấn Độ cách đây hơn 2.000 năm) trở thành chữ viết chính thức của các triều vương Lâm Ấp. Các bia ký tìm được trong giai đoạn này đều khắc bằng chữ Phạn. Quốc thư trao đổi của Lâm Ấp với Trung Hoa thời đó được viết bằng chữ "Hồ" (chữ của nước Hồ Tôn Tinh, tức chữ Phạn) thay vì chữ Hán. Văn hóa Ấn Độ, từ phía Nam đưa lên, trở thành văn hóa của toàn vương quốc Lâm Ấp. Đạo Bà La Môn và đạo Phật được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, lấn át ảnh hưởng đạo Khổng và đạo Lão của văn hóa Trung Hoa để lại trong vương quốc. Cũng nên biết thờ cúng ông bà là tín ngưỡng dân gian của người bản địa, Kinh hay Chăm, do đó rất được kính trọng, giáo lý và nghi lễ các tôn giáo khác phải thích hợp theo nếu muốn được ủng hộ.

Về chính trị, các vị vua Lâm Ấp đều gán ghép tên mình với một thần linh, thường là với Siva (còn gọi là Isvara) để có độc quyền cai trị. Uy quyền vua thể hiện qua cái lọng màu trắng mà dân gian không được dùng. Phụ tá nhà vua là các quan lại trung ương và địa phương, được phân chia thành ba hạng : đứng đầu là hai vị tôn quan (senapati và tapatica-hai tể tướng võ và văn), kế là thuộc quan gồm ba hạng : luân đa đinh (dandavaso bhatah-tướng chỉ huy cấm vệ), ca luân trí đế (danay pinang, quan hầu trầu) và ất tha già lan (yuvaraja-kế vương), sau cùng là ngoại quan (quan lại địa phương). Quân lực Lâm Ấp khoảng từ 40 đến 50.000 người, gồm kỵ binh, tượng binh và thủy binh.

Triều đình Trung Hoa có lẽ cũng muốn chấm dứt tình trạng tranh chấp văn hóa và chính trị kéo dài quá lâu này nên đã chấp nhận sự ly khai một cách miễn cưỡng, họ đặt tên quốc gia mới này là Lâm Ấp, thay vì Hồ Tôn Tinh hay Tượng Lâm như trước kia, và duy trì mối quan hệ tốt để nhận càng nhiều phẩm vật triều cống càng tốt.

Về danh xưng, Lâm Ấp chỉ là sự biến nghĩa của chữ Tượng Lâm. Đối với nhà Đông Hán, danh xưng Lâm Ấp là một khinh miệt, vì đó chỉ là một phần đất nhỏ không quan trọng ở vùng cực nam để thiên triều phải quan tâm trực tiếp. Sách Thủy Kinh Chú giải thích : "Lâm Ấp là huyện Tượng Lâm, sau bỏ chữ Tượng để chỉ còn chữ Lâm".

cham7

Địa danh Tượng Lâm (đèo Hải Vân) dưới thời nhà Hán (thế kỷ 2 sau công nguyên) - Nguồn : nghiencuulichsu.com

Cũng nên biết ngôn ngữ Trung Hoa trong thời kỳ này có nhiều hạn chế trong việc phiên âm các tên ngoại quốc : Lâm Ấp là cách phát âm Việt hóa từ chữ Lin-yi, phiên âm từ chữ "Hindi" hay "Indi", tức người Ấn. Có người nói đó là cách phiên âm từ chữ Phạn "Indirapura" (đất của người Ấn Độ). Về sau người Chăm đặt tên phần đất từ Quảng Bình đến Thừa Thiên là Indrapura (đất của Indra, thần sấm sét).

Lâm Ấp cũng có thể do sự phát âm Việt hóa từ chữ "Krom" hay "Prum" (hai tộc của người Việt cổ) mà ra. Bình dân hơn người ta giải thích : Lâm là rừng, Ấp là thôn nhỏ v.v... Nói chung, cho dù diễn giải thế nào Lâm Ấp là một định chế độc lập với vương triều Trung Hoa tại Giao Chỉ.

Về tên gọi Khu Liên cũng thế, có rất nhiều tranh cãi. Sử sách Trung Hoa viết tên vị vua đầu tiên của Lâm Ấp là Khu Liên, có sách viết là Khu Quỳ, Khu Đạt hay Khu Vương. Nhiều sử gia cho rằng Khu Liên thuộc dòng dõi của bộ tộc Dừa ở phía Bắc…

Thật ra Khu Liên không là tên của người nào cả, đó chỉ là cách gọi một cách kính trọng một người có ngôi vị cao trong một định chế tập thể (làng, xã, huyện…). Đối với dân chúng địa phương, "Khu" không phải là tên riêng mà là tước vị của một tộc trưởng (lãnh chúa), phiên âm từ chữ "Kurung" (như các vua Hùng) của người Việt cổ – hay chữ "Varman" của người Chăm từ tiếng Phạn, có nghĩa là tước tộc trưởng, lãnh chúa hay vua.

Trước đó, năm 137, các quan đô hộ nhà Hán gọi quân phản loạn ở Tây Quyển (Quảng Bình) là "rợ Khu Liên". Như vậy Khu Liên chỉ là tên gọi chung những người không cùng văn hóa với người Hán ở phía nam Giao Chỉ. Tên gọi này không liên quan gì đến danh xưng Sri Mara (tên một vị vương tôn người Chăm khác cùng thời kỳ, con bà Lona Lavana ở Panduranga) tìm thấy trên một bia ký bằng đá hoa cương granít (ngang 1 mét, dày 1 mét, cao 2,5 mét) ở làng Võ Cạnh (nay thuộc xã Vĩnh Trung), Nha Trang.

Về địa lý, vương quốc Lâm Ấp ở đâu, rộng hẹp như thế nào ? Còn rất nhiều điểm tối, không ai rõ. Theo sử cổ Trung Hoa thì lãnh thổ vương quốc này là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam, phía nam huyện Lô Dung (Thừa Thiên ngày nay). Đường Thư nói Lâm Ấp từ huyện Tây Quyển (Quảng Bình) trở xuống. Đại Nam Nhất Thống Chí nói Tượng Lâm là Bình Định và Phú Yên. Thủy Kinh Chú cho biết thủ phủ Lâm Ấp lúc đầu không biết ở đâu, sau được biết đặt tại Khu Lật (Huế, Thừa Thiên), phía Nam có sông Lô Dung (sông Hương) chảy qua. Một cách tóm lược, dựa vào sử sách xưa, lãnh thổ Lâm Ấp có thể đã trải dài từ Quảng Bình đến Quảng Nam.

Một số chuyên gia Champa cho rằng Lâm Ấp là lãnh thổ Indrapura (đất của thần Indra), từ mũi Hoành Sơn đến đèo Hải Vân, do vương triều Gangaraja, tức những người Ấn Độ đến từ sông Gange, khai sinh ra. Sự kiện này cần được ghi nhận với tất cả dè dặt vì cho đến nay chưa một dấu tích bia ký nào giải thích sự kiện này.

 

Các triều vương Lâm Ấp

 

Triều vương thứ nhất (192-366) : khai sinh vương quốc

Khu Liên lên ngôi năm 192, trị vì trong nhiều năm, nhưng không biết mất năm nào và ai là người kế vị. Sử cổ Trung Hoa (Lương thư) cho biết trong khoảng thập niên 220-230, con cháu Khu Liên có gởi phái bộ đến thống đốc Quảng Đông và các thái thú Giao Châu (Lã Đại và Lục Dận) triều cống và duy trì quan hệ ngoại giao.

Sự kiện nổi bật sau thời Khu Liên là cuộc dấy binh của bà Triệu năm 248 tại quận Cửu Chân chống lại quân Đông Ngô (Trung Hoa). Bà Triệu, còn gọi là Triệu Trinh Nương, là một thiếu nữ Mường cưỡi voi ra trận làm khiếp đảm quân địch. Bà Triệu cũng là mẫu người lý tưởng của chế độ mẫu hệ : thân hình nẩy nở (vú dài ba thước ta !?) và can đảm (dám đứng ra gánh vác việc nước). Có lẽ trong giai đoạn này con cái của Khu Liên gia nhập vào đội quân của bà Triệu rất đông vì cuộc khởi nghĩa này được sử Trung Hoa ghi nhận là cuộc nổi dậy của nhân dân Lâm Ấp.

Nhà Đông Ngô phong danh tướng Lục Dận tước An Nam hiệu úy, tức thứ sử, sang Giao Châu dẹp lọan. Lục Dận vừa dùng mưu vừa làm áp lực chiêu dụ các bộ lạc nổi loạn ; sau hơn 6 tháng cầm cự quân của Bà Triệu bị cô lập và bị đánh bại phải chạy về miền Nam lánh nạn. Lục Dận xua quân xuống chiếm Khu Lật (Huế), bắt theo hàng ngàn thợ khéo tay mang về Giao Châu rồi dâng cho nhà Đông Ngô năm 260. Những vùng đất bị nghĩa quân Lâm Ấp chiếm đóng đều bị lấy lại. Lãnh thổ Lâm Ấp trở về vị trí cũ, tức huyện Tượng Lâm, quân Đông Ngô không dám tiến xuống xa hơn.

Có lẽ truyền nhân đích tôn của Khu Liên đã chết trong cuộc khởi nghĩa này vì không còn được nhắc tới nữa. Sách Lương thư cho biết năm 270, cháu ngoại của Khu Liên là Phạm Hùng (Fan Hiong hay Fan Hsung) lên làm vua.

Cũng nên biết "Phạm" ở đây là cách phiên âm Hán hóa từ chữ "Po" (hay Pô, Phò, Pha) của người Chăm, tức là người đứng đầu, lãnh tụ hoặc là ngài, chứ không phải là cách phiên âm từ chữ "varman" của người Ấn, cũng có nghĩa là vua, vương, ngài, hay "họ Phạm" của người Việt Nam mà ra. Cũng nên biết người Lâm Ấp theo chế độ mẫu hệ, chỉ có tên chứ không có họ.

Dưới thời Phạm Hùng, lãnh thổ Lâm Ấp được nới rộng tới thành Khu Túc, cạnh sông Gianh, phía bắc và tới Khánh Hòa (Kauthara) phía nam. Phạm Hùng cũng đã chinh phục và thống nhất các tiểu vương quốc khác nằm trong các lõm đất dọc duyên hải miền Trung : Amavarati (Quảng Nam), Vijaya (Quảng Ngãi, Bình Định) và một phần lãnh thổ Aryaru (Phú Yên). Nhưng sau hơn 10 năm chinh chiến (271-282), Phạm Hùng bị quân Tây Tấn (do Đào Hoàng chỉ huy) đánh bại, năm 283 con là Phạm Dật (Fan Yi) lên ngôi thay. Năm 284, Phạm Dật gởi một sứ bộ sang Trung Hoa cầu hòa ; Lâm Ấp được thái hòa và Phạm Dật trị vì 52 năm thì qua đời.

 

Triều vương thứ hai (337-420) : mở rộng vương quốc

Phạm Dật qua đời năm 336, một tể tướng cướp ngôi vua tự xưng Phạm Văn (Fan Wen). Phạm Văn không phải là người Chăm mà là một người gốc Hoa quê ở Dương Châu, bị bán làm nô lệ cho một quan cai trị huyện Tây Quyển tên Phạm Tương. Năm 15 tuổi, vì phạm tội gian, Văn trốn theo một thương gia người Lâm Ấp sang Trung Hoa và Ấn Độ buôn bán, nhờ đó đã học hỏi được kỹ thuật luyện kim và xây thành lũy của người Hoa. Khi về lại Lâm Ấp năm 321, Văn trở thành người thân tín của Phạm Dật và được giao trọng trách xây thành, đắp lũy, dựng cung đài theo kiểu Trung Hoa, chế tạo chiến xa và vũ khí, chế biến dụng cụ âm nhạc v.v... và được thăng chức tể tướng.

Dưới thời Phạm Văn, kỹ thuật luyện sắt (rèn kiếm, đúc lao) đạt đến tột đỉnh. Nhà vua áp dụng văn minh Ấn Độ thẳng vào đời sống : cải tổ lại hệ thống quan lại theo khuôn mẫu Ấn Độ, nhờ đó guồng máy tổ chức chính quyền chạy đều và mang lại hiệu quả tốt ; xây dựng thủ phủ chính trị tại Khu Lật (K’iu-sou, hay Thành Lồi, tức Huế), hình chữ nhật, chu vi 2100 mét, tường cao 8 mét, có 16 cửa, dân chúng sống chung quanh chân thành, mỗi khi có loạn, các cửa thành đều đóng lại. Với thế mạnh này, Phạm Văn đánh thắng hai nước Đại Kỳ Giới và Tiểu Kỳ Giới (có thể đây là hai vương quốc trên đất Lào ngày nay), chinh phục nhiều bộ lạc khác như Che Phou, Siu Lang, Khiu Tou, Kan Lou và Fou Tan (có thể là những bộ lạc thiểu số gốc Thái trên dãy Trường Sơn), tăng cường số phụ nữ mang về từ các lãnh thổ đánh chiếm được và tăng nhân số trong quân đội (khoảng từ 40.000 đến 50.000 người).

cham9

Khu vực tranh chấp ở vùng cực Nam : Nhật Nam, Tượng Lâm, Lâm Ấp - Nguồn : nghiencuulichsu.com

Năm 340, Phạm Văn xin nhà Đông Tấn cho sát nhập quận Nhật Nam, gồm các huyện Tây Quyển, Tỷ Cảnh, Chu Ngô, Lô Dung và một phần đất phía nam quận Cửu Chân huyện Hàm Hoan (Thanh Hóa) vào lãnh thổ Lâm Ấp nhưng không được toại nguyện. Phạm Văn liền xua quân tiến công sâu vào nội địa Nhật Nam, chiếm huyện Tây Quyển, giết thứ sử Hạ Hầu Lâm, lấy mũi Hoành Sơn (nam Thanh Hóa) làm biên giới phía bắc, cho xây lại thành Khu Túc (cạnh sông Gianh) phòng giữ. Từ đó phần lãnh thổ từ đèo Ngang trở xuống thuộc về Lâm Ấp và cũng kể từ đó phía bắc đèo Ngang là nơi xảy ra những trận thư hùng giữa Lâm Ấp và Giao Châu trong suốt hai thế kỷ 4 và 5. Năm 349 nhà Đông Tấn phản công, quân Lâm Ấp bị đánh bại, Phạm Văn bị trọng thương và qua đời, con là Phạm Phật (Fan Fo) lên thay.

Phạm Phật là một vị tướng tài ba, được nhiều sử gia cho là người mở đầu vương triều Gangaraja (Bắc Chiêm Thành). Vừa lên ngôi, Phạm Phật tấn công quân Đông Tấn tại Nhật Nam và vây thành Cửu Chân. Năm 351, quân Lâm Ấp bị đánh bại phải bỏ chạy về phía tây tại Lãng Hồ, huyện Thọ Lãnh (Thanh Hóa), thành Khu Túc bị chiếm, ranh giới được thiết lập lại tại huyện Tỷ Cảnh gần sông Nhật Lệ (Quảng Bình). Năm 359, quân Đông Tấn chiếm huyện Thọ Lãnh và đánh bại quân Lâm Ấp tại vịnh Ôn Cấn, chiếm thành Khu Túc ; Phạm Phật xin hòa và gởi sứ bộ sang Trung Hoa triều cống (372 và 377). Phạm Phật mất năm 380 nhường ngôi cho con là Phạm Hồ Đạt.

Phạm Hồ Đạt (Fan Houta) được nhiều học giả cho là vua Dharmamaharaja, hiệu Bhadravarman I, người sáng lập vương triều Gangaraja. Dưới thời Phạm Hồ Đạt, Phật giáo tiểu thừa (Thevada) phát triển mạnh, nhiều nhà sư đến trực tiếp từ Ấn Độ sang truyền đạo.

Thành Khu Lật (Huế) vẫn là trung tâm chính trị nhưng đổi tên thành Kandapurpura, nghĩa là Phật Bảo Thành (vì là nơi có nhiều đền đài và hình tượng Phật và Siva). Bên cạnh đó nhà vua còn cho xây dựng thêm một trung tâm tôn giáo mới tại Amavarati, tức thánh địa Hào Quang (nay là Mỹ Sơn, một thung lũng cách Đà Nẵng 70 km về phía tây). Nhiều đền thờ Bà La Môn được xây dựng tại Mỹ Sơn để thờ thần Siva và tượng Linga, tượng trưng sức mạnh phái nam. Ngôi đền đầu tiên được xây bằng gỗ vào cuối thế kỷ 4 mang tên Bradresvara, kết hợp giữa tên vua Bradravarman I và thần Isvara (hay Siva). Kể từ thế kỷ thứ 4 trở đi lãnh tụ chính trị và tôn giáo tại Lâm Ấp là một : thờ thần tức thờ vua, vua thay mặt thần Siva cai quản muôn dân. Siva vừa là thần bảo hộ xứ sở vừa là vị thần giữ đền (Dvarapala) để dân chúng đến thờ phượng và dâng lễ vật.

Năm 399, Phạm Hồ Đạt mang quân chiếm quận Nhật Nam, giết thái thú Khổng Nguyên, tiến công quận Cửu Đức, bắt sống thái thú Tào Bính nhưng bị quân của thống chế Đỗ Viện đánh bại phải rút về dưới đèo Ngang. Năm 413, Phạm Hồ Đạt mang bộ binh chiếm đóng Nhật Nam, ra lệnh cho thủy binh đổ bộ vào Cửu Chân đốt phá các làng xã ven duyên. Thứ sử Đỗ Tuệ Độ mang quân ra nghinh chiến, chém được con của Phạm Hồ Đạt là Phạm Trân Trân (tiểu vương đất Giao Long) và tướng Phạm Kiện, bắt làm tù binh hơn 100 người, trong có một hoàng tử tên Na Neng, tất cả đều bị chém đầu. Phạm Hồ Đạt trốn vào rừng sâu rồi mất tích. Trong khi chưa tìm được một vị vua mới, triều đình Lâm Ấp tiếp tục triều cống Trung Hoa để được yên về chính trị.

Trong thời gian từ 413 đến 420, con cháu Phạm Hồ Đạt tranh giành ngôi vua, nội chiến xảy ra khắp nơi. Năm 413, một người con của Phạm Hồ Đạt là Địch Chớn (Ti Chen), đạo sĩ Bà La Môn, được triều thần đưa lên ngôi vua, hiệu Gangaraja (tức sông Gange bên Ấn Độ). Địch Chớn là người đam mê văn hóa Ấn Độ muốn nhường ngôi cho em là Địch Khải (Ti Kai) để sang Ấn Độ sống những ngày cuối đời, nhưng Địch Khải sợ bị triều thần ám hại, dẫn mẹ chạy trốn vào rừng. Ngôi báu đành nhường cho Manorathavarman, cháu Địch Chớn nhưng tể tướng Thiếu Lâm (Tsang Lin) chống lại vì người này không được sinh ra từ một người mẹ có dòng máu tinh khiết (tức đẳng cấp Brahman), nên bị Manorathavarman giết chết.

Triều vương thứ ba (420-530) : tranh chấp với Trung Hoa

Năm 420, con cháu của Thiếu Lâm ám sát vua Manorathavarman và đưa người em cùng mẹ khác cha của Địch Chớn là Văn Địch (Wen Ti) lên thay. Văn Địch xưng hiệu là Phạm Dương Mại I (Yan Mah hay Fan Yang Mai), có nghĩa là Hoàng tử Vàng, nhưng không trị vị lâu vì bị chết trong một cuộc tấn công của quân Đông Tấn. Con là thái tử Đốt, 19 tuổi, được nhà Đông Tấn phong vương năm 421, hiệu Dương Mại II.

Nhân tình thế loạn lạc bên Trung Hoa (nhà Tống dẹp nhà Đông Tấn), năm 431, Dương Mại II dẫn hơn 100 chiến thuyền tấn công các làng ven biển tại cửa Thọ Lãnh, Tứ Hội và Châu Ngô (quận Nhật Nam và Cửu Chân) nhưng bị đánh bại, quân Tống chiếm thành Khu Lật, Dương Mại II chạy trốn ra Cù Lao Chàm (Quảng Nam). Năm 433, Dương Mại II xin "lãnh" đất Giao Châu về cai trị nhưng vua Tống không chịu, chiến tranh lại xảy ra. Năm 443 vua Tống Du Long phong thống chế Đàn Hòa Chi làm thứ sử Giao Châu, cùng hai phó tướng là Tống Xác và Túc Canh Hiến, mang đại quân đánh Lâm Ấp, Phạm Dương Mại II chạy thoát được ra cửa Tượng Phổ, vịnh Bành Long (Bình Định), tổ chức lại lực lượng, tăng cường thêm nhiều đội tượng binh rồi ra lệnh tổng phản công nhưng không địch nổi quân Nam Tống. Những người sống sót chạy sang Láng Cháng (Luang Prabang tại Bắc Lào) tị nạn, một số chạy đến Champassak (Nam Lào) ẩn náu. Đàn Hòa Chi thu rất nhiều vàng bạc, châu báu, tượng đồng và đập phá rất nhiều đền đài.

Sử Trung Hoa (Tống Thư) chép rằng Đàn Hòa Chi lấy được nhiều tượng vàng (mười người mới ôm xuể), đem nấu chảy thâu được hơn 10 vạn cân (50.000 kí-lô vàng y ?). Từ đó Trung Hoa biết Lâm Ấp có nhiều vàng nên mỗi khi có dịp là tiến quân xuống đánh cướp. Trong thời này, nhiều nhà sư Phật giáo Trung Hoa ái mộ nét kiến trúc và tượng đài trong các đền thờ tại Mỹ Sơn sang Lâm Ấp tìm hiểu và học hỏi rất đông, nhiều tượng Bồ Tát của Phật giáo Đại Thừa Trung Hoa được tìm thấy trong các chùa (như chùa Quảng Khê) trong vùng.

Trong lúc chạy trốn về phía nam, Dương Mại II chinh phục luôn các tiểu vương tại Vijaya (Bình Định), Aryaru (Phú Yên), thống nhất lãnh thổ phía Bắc. Năm 443, Dương Mại II về lại Khu Lật, thấy cảnh hoang tàn, buồn rầu rồi mất năm 446. Lãnh thổ phía Bắc của Lâm Ấp bị đẩy lùi về huyện Lô Dung (Thừa Thiên), con cháu Dương Mại II lại tranh chấp quyền hành.

Năm 455, con Dương Mại II là Phạm Chút (Fan Tou) lên ngôi, hiệu Trần Thành (Devanika). Trung tâm chính trị vẫn tại Khu Lật, nhưng Trần Thành cho xây dựng thêm một trung tâm văn hóa và tôn giáo mới tại Amaravati, gọi là thánh địa Hào Quang (Mỹ Sơn, Quảng Nam). Vương quốc Lâm Ấp tiếp tục được nới rộng xuống phía nam đến tận sông Ba (Tuy Hòa), thuộc lãnh thổ Aryaru (Phú Yên) và vùng núi non phía tây lân cận (cao nguyên Kontum, Darlac), và phía tây tới Champassak (Nam Lào), nhiều bộ lạc Thượng sống trên dãy Trường Sơn cũng theo về triều cống. Phạm Trần Thành mất năm 472, Lâm Ấp không có vua, nội bộ triều đình có biến động.

Năm 484, một người Khmer tên Phạm Đăng Căn Thăng (Kieou Tcheou Lo), con vua Phù Nam Jayavarman tị nạn tại Lâm Ấp, cướp ngôi và cầm quyền trong gần 20 năm. Năm 492, con Phạm Trần Thành là Phạm Chư Nông giết Căn Thăng giành lại ngôi báu.

Phạm Chư Nông bị chết đuối năm 498, con cháu tiếp tục trị vì đến năm 527 : Phạm Văn Tổn (Fan Wen Kuoan) trị vì từ 498 đến 502, Phạm Thiên Khởi hiệu Devavarman (510-514) và Cao Thức Thắng Khởi hiệu Vijayavarman hay Bật Tôi Bật Ma (526-527).

 

Triều vương thứ tư (529-757) : củng cố và ổn định lãnh thổ

Năm 529, Vijayavarman mất không người kế tự. Triều đình Lâm Ấp phong Luật Đa La Bật Ma lên làm vua, hiệu Rudravarman I. Năm 577 Luật Đa La Bật Ma mất, con là Prasastadharma lên kế nghiệp, hiệu Phạm Phạn Chi (Sambhuvarman).

Dưới thời Phạm Phạn Chi, văn hóa Lâm Ấp tỏa rộng khắp Đông Nam Á. Năm 598, nhà Tùy chiếm dóng Lâm Ấp và phân chia thành ba châu : châu Hoan (Tỷ Cảnh), châu Ái (Hải Âm) và châu Trong (Khương). Năm 605, Phạm Phạn Chi dời kinh đô về Sinhapura, thành phố Sư Tử (nay là Trà Kiệu, cạnh sông Thu Bồn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Danh xưng Campa (Chiêm Thành) chính thức xuất hiện trong thời này.

Năm 629 Phạm Phạn Chi mất, con là Phạm Đầu Lê (Kandharpardharma) kế nghiệp. Năm 645 Phạm Đầu Lê qua đời, vương triều Lâm Ấp loạn lạc. Phạm Trấn Long (Prabhasadharma), con Đầu Lê, vừa giành được ngôi vua liền bị giết chết, dân chúng đưa con trai của một công chúa, em gái của Trấn Long, tên Chư Cát Địa lên làm vua, hiệu Bhadresvaravarman (là sự ghép tên giữa thần Bradresvara và vị tổ Bradravarman). Chư Cát Địa làm vua được một năm (646) thì bị triều thần lật đổ, công chúa Tchou Koti, con gái của chánh phi của Phạm Đầu Lê, được tôn lên làm nữ vương, hiệu Jagaddharma. Đức độ của bà Jagaddharma rất được dân chúng kính trọng. Sau khi qua đời, nữ vương Jagaddharma được dân chúng lập đền thờ tại tháp Po Nagar (Xóm Bóng, Nha Trang).

Năm 653 Tchou Koti nhường ngôi cho chồng (người Khmer) tên Prakasadharma (Po Kiachopamo), hiệu Vikrantavarman I. Năm 685, Vikrantavarman I qua đời, nhường ngôi cho con là Vikrantavarman II (Kientotamo).

Dưới thời Vikrantavarman II, văn hóa Lâm Ấp tỏa khắp Đông Nam Á, các quốc gia lân bang đều muốn kết thân.

Năm 731, Vikrantavarman II qua đời, con là Rudravarman II (Lutolo) trị vì đến năm 757 thì mất. Con là Bhadravarman II lên thay nhưng bị các vương tôn miền Nam hạ bệ, chấm dứt vai trò lãnh đạo của vương triều miền Bắc.

Nguyễn Văn Huy

(2002)

Đọc thêm :

Người Chăm 1 - Tìm lại anh em, nhận lại bạn bè

Người Chăm 2 - Thời kỳ xác định bản thể 

Người Chăm 3 - Thời kỳ mở nước và dựng nước 

Người Chăm 4 - Thời vàng son

Người Chăm 5 - Thời kỳ xung đột

Người Chăm 6 - Bùng lên trước khi tàn lụi

Người Chăm 7 - Cố gắng tồn tại trong khó khăn

Người Chăm 8 - Cộng đồng người Chăm tại Campuchia

Người Chăm 9 - Thư tịch về người Chăm và người Thượng ở Việt Nam

Published in Tư liệu

Thế lực thù địch ở đâu mà nhiều thế ! Trang mạng báo QĐND điện tử có thành lập một cột riêng, mang tên "Chống diễn biến hòa bình", chỉ để lên án, tố cáo hay đổ thừa cho các thế lực thù địch tiếp tay gây khó khăn cho chế độ cộng sản Việt Nam trong việc giải quyết những vấn đề nội bộ.

thudich1

Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn đâu cũng thấy thế lực thù địch

Những tác giả của cột này, chắc chắn là sĩ quan cao cấp, chí ít cũng phải là đại tá, đã thay mặt ban tuyên huấn trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam viết những bài bình luận tố cáo hay lên án những chống đối tự phát của người dân trong nước, kể cả những vụ án do chính chế độ đứng ra xét xử.

Gần đây dư luận trong nước bàn luận nhiều về quân đội làm kinh doanh. Quả là một điều bất thường. Chức năng đầu tiên của quân đội là bảo vệ tổ quốc và chống ngoại xâm, nhưng tại Việt Nam không có gì là bất thường. Quân đội còn đảm nhiệm nhiều vai trò lạ lùng hơn nữa : làm kinh tế, làm dịch vụ, làm môi giới bất động sản, làm trung gian vận chuyển hàng lậu, khai thác gỗ rừng, phá danh lam thắng cảnh để bán đất và đá.

Quan trọng hơn nữa, quân đội còn làm chính trị. Hiện nay quân đội đang lấn lướt đảng để giành vai trò chỉ đạo chính trị. Tổng cục chính trị quân đội đang làm nhiệm vụ tuyên huấn và chỉ đạo an ninh nội chính. Có thể nói quân đội là một chính quyền trong chính quyền. Quân đội có toàn quyền trên tất cả mọi quyền, lãnh đạo mỗi đơn vị quân đội là một sứ quân mà không ai dám làm phật lòng (có thể mất mạng như chơi).

Vì muốn được yên ổn làm ăn, quân đội không muốn bị làm phiền, nhất là giới đối lập bất đồng chính kiến, những nhà đấu tranh ôn hòa chỉ lên tiếng bảo vệ kẻ yếu và lẽ phải. Vấn đề là dư luận quốc tế, quân đội và đảng cộng sản không thể muốn làm gì thì làm. Do đó muốn bịt miệng đối lập, đảng và quân đội phải đẻ ra những cụm từ như "thế lực thù địch", "diễn biến hòa bình", "hoạt động lật đổ" để gây lo sợ và vận động bảo vệ đảng kiểu "còn đảng cò mình".

Khi nhét vào miệng người dân hai chữ "chính trị", đảng cộng sản tin rằng ma lực của cụm từ này sẽ làm im bặt những tiếng nói phản kháng. Điều này có lẽ đã thành công trong quá khứ vì không nhiều thì ít những ai bị bắt về các tội chống đối nhà nước đều đã im bặt khi vừa bước qua ngưỡng cửa nhà tù để về nhà. Nhưng ngày nay, khi lạm dụng một cách quá đáng hai chữ này, chính quyền cộng sản đang nhận lại những hậu quả ngược. Rất nhiều tiếng nói bất đồng muốn được chính quyền gán ghép vào những tội chính trị.

Quốc gia nào cũng có Bộ Luật hình sự, nhưng Bộ Luật hình sự Việt Nam ngoài việc liệt kê những tội hình sự còn có một chức năng khác : biểu tượng đàn áp chính trị. Tất cả những hành vi cao thượng như bảo vệ nhân quyền, bênh vực lẽ phải, bênh vực kẻ yếu, chống cường hào ác bá, chống cướp đất cướp nhà, chống hà hiếp dân, chống ô nhiễm… đều bị chính quyền cộng sản Việt Nam kết thành tội chính trị, theo của điều 88, 79, 87, 245, 258… của Bộ Luật hình sự.

Nói chung, biết đã làm mất lòng dân Đảng Cộng sản Việt Nam rất lo sợ những bất ngờ xảy ra sau mỗi biến cố xã hội. Bất cứ ai - cán bộ về hưu, giáo dân, nông dân… - chính quyền cộng sản đều nghi ngờ là thế lực thù địch.

Dưới đây là những bài viết phản ánh tâm trạng lo sợ đó trên trang mạng của báo QĐND điện tử.

Nguyễn Văn Huy

*****************

Đằng sau chiêu trò "chính trị hóa" các vụ án hình sự (QĐND, 14/08/2017)

Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch thường áp dụng khi thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" là "chính trị hóa" các vụ án hình sự. Từ những vụ án đơn lẻ, các thế lực thù địch thổi phồng, xuyên tạc, suy diễn lái vụ việc sang hướng khác rồi quy kết thành những vấn đề chính trị của từng quốc gia. Tình hình chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với Việt Nam thời gian gần đây càng cho thấy rõ điều đó.

Một điều chúng ta không khó để nhận ra trong thời gian qua là các thế lực thù địch cùng những phần tử cơ hội chính trị, phản động trong và ngoài nước đã "chính trị hóa" một số vụ án hình sự bằng cách đơm đặt, dựng chuyện, xuyên tạc, suy diễn, cắt khúc, gán ghép các tình tiết trong vụ án với những vấn đề chính trị hệ trọng của đất nước, nhất là những vấn đề nóng, nhạy cảm trong xã hội để lợi dụng kích động, chống phá.

Chẳng hạn như sự việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Công an Thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án hình sự để điều tra làm rõ về tội "Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật" theo Điều 123, Bộ luật Hình sự và tội "Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản" theo Điều 143, Bộ luật Hình sự. Đây thực chất chỉ là một vụ án hình sự đơn lẻ, nhưng những kẻ "ăn không nói có" đã lượm lặt thông tin trên internet để nhào nặn rồi phán bừa rằng "vụ khởi tố này là bằng chứng cho thấy một sự đấu đá ở hậu trường"… Rõ ràng họ đã lợi dụng vụ án hình sự đơn thuần để đơm đặt rồi lái sang câu chuyện "đoàn kết nội bộ" trong Đảng, trong chính quyền… Mục tiêu sâu xa mà các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động hướng tới không gì khác là gây ra sự hoài nghi trong nội bộ, phá hoại sự đồng thuận trong xã hội, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân.

Hay từ sự việc một số phần tử xấu ở các tỉnh : Nghệ An, Hà Tĩnh… núp dưới vỏ bọc "tôn giáo" lợi dụng sự cố môi trường ở các tỉnh miền Trung kích động, lôi kéo một bộ phận giáo dân tụ tập đông người, gây rối an ninh trật tự… Xét thấy có những yếu tố cấu thành tội phạm, cơ quan chức năng các địa phương đã khởi tố vụ án để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Thực chất đây chỉ là vụ án hình sự về tội "Gây rối trật tự công cộng"… Thế nhưng thông qua một số trang mạng ở nước ngoài, các thế lực thù địch, những phần tử phản động đã "chính trị hóa" vụ việc này rồi lái câu chuyện sang vấn đề "dân chủ, nhân quyền" và cho rằng "Việt Nam đàn áp tôn giáo", "Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo"…

thudich2

Ảnh minh họa/qdnd.vn

Tương tự mới đây là vụ Lê Duy Phong, Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, bị Công an Thành phố Yên Bái khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi "lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản", theo Điều 280, Bộ luật Hình sự... Thế nhưng trên một vài trang mạng, một số phần tử phản động, có tư tưởng thù địch đã xuyên tạc, suy diễn, quy chụp theo kiểu lấy cái cụ thể để đánh giá, kết luận về cái tổng thể và cho rằng "Việt Nam vi phạm tự do báo chí", chính quyền Việt Nam "gài bẫy" để đưa các nhà báo chống tham nhũng vào vòng lao lý. Hơn thế, từ sự việc này họ còn suy diễn, xuyên tạc, bóp méo quan điểm của Đảng ta về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ; xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Không chỉ vậy, họ còn cho rằng : "Cuộc chiến chống tham nhũng là cuộc đấu đá phe cánh", "tăng cường phòng, chống tham nhũng chỉ là chiêu trò mị dân" ; có sự "bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng" của cấp ủy, chính quyền các cấp... Nguy hiểm hơn, họ còn chụp mũ cho rằng tham nhũng thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là hệ quả của cơ chế lãnh đạo độc tôn.

Cần khẳng định một vài vụ việc nêu ra trên đây chỉ là những vụ án hình sự bình thường. Tuy nhiên, thông qua những bài viết trên một số trang mạng của những người có tư tưởng cực đoan, phản động đã xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo làm sai lệch bản chất vấn đề, hướng lái dư luận sang những vấn đề chính trị, xã hội hệ trọng khác như : Tự do tôn giáo, tự do báo chí, đoàn kết nội bộ... hòng triệt để khoét sâu từng vụ việc từ đó chống phá Đảng, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mục tiêu sâu xa của họ vẫn là nhằm phủ nhận những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực, vẽ ra bức tranh méo mó về xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, để từ đó gieo rắc sự hoài nghi trong nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng ; về khả năng quản lý, điều hành của chính quyền, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, để rồi thừa cơ xúi giục, kích động những người dân nhẹ dạ, cả tin đứng lên chống lại chính quyền, đòi thay đổi cương lĩnh, thể chế chính trị, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi chuyển xã hội ta sang một xã hội "đa nguyên, đa đảng".

Từ những vấn đề lý luận chỉ ra và thực tiễn kiểm chứng, rõ ràng chúng ta không thể lấy hiện tượng để quy kết thành bản chất, không thể dùng cái đơn lẻ để quy thành hệ thống. Ấy vậy mà từ những vụ án hình sự đơn lẻ, các thế lực thù địch sẵn sàng suy diễn, gán ghép, quy chụp để từ đó đưa ra những nhận định về những vấn đề chính trị lớn trong xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chúng ta không lạ gì với chiêu trò này, bởi suy diễn, quy kết chủ quan, phiến diện trở thành thói quen, trở thành "căn bệnh" của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, phản động. Mọi sự việc, mọi vấn đề họ đều có thể suy diễn, chụp mũ miễn sao đạt được mục tiêu tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình tồn tại và phát triển, bên cạnh những thành tựu, không một quốc gia, dân tộc nào không có những vấn đề phức tạp nảy sinh. Việt Nam không phải là ngoại lệ. Trong quá trình lãnh đạo, quản lý điều hành đất nước, bên cạnh những thành quả đạt được, Đảng và Nhà nước Việt Nam không phủ nhận trong xã hội đã và đang tồn tại những vấn đề nổi cộm. Để giải quyết những vấn đề đó nhằm củng cố niềm tin trong nhân dân, Đảng, Nhà nước đã, đang và sẽ tiếp tục triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, quyết liệt ; đồng thời cũng kiên quyết lên án, đấu tranh không để các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề ấy để tiến hành các chiêu trò nhằm thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá Việt Nam.

Bản chất của chiêu trò "chính trị hóa" các vụ án hình sự nhằm chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch ngày càng hiện rõ. Thực tế cho thấy các thế lực thù địch luôn tận dụng triệt để mọi cơ hội có thể để thực hiện chiêu trò "chính trị hóa" các vụ án hình sự. Cho dù chiêu trò đó phần nào chứng tỏ sự bất lực của các thế lực thù địch trước thực tiễn sinh động của đất nước Việt Nam, nhưng cần phải thấy rõ đây là một âm mưu chính trị và hoạt động chống phá hết sức nguy hiểm. Mỗi người Việt Nam chân chính ở cả trong và ngoài nước cần nhận thức rõ về chiêu trò này và kiên quyết lật tẩy, đấu tranh, phản bác. Mặt khác mọi người dân cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, không ngộ nhận trước chiêu trò ấy, không tin vào luận điệu xuyên tạc, suy diễn, quy chụp của những phần tử cơ hội chính trị, phản động cực đoan ; không tiếp tay cho các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Kim Thanh

******************

Nghiêm trị những kẻ đội lốt "dân chủ", "nhân quyền" phá hoại đất nước (QĐND, 07/08/2017)

Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can với 6 đối tượng trong vụ án "Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" xảy ra tại Hà Nội và một số địa phương.

Sau sự việc trên, trên mạng internet, một số tổ chức, cá nhân đội lốt "dân chủ", "nhân quyền" cho rằng "Nguyễn Văn Đài vô tội"; đòi Chính phủ Việt Nam phải "trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện đối với Nguyễn Văn Đài". Những giọng điệu và đòi hỏi trên là hết sức phi lý, bởi đó là việc làm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam và hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn là rất rõ ràng.

"Ngựa quen đường cũ"                            

Dư luận chưa quên những hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam của Nguyễn Văn Đài cùng cộng sự Lê Thị Công Nhân vào thời điểm trước năm 2007. Không làm ngơ trước những hành vi vi phạm pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội của các đối tượng, tháng 3-2007, cơ quan chức năng quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, để điều tra về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Ngày 11/5/2007, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đưa ra xét xử và tuyên phạt Nguyễn Văn Đài 5 năm tù giam. Ngày 27/11/2007, tại phiên phúc thẩm, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho Nguyễn Văn Đài xuống còn 4 năm tù giam về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" theo Điều 88, Bộ luật Hình sự.

thudich3

Đối tượng Nguyễn Văn Đài. Ảnh : baotintuc.vn.

Những tưởng sau khi mãn hạn tù Nguyễn Văn Đài sẽ tỉnh ngộ. Nhưng không, y vẫn "ngựa quen đường cũ". Ngay sau khi ra tù, thông qua mạng xã hội, Nguyễn Văn Đài tiếp tục tuyên truyền xuyên tạc lịch sử dân tộc và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước. Trên trang facebook cá nhân, Nguyễn Văn Đài liên tục đăng tải các bài viết có nội dung xuyên tạc chính sách của Nhà nước, tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đặc biệt, Nguyễn Văn Đài đã tập hợp một số phần tử bất mãn, cơ hội... lập ra cái gọi là "Hội anh em dân chủ". Dưới sự điều hành của Nguyễn Văn Đài, "Hội anh em dân chủ" trở thành nơi tụ tập của những kẻ có tư tưởng, quan điểm sai trái, chuyên xuyên tạc, bịa đặt, kích động, cổ xúy cho những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước. Do nhẹ dạ cả tin, một số người trở thành nạn nhân của Nguyễn Văn Đài và "Hội anh em dân chủ" đã lầm đường, lạc lối và phải đối mặt với những bản án nghiêm khắc. Nguyễn Văn Đài còn thường xuyên trả lời phỏng vấn một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam nhằm tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tuyên truyền quan điểm đa nguyên, đa đảng... Ngoài việc có mối quan hệ rất mật thiết với tổ chức khủng bố Việt Tân, Nguyễn Văn Đài còn được biết đến với vai trò chủ chốt, khởi xướng cái gọi là "Trung tâm nhân quyền Việt Nam", "Khối 8406", "Công đoàn độc lập", "Liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam", "Hội Cựu tù nhân lương tâm"... Đó là những hội, nhóm thường xuyên có các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam… Nguyễn Văn Đài còn thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo, huấn luyện cách thức "đấu tranh bất bạo động" tại Nhà thờ Thái Hà và nhiều địa phương khác. Nguyễn Văn Đài là cộng tác viên viết blog cho RFA cùng một số trang song ngữ chuyên xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ bức tranh dân chủ, nhân quyền, kích động chống phá Việt Nam. Đáng nói nữa, trên facebook cá nhân của mình, Nguyễn Văn Đài viết nhiều bài có nội dung bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, thóa mạ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước... Thực chất những hành vi của Nguyễn Văn Đài là nhằm mục đích đầu cơ chính trị, cầu xin những đồng đô-la tài trợ từ các thế lực thù địch bên ngoài để kiếm sống và duy trì các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam... Chỉ điểm qua bấy nhiêu đã đủ khẳng định việc cơ quan chức năng khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt giữ Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn để điều tra là cần thiết và hoàn toàn đúng luật.

Bảo vệ nhân quyền hay bảo vệ kẻ chống đối ?

Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đài và các đối tượng đã rất rõ ràng. Vậy tại sao vẫn có những tổ chức, cá nhân đội lốt "dân chủ", "nhân quyền" đứng ra bênh vực cho Nguyễn Văn Đài cùng đám tay chân?! Không khó để có câu trả lời.

Là dân tộc đã phải chịu nhiều đau thương, mất mát trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, Việt Nam luôn khát khao hòa bình, ổn định để phát triển và mong muốn đóng góp cho nền hòa bình, phát triển bền vững của nhân loại. Đại đa số các chính giới và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đều hiểu rõ tâm nguyện ấy và luôn mong muốn những điều tốt đẹp sẽ đến với đất nước, con người Việt Nam. Thế nhưng bên cạnh đó vẫn còn một vài tổ chức, cá nhân vì những động cơ thấp hèn, âm mưu phá hoại Nhà nước Việt Nam, muốn làm cho Việt Nam mất ổn định chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam mất vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam suy yếu đi đến sụp đổ. Để thực hiện mục tiêu ấy, họ không từ bất cứ thủ đoạn nào, đặc biệt là trò "ném đá giấu tay" ngấm ngầm tổ chức, nuôi dưỡng, xúi giục, kích động những phần tử cơ hội như Nguyễn Văn Đài.

Cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền của con người trên tất cả các lĩnh vực. Thế nhưng chủ nghĩa cơ hội đã làm những kẻ như Nguyễn Văn Đài mờ mắt, không thấy được thực tiễn đó. Nhờ sự hà hơi, tiếp sức của một số tổ chức phản động lưu vong, đội lốt "bảo vệ dân chủ, nhân quyền", Nguyễn Văn Đài không chỉ tuyên truyền phủ nhận những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, mà còn kêu gọi, kích động người dân tụ tập biểu tình, gây rối an ninh trật tự. Cũng do mờ mắt trước những đồng đô-la kiếm được từ một vài tổ chức, cá nhân ở nước ngoài mà Nguyễn Văn Đài và đám tay chân liên tiếp có những lời nói và hành động mưu toan chống phá, lật đổ chính quyền nhân dân, đòi thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng... Chẳng lẽ Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn không thấy được một thực tế đang diễn biến ở không ít quốc gia theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập là các đảng phái tranh giành quyền lực, đấu đá lẫn nhau, gây ra những rối loạn về an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tại những quốc gia đó, chẳng những quyền dân chủ của người dân không được bảo đảm, mà tính mạng của họ cũng thường xuyên bị đe dọa... Với một người luôn rêu rao là am hiểu pháp luật như Nguyễn Văn Đài thì không thể nói là thiếu hiểu biết, không nhận thức được vấn đề. Rõ ràng Nguyễn Văn Đài và đồng bọn đã cố tình vi phạm Điều 4, Hiến pháp năm 2013 xác định quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều 79, Bộ luật Hình sự, quy định về tội "Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân".

Ấy vậy mà một vài cá nhân, tổ chức đội lốt "dân chủ", "nhân quyền" vẫn cố tình cho rằng "Nguyễn Văn Đài vô tội". Họ vu cáo chính quyền Việt Nam khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt giam Nguyễn Văn Đài và đồng bọn là vi phạm nhân quyền. Vì theo họ, Nguyễn Văn Đài và đám tay chân chỉ "bày tỏ chính kiến một cách hòa bình", chỉ là "thực hiện quyền tự do dân chủ"... Phải khẳng định rằng, ở Việt Nam, không có ai bị bắt giam do bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa. Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do của người dân, trong đó có quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận trong khuôn khổ luật pháp. Điều này không chỉ đúng với pháp luật Việt Nam, mà còn hoàn toàn phù hợp với Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền. Tại Điều 29 của Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền, khẳng định: "Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung". Mang danh "bảo vệ dân chủ, nhân quyền" nhưng chỉ nghe qua những giọng điệu của một vài cá nhân, tổ chức ấy đã đủ thấy họ hoàn toàn không phải vì nhân quyền cho Việt Nam. Thực chất, đó là hành vi bảo vệ, tiếp tay cho những kẻ âm mưu lợi dụng tự do dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do của công dân, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ nhân quyền, nhưng Việt Nam kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu và hành động đội lốt "dân chủ", "nhân quyền" để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, lợi dụng quyền tự do để chống phá Đảng và chính quyền nhân dân. Ở Việt Nam không có chỗ cho thứ "dân chủ", "nhân quyền" coi thường kỷ cương phép nước. Vụ án "Nguyễn Văn Đài cùng đồng bọn hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" sẽ được các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra mở rộng theo đúng trình tự tố tụng của Việt Nam. Cũng như ở các quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam, mọi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Đặc biệt đối với Nguyễn Văn Đài, kẻ đã qua 4 năm thụ án, 3 năm quản chế tại địa phương, được các cấp chính quyền, đoàn thể nhiều lần giáo dục, nhắc nhở, răn đe, nhưng vẫn chứng nào tật ấy thì càng phải xử lý nghiêm khắc hơn.

Kim Ngọc

Published in Quan điểm
vendredi, 14 juillet 2017 01:57

Người Hoa tại Việt Nam - Phụ lục

Nguyễn Văn Huy, tháng 3/1993)

1. Người Hoa tại Việt Nam - Lời nói đầu

2. Người Hoa tại Việt Nam - Phần Một

3. Người Hoa tại Việt Nam - Phần Hai

4. Người Hoa tại Việt Nam - Phụ lục

 

dna1

Cộng đồng Hoa kiều Đông Nam Á ít được nhiều người biết tới. Đó là một tập hợp của nhiều nhóm phương ngữ khác nhau có cùng địa dư xuất thân : nước Trung Hoa. Ảnh minh họa Khu Chinatown Bangkok

**************************************

Phụ Lục

Phụ lục 1 : Người Hoa Đông Nam Á

I. Dân số

A. Dân số gốc Hoa tại hải ngoại (1946/1955)

 

Năm Dân số Năm Dân số
1946 8.700.804 1951 12.126.874
1947 8.483.820 1952 12.536.206
1948 8.721.204 1953 13.330.192
1949 10.779.018 1954

13.472.312

 

1950 11.693.979 1955

11.693.979

 

Nguồn : C.N.A.C.O.M., Đài Bắc, 1956 (trích Tsai Maw Kuey : Les Chinois au Sud Viêt Nam, Paris 1968, tr.17)

Tòa Đại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Paris năm 1961 cho biết có 15.709.667 người Hoa sinh sống tại hải ngoại. Trong khi đó những giới chức có thẩm quyền tại Bắc Kinh cho biết có khoảng 7,5 triệu người Hoa sinh sống tại hải ngoại (sinh viên học sinh và kiều dân). Con số chính thức Hoa kiều vào tháng 6/1953 là 7.591.298 người.

Cũng nên nói thêm là những con số của chính quyền Đài Bắc (Trung Hoa Dân Quốc hay Đài Loan) không trùng hợp với những con số được đưa ra từ Bắc Kinh (Trung Quốc). Đối với Đài Loan, người Hoa sinh sống tại Hồng Kông và Singapore hay tại bất cức nơi nào có quan hệ với Đài Loan là người Hoa hải ngoại.

B. Dân số gốc Hoa tại các quốc gia ASEAN

Năm 1961, dân số người Hoa tại năm quốc gia Đông Nam Á có đông cư dân gốc Hoa được ghi nhận như sau :

                   - Việt Nam  :    1.035.000

                   - Thái Lan   :    3.690.000

                   - Hồng Kông :   2.780.000

                   - Malaysia   :    2.286.883

                   - Indonesia :    2.000.000

Năm 1989 dân số gốc Hoa trong cộng đồng ASEAN được ghi nhận như sau :

                   - Brunei        :         60.000

                   - Indonesia   :     5.300.000

                   - Malaysia    :     5.600.000

                   - Philippines :        700.000

                   - Singapore  :     1.900.000

                   - Thái Lan    :     4.500.000

                                    -------------------------

                   Tổng cộng  :     18.060.000 người

Dân số gốc Hoa trong vùng đại diện 6% dân số trên một tổng số khoảng 300 triệu người. Nhưng tỷ lệ nhỏ bé này không thể che giấu khối lượng quan trọng về kinh tế mà cộng đồng này chiếm giữ. Tuy giữ một địa vị kinh tế quan trọng nhưng cộng đồng Hoa kiều ít được nhiều người biết tới. Đó là một tập hợp của nhiều nhóm địa phương khác nhau có cùng địa dư xuất thân : nước Trung Hoa. Ảnh hưởng của cộng đồng Hoa kiều này, tùy hoàn cảnh kinh tế, chính, trị văn hóa không nhiều thì ít đã ghi những nét đậm trong sinh hoạt của từng quốc gia.

dna2

Một gốc chợ Tết của người Hoa tại Singapore

C. Dân số gốc Hoa tại các nước khác (những con số của năm 1990 được tính tròn)

Người gốc Hoa sinh sống trên địa bàn các quốc gia Châu Á có trên hai triệu người :

     - Việt Nam       : 1.300.000 (năm 1970 2,2 triệu)

     - Kampuchea   :  400.000

     - Birmanie       :  300.000     

     - Ấn Độ           :  130.000

     - Nhật Bản       :  80.000

     - Saudi Arabia  :  30.000

     - Nam Hàn        :  20.000

Người Hoa sinh sống tại các quốc gia Tây Phương khoảng ba triệu người :

     - Hoa Kỳ          : + 1.000.000

     - Canada          :       600.000

     - Brasil             :       100.000

     - Anh Quốc       :       250.000

     - Pháp              :       150.000

     - Hòa Lan         :         60.000

     - Australia        :       200.000

     - New Zealand  :         60.000

Tại Châu Phi, Hoa kiều đến lập nghiệp rất ít, và chỉ tập trung trên một số hải đảo ngoài khơi Ấn Độ Dương, dân số khoảng 60.000 người :

     - Maurice          :  30.000

     - La Réunion     :  20.000

     - Madagascar    :  10.000

II. Quá trình du nhập vào lãnh thổ các quốc gia ASEAN

Một cách vắn tắt, người Hoa du nhập vào các quốc gia trong vùng Đông Nam Á qua ba giai đoạn :

Một là từ cuối thế kỷ thứ 14, những người Hoa tị nạn nhà Nguyên (Mông Cổ) chạy vào đảo Java, xứ Xiêm La và vương quốc Brunei.

Hai là từ thế kỷ 16-17, khi những người cựu nhà Minh (1368-1644) tị nạn nhà Thanh, đa số là những quan quân, binh sĩ, thương nhân xuất phát từ các tỉnh Phúc Kiến, Triều Châu và Quảng Đông, đi bằng đường biển xuống phía nam định cư và gầy dựng được nhiều cơ sở thương mại dọc các bờ biển và hải cảng lớn trong vùng. Cùng thời gian này (cuối thế kỷ 18), sau nhiều đợt chống đối nhà Mãn Thanh nhưng đều bị thất bại, rất nhiều người Hoa khác đã di cư sang Hoa Kỳ (San Francisco), Canada (Vancouver), Úc (Melbourne).

Ba là từ thế kỷ thứ 19, khi Tây Phương bắt đầu tấn công Trung Hoa và do hậu quả của cuộc chiến tranh nha phiến (1840-1842 và 1856-1860), các cường quốc Tây Phương ép triều đình Mãn Thanh ký những hiệp ước "bất công", trong dó có quyền tuyển mộ nhân công Trung Hoa sang khai thác những vùng đất thuộc địa.

A. Hậu quả của những hiệp ước bất công

Thực dân Tây phương mua mỗi đầu người từ 25 đến 30 lạng bạc. Thời đó Tây Phương gọi những người bị mua này là dân cu-li (coolies), người Hoa gọi họ là heo (tchoutze). Người ta chở những người này đi khắp các vùng đất thuộc địa trên thế giới : Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Nam Phi. Phong trào mua cu-li chỉ chấm dứt sau 1914 khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ, người ta ước tính có gần nửa triệu cu-li đã được xuất cảng.

Đây là một quốc nhục cho tất cả người Hoa. Chính vì thế sau khi Tôn Văn (Tôn Dật Tiên) và Hưng Trung Hội (tiền thân của Quốc Dân Đảng) tổ chức thành công cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), tân chính quyền Trung Hoa Dân Quốc luôn tìm cách gỡ mối nhục này bằng cách làm áp lực với các quốc gia có đông di dân Trung Hoa cư ngụ tôn trọng nhân phẩm con dân họ. Tôn Văn cũng là một người Hoa di cư. Suốt những năm lưu lạc, ông đi chu du rất nhiều nước và đã thấm nhuần cái hay của văn minh Tây Phương và đem phổ biến cho những lưu dân, sau đó truyền bá vào trong nước. Triều đình nhà Mãn Thanh rất sợ sự giao lưu giữa hai cộng đồng quốc nội và hải ngoại, với những tư tưởng cách mạng của Tôn Văn (chủ nghĩa Tam Dân) có thể dẫn đến âm mưu lật đổ ngai vàng, nên năm 1893 đã cấm không cho con dân ly hương về nước. Tôn Văn khuyến khích người Hoa hải ngoại tập trung vào thương mại và dùng số tiền kiếm được phát triển thêm cộng đồng ly hương, phục vụ tổ quốc. Hưng Trung Hội từ đó đã thiết lập những đường giây liên hệ giữa những cộng đồng ly hương người Hoa hải ngoại, và vẫn còn giữ cho đến ngày nay.

Cũng trong thế kỷ 19, rất đông người Hoa do đói kém, lũ lụt, nạn nhân mãn, bị áp chế bởi sức mạnh quân sự của các quốc gia Tây phương, theo phong trào di dân xuống các quốc gia phía nam để sinh sống và kéo dài mãi tới những năm 1930. Trong những năm 1940, nhiều đợt di dân nhỏ khác chạy trốn quân Nhật đã diễn ra và kéo dài cho tới sau năm 1945. Sau năm 1949, khi Trung Hoa lục địa bị cộng sản hóa toàn bộ, nhiều đợt di cư khác chạy ra Đài Loan và xuống các nước Đông Nam Á.

Những Hoa kiều này thích ứng rất nhanh vào đời sống của các sắc dân địa phương. Từ đầu thế kỷ thứ 16 số Hoa kiều di cư chưa vượt quá con số 100.000, đến cuối thế kỷ 19 ước lượng có trên 10 triệu, không kể dân cư trên đảo Đài Loan. Đa số vẫn thích lập nghiệp tại Đông Nam Á vì cùng điều kiện thiên nhiên, địa dư gần và nhất là có cùng những quan niệm về đạo lý và tín ngưỡng. Do cần cù làm việc và nhất là từ khi kinh đào Suez (năm 1870) được sử dụng, rút ngắn độ dài của đường giao thương giữa Đông và Tây phương, Hoa kiều Đông Nam Á có cơ hội thăng hoa thêm những khả năng thiên phú về thương mại.

B. Thái độ của dân cư bản địa, thực dân và chính quyền Trung Hoa

Từ thế kỷ 17, người Hoa nhà Minh tị nạn khi đến đâu cũng được đón tiếp nồng hậu. Người ta cảm mến những người này, có lẽ phần lớn là do ảnh hưởng của vương triều nhà Minh lúc còn đương quyền : văn minh và hùng mạnh. Nhất là tại các quốc gia như Chiêm Thành, Chân Lạp và Việt Nam, lúc đó còn chịu nhiều áp lực của đế quốc Trung Hoa, người Hoa tị nạn rất được kính nể và sợ hãi.

Sợ hãi là vì những binh lính và dân chúng nhà Minh tị nạn mang theo tất cả những thứ đã tạo nên quyền lực nhà Minh, văn hóa và quân sự, đến vùng đất mới. Rất nhiều vương triều Đông Nam Á thời đó đã cậy nhờ sức mạnh và kỹ thuật quân sự của họ để giải quyết những vấn đề tranh chấp nội bộ.

Những vùng đất đã bị thuộc địa hóa như Philippines, Malaysia, Indonésia, người Hoa tị nạn lúc ban đầu rất được trọng đãi. Nhưng càng về sau, thực dân Tây Ban Nha và Hòa Lan bắt đều e sợ. Người Hoa thành công quá nhanh trong việc khai khẩn và làm thăng hoa những vùng đất mới. Thêm vào đó, đối với những chính quyền thực dân đang cai trị, những di dân gốc Hoa mới này không dễ chịu bị khuất phục bởi nền văn minh Tây phương. Họ sợ dân bản địa bị người Hoa ảnh hưởng đứng lên chống đối chính sách cai trị hà khắc của họ. Nhất là người Hoa có một tín ngưỡng khác với tín ngưỡng mà Tây phương muốn truyền bá cho dân bản địa. Trong suốt thế kỷ 17 và 18, nhiều vụ tàn sát tập thể người Hoa đã xảy ra trên khắp các lãnh thổ thuộc địa.

Người Hoa hải ngoại đã bị tàn sát từ thế kỷ 16. Vụ đầu tiên xảy ra năm 1592 tại Philippines khi 218 thủy thủ Trung Hoa, trong tổng số 250 người trên một chiếc tàu của Tây Ban Nha, bị giết. Vụ thảm sát này vang đến tai quan tổng trấn Phúc Kiến, Hsu Fou-yuan. Họ Hsu, sau khi cho người đi điều tra, đã bỏ qua với lý do "đó là những tên vô loài cấu kết và chịu làm tôi mọi cho ngoại bang, chúng chết là xứng đáng".

Cũng nên biết thêm thời đó triều đình nhà Minh cấm không cho người Hoa di cư ra khỏi lãnh thổ. Nhà Minh xếp những người di cư thành hai loại. Loại thứ nhất là những tên vô loài, làm nhục quốc thể, mạng sống của họ không đáng kể. Loại thứ hai là những người tị nạn chính trị, một mối nguy cho thiên triều, cần phải tiêu diệt cho dù họ có trốn ở bất cứ nơi đâu và ai giết cũng được. Do đó những người Hoa tị nạn chính trị tại Đông Nam Á trong thế kỷ 16-17 không dám để lộ tông tích và chấp nhận sống dưới sự bảo hộ của những quốc gia địa phương. Khi bị bạc đãi họ không biết kêu ca cùng ai, chỉ biết chịu đựng.

Vụ thảm sát lớn nhất xảy ra vào năm 1603, người Tây Ban Nha đã giết hại 27.000 người trong tổng số 30.000 người Hoa đang định cư tại Philippines. Quan tổng trấn Phúc Kiến, Tsu Sué-su, cũng sau khi điều tra, đã kết luận rằng những người này chết là xứng đáng vì đó là bọn vô loài, phản quốc.

Người Tây Ban Nha được thể tiếp tục tàn sát di dân Trung Hoa. Năm 1639 gần như tất cả 24.000 người Hoa vừa mới đến định cư đều bị giết. Gần 60.000 người Hoa khác đã bị giết trong những năm 1660, 1662 và 1668 tại Philippines. Năm 1755 hàng chục ngàn người khác bị giết vì từ chối không chịu theo đạo của người Tây Ban Nha.

Tại Đông Ấn (Indonésia và Malaysia), người Hòa Lan cũng không nhân nhượng đối với người Hoa di cư. Năm 1740 theo người Hòa Lan có hơn 10.000 người Hoa đã bị giết (theo sử gia Trung Hoa, Huang Kiao-tche, có đến hàng chục ngàn bị giết). Năm 1763, 6.000 người đã bị giết tại Pangasinan.

Tại Thái Lan, năm 1733, hàng ngàn người Hoa cũng bị giết vì dám nổi lên chống lại sự cai trị hà khắc của vương triều Xiêm La do Trịnh Quốc Anh cai trị.

Tại Việt Nam trong những năm 1771-1775, cũng đã có hơn 10.000 người bị giết tại Đồng Nai vì đã theo các chúa Nguyễn chống lại quân Tây Sơn. Trong những năm 1833-1835, người Hoa theo Lê Văn Khôi bị binh lực của vua Minh Mạng giết hại rất nhiều.

III. Một cộng đồng đa dạng

Nếu quan sát kỹ, nơi nào có đông người Hoa cư ngụ nơi đó kinh tế phát triển mạnh và trở nên giàu có, trừ trường hợp vương quốc Brunei, sự giàu có do lợi tức của dầu hỏa mang lại.

A. Singapore

Singapore là một tiểu vương quốc (trước đó có tên là Singapura) được tách khỏi Liên Bang Malaysia năm 1965. Năm 1990, lợi tức trung bình đầu người tại Singapore là 9.100 USD/năm. Người Hoa chiếm 76% dân số, và thủ tướng là một người gốc Hoa tên Lý Quang Diệu. Từ khi có độc lập đến nay, người gốc Hoa giữ những địa vị quan trọng trong chính trị và kinh tế ; tích cực chủ động trong việc làm phát triển vùng đất này.

Mặc dầu có nguồn gốc xuất phát từ Trung Hoa, người Singapore không thích bị đồng hóa với người Hoa lục địa và Đài Loan, họ là một dân tộc của một quốc gia riêng biệt. Người gốc Hoa tại đây có khuynh hướng chỉ lập gia đình với những người đồng hương.

Từ ngày có độc lập đến nay, Singapore không ngừng phát triển. Singapore hiện nay là một trong "tứ long" của Châu Á và là trục phân phối tài chánh và hàng hóa chính của các quốc gia ASEAN. Có thể nói Singapore là trung tâm kinh tế của toàn vùng Đông Nam Á trong đó doanh nhân gốc Hoa giữ những địa vị then chốt. Không có quốc gia nào trong vùng có thể phát triển kinh tế nếu không có sự giúp đỡ tài chánh và tín dụng của tư bản Singapore.

B. Malaysia

Liên Bang Malaysia là một tập hợp của nhiều tiểu vương quốc. Lợi tức đầu người năm 1990 là 2.250 USD. Người Hoa tại đây chiếm 1/3 dân số (35%), đã góp rất nhiều công sức trong việc bảo vệ Malaysia chống lại quân Nhật hồi Đệ nhị Thế chiến. Người gốc Hoa có đại diện trong chính phủ liên hiệp các chủng tộc bởi qui ước của Hội Mã Hoa nhưng quyền chính trị vẫn do người Malaysia, "bumiputra" (con của đất), nắm giữ.

Chính Sách Tân Kinh Tế của chính quyền Malaysia mới đây nhằm giảm tỷ lệ tư bản đầu tư của xí nghiệp gốc Hoa xuống còn 40%, giới hạn vốn đầu tư ngoại quốc ở mức 30% và dành cho người Malaysia 30% vốn đầu tư còn lại. Trong thực tế, người gốc Hoa vẫn nắm những khâu quan trọng nhất trong nền kinh tế vì họ chiếm lĩnh khu vực thứ ba (tài chánh và thương mại), danh từ "vốn đầu tư ngoại quốc" thực ra cũng chỉ là vốn do người Hoa ở Singapore bỏ ra.

Người Hoa đa số định cư tại bờ biển phía tây Malaysia, vùng đất đã được kỹ nghệ hóa. Họ cũng chiếm đa số trên quần đảo Penang (phía tây-bắc) và phân nửa dân số tại thủ đô Kuala Lumpur là người gốc Hoa. Tại các phần đất ít trù phú khác họ là thiểu số như tại các tiểu quốc Kelantan và Trengganu (phía đông-bắc).

Người Hoa sống rất khép kín và chỉ lập gia đình với những người đồng hương. Nhiều tranh chấp chủng tộc giữa người gốc Hoa và người Malaysia xảy ra thường xuyên một phần do văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chủng tộc bất đồng và nhất là do sự bất cân đối về lợi tức và lối sống.

C. Thái Lan

Thái Lan là tên gọi mới của vương quốc Xiêm La từ 1939. Người Thái trước kia là một chủng tộc từ Trung Hoa di dân năm 1220 thành lập vương triều Xiêm La. Sự di cư của người Hoa từ lục địa vào đất Thái Lan đã diễn ra từ lâu đời, và đã góp phần tạo nên sự trù phú và hùng mạnh cho Thái Lan. Lợi tức đầu người tại đây (trên 1.000 USD/năm) thấp hơn Singapore và Malaysia nhưng đó là lợi tức trung bình của vùng. Người Hoa chiếm tỷ lệ từ 6 đến 8% dân số.

Tại Thái Lan, người Hoa có đời sống dễ chịu hơn các nơi khác, có lẽ một phần nhờ đạo Phật là đạo chung của người Thái và người Hoa, phần khác cũng do không có sự khác biệt gay gắt về diện mạo chủng tộc (Thái và Hoa). Nhiều người Thái và Hoa đã lấy nhau, sinh con đẻ cái mang hai giòng máu. Những thế hệ con cái này đến đời thứ ba hay thứ tư không còn biết nói hay đọc tiếng Hoa, mặc dầu có một số cố gắng dạy tiếng Hoa ở một vài thành phố phía bắc Thái Lan do phe Quốc Dân Đảng thành lập từ năm 1949.

Người gốc Hoa chiếm phân nửa dân số thủ đô Bangkok, giữ những địa vị cao trong các trường đại học và khống chế lãnh vực kinh tế tư nhân (như nhóm Charoen Pokphand và ngân hàng Bangkok Bank).

D. Indonesia và Philippines

 Tại Indonesia người Hoa chỉ chiếm 3% dân số và tại Philippines 1,5%. Lợi tức đầu người tại hai quốc gia này năm 1990 trên 500 USD/năm.

Người Hoa tại hai quốc gia này đa số là người Phúc Kiến. Những người này được sự bảo vệ của các chính quyền địa phương và giữ độc quyền một số ngành thương mại. Được biết đến nhiều nhất là các gia đình Lucio Tan và Marcos tại Philippines, gia đình Liem Sioe Liong và Suharto tại Indonesia.

Mặc dầu vậy, sự phát triển của cộng đồng Hoa kiều tại hai quốc gia này cũng gặp nhiều hạn chế. Tại Indonesia, chữ Hoa bị cấm phổ biến tại những nơi công cộng, người Hoa và dân bản xứ gặp nhiều trắc trở khi lấy nhau vì những ràng buộc của đạo Hồi. Tại Philippines, việc cưới hỏi được tự do đã làm giảm đi tính chất cực đoan về giống nòi giữa hai chủng tộc.

Indonesia vẫn giữ thái độ nghi ngờ Trung Quốc, từ khi có cuộc nổi dậy của phe cộng sản âm mưu lật đổ chính quyền Sukarno trong những năm 1965/1966 (hơn 1 triệu đảng viên cộng sản thân Trung Quốc đã bị giết), và đơn phương thiết lập bang giao với Việt Nam sau 1975.

Ngược lại Philippines dành cho Đài Loan nhiều đặc quyền về kinh tế cho đến những năm 1970, sau đó cựu tổng thống Ferdinand Marcos quay qua giao thương với Trung Quốc. Những gia đình gốc Hoa quản lý gần như độc quyền lãnh vực kinh tế tư nhân, mặc dầu có lúc bị buộc phải hùn hạp với những người bản xứ.

Tại Philippines, những đại gia đình gốc Hoa như John Gokongwei, Alfredo Ramos hay Henry Sy phải cạnh tranh một cách chật vật với những đại gia đình chủng tộc gốc Tây Ban Nha khác như Soriano (bia San Miguel), Zobel de Ayala (quản lý chặt chẽ ngân hàng tư lớn nhất Bank of the Philippines Islands).

IV. Những nhóm địa phương lớn

A. Một cộng đồng ngữ phương phong phú

     

Các cộng đồng Hoa kiều tại các quốc gia ASEAN không nói cùng ngôn ngữ.

Những nhóm ngôn ngữ gốc Hoa tại ASEAN (1989)

 

Quốc gia ASEAN Tổng số người Hoa Phúc Kiến Tiều Châu Quảng Đông Hạ Phương Hải Nàm Nhóm khác
Singa-pore 1,9 M 40% 20% 20% 05% 07% 08%
Malay-sia 5,6 M  30% 10% 25% 25% 06% 04%
Thái Lan 4,5 M 07% 55% 07% 15% 10% 06%
Philip-pines 0,7 M 70% 03% 20% 02% 03% 02%
Indo-nesia 5,3 M 50% 08% 05% 15% 03% 09%
Brunei (*) 0,06 M (-) (-) (-) (-) (-) (-)
Tổng cộng 18,06 M 6 M 4 M 3 M 3 M 1,2 M 0,8 M

Ghi chú : M = triệu người

(*) Không có số liệu rõ ràng. Người gốc Hoa hoạt động rất mạnh trong sinh hoạt kinh tế nhất là trong các dịch vụ tài chánh, xuất nhập cảng và thương mại, nhưng thường thì họ hoạt động với những cơ sở có sẵn tại Malaysia hay Singapore. Người Hoa tại Brunei chiếm 25% dân số.

Nguồn : Tập san Industrie et Développement International, Paris, tháng 9/1989.

Ba ngôn ngữ chính được sử dụng trong vùng là tiếng Bắc Kinh (thật ra là ngôn ngữ Phúc Kiến, còn gọi là tiếng Phổ thông hay Quan thoại), Quảng Đông và Triều Châu. Những nhóm Hoa khác khi giao dịch phải biết một trong ba ngôn ngữ trên. Thường thì tiếng Phổ thông là ngôn ngữ chính khi giao thiệp với Đài Loan hay Trung Quốc.

B. Những trắc trở về văn hóa và ngôn ngữ

Trong các quốc gia này, những va chạm về lối sống, văn hóa và quyền lợi thường xuyên xảy ra giữa những người gốc Hoa (tiếng Malaysia gọi là "baba", tiếng Indonesia "peranakan") có tổ tiên đến lập nghiệp từ nhiều thế kỷ trước và hội nhập hoàn toàn vào đời sống của quốc gia địa phương, với những Hoa kiều khác (85%) đến từ thế kỷ thứ 19-20 (gọi là "totok" hay "xinke").

Thêm vào đó, do ảnh hưởng của văn hóa tây phương phát triển mạnh trong vùng, có một sự ngăn cách về trình độ văn hóa và giáo dục giữa những người Hoa có văn hóa Tây phương (chủ yếu là văn hóa Anh Quốc) và người Hoa có văn hóa cổ truyền Trung Hoa. Tại Singapore, hệ thống giáo dục thuần túy Trung Hoa đã biến mất (Đại học tiếng Hoa Nanyang đóng cửa năm 1980) nhưng tại Malaysia vẫn còn hoạt động mạnh.

Sự cứng nhắc về văn hóa đặt ra nhiều vấn đề cho Hội Mã Hoa (Malaysian Chinese Association) có đại diện trong chính quyền tại Kuala Lumpur. Hội viên của hội, đa số có văn hóa Anh, một mặt phải giữ thái độ ôn hòa, thông cảm với chính quyền Malaysia, mặt khác phải duy trì những sinh hoạt cổ truyền của những bang hội để được ủng hộ trong các cuộc đầu phiếu.

Sau cùng sự chuyên môn trong sinh hoạt kinh tế của từng cộng đồng Hoa kiều tiêu biểu cho những sắc thái riêng biệt của từng địa phương nước Trung Hoa. Tại Singapore và Malaysia, những Phòng Thương Mại được tổ chức theo những nhóm ngôn ngữ hay những nhóm địa phương gốc lục địa như Phúc Kiến , Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nàm, Hạ Phương... Những bang hội hay gia đình lớn quyết định phần lớn sinh hoạt kinh tế của mỗi quốc gia.

C. Hệ thống làm ăn của nhóm Phúc Kiến

Tỉnh Phúc Kiến nằm ở phía bắc Quảng Đông, đối diện và chỉ cách đảo Đài Loan 150 km đường biển. Người Phúc Kiến do tiếp cận với bờ biển đã nhanh chóng phát triển giao dịch thương mại bằng đường biển với các quốc gia lân cận. Người Phúc Kiến cũng rất có khiếu trong các lãnh vực kinh doanh lớn như công nghiệp nặng, công nghiệp chế biến, nhất là về kim khí, và dịch vụ tài chánh.

Biết rõ ưu điểm này, chính quyền Trung Quốc đã thành lập tại thành phố Kim Môn (Xiamen hay Amoy) một khu kinh tế đặc biệt để hấp dẫn tư bản Đài Loan và Singapore mà đa số là người gốc Phúc Kiến. Các khu chế xuất ven duyên Trung Quốc, đa số đều dộa vào gương thành công của Singapore : ưu đãi đầu tư quốc tế và hàng hóa sản xuất chủ yếu chỉ để xuất cảng thu về ngoại tệ.

Hiện nay người Phúc Kiến đại diện gần 1/3 Hoa kiều trong vùng Đông Nam Á. Hoa kiều thuộc nhóm này chiếm đa số tại Philippines và Indonesia, rất mạnh tại Malaysia và Singapore, nhưng bị người Triều Châu lấn lướt tại Thái Lan. Người Phúc Kiến đại diện 60% dân số Hoa kiều trong các quốc gia không cộng sản tại Đông Nam Á, khoảng 25 triệu người.

Trục kinh tế tài chánh Singapore-Malaysia-Indonesia :

Người Phúc Kiến gây dựng một trục kinh tế chặc chẽ giữa Singapore - Malaysia - Indonesia và được Đài Loan dành cho những tiếp trợ ưu tiên về tư bản. Tại Singapore vốn của những người Phúc Kiến được gom lại từ ba quốc gia nói trên. Điều này gây khá nhiều khó khăn cho các chính phủ trong vùng.

Ví dụ một công ty của người Phúc Kiến tại Indonesia, họ có thể vay vốn hoặc tại Singapore, hoặc ngay tại Indonesia tùy theo điều kiện chính trị của quốc gia này và có thể tránh né những khoảng thuế cao hoặc tại Indonesia, hoặc tại Singapore vì khi khai vốn họ có thể khai tại hai nơi (nhiều công ty nhỏ trong một công ty mẹ). Công ty có tích sản tại Singapore do vay vốn ở Indonesia có thể khai vốn chung khi vay ở những định chế tín dụng khác.

Thêm vào đó, tài phiệt Đài Loan hỗ trợ và cung cấp tư bản và kỹ thuật cho những người Phúc Kiến tại các quốc gia khác. Quốc Dân Đảng Đài Loan nhúng tay phần lớn vào những chương trình lớn của con dân họ tại Đông Nam Á. Đặc biệt là hiện nay Quốc Dân Đảng Đài Loan đang dành nhiều nỗ lực khuyến khích và tổ chức nhiều cuộc viếng thăm cho doanh nhân Đài Loan vào Việt Nam nghiên cứu thị trường.

Trục kinh tế tài chánh Philippines - Đài Loan :

Trục kinh tế quan trọng thứ hai là giữa Philippines với Đài Loan. Định chế của mối giao hảo này là Liên Phòng Thương Mại và Kỹ Nghệ thành lập tại Philippines trong những năm 1950, được Quốc Dân Đảng Trung Hoa khởi xướng với mục đích tập hợp các Hoa kiều tại đây đứng dưới trướng và ủng hộ Đài Loan. Chủ tịch Liên Phòng hiện nay là ông Domingo Lee, cựu đại diện ngoại giao của Philippines tại Đài Bắc, là cố vấn của bà tổng thống Cory Aquino, và đang giữ quyền quản lý ngân hàng Philbanking lấy từ tay gia đình Laurel với sự tài trợ của nhóm tài phiệt Phúc Kiến. Phó chủ tịch của Liên Phòng, nhà triệu phú Lucio Tan, làm thăng hoa thêm những quan hệ đã có giữa những viên chức chính quyền Manilla và giới kinh doanh Hoa - Phi.

Một người khác tên là Tan Yu, một nhà tư bản Phi sinh trưởng tại Phúc Kiến trong những năm 1930, sau đó hoạt động tại Đài Loan, hiện là chủ tịch liên doanh tài chánh và bất động sản AIC Development, vừa thành lập một công ty với số vốn 250 triệu USD để thực hiện một dự án xây cất tại Manilla. Những cơ sở dịch vụ tài chánh lớn của Philippines đều có vốn của tư bản người Phúc Kiến.

     

Những ngành đầu tư chính :

Tại Singapore và Malaysia, người Phúc Kiến đầu tư vào các ngành cao su, buôn bán sĩ, khách sạn và ngân hàng. Một trong những gia đình giàu nhất trong vùng là gia đình Lee Seng Wee giữ trong tay khoảng 20% vốn của nhóm Overseas Chinese Banking Corporation (OCBC), thành trì tư bản của người Phúc Kiến tại Đông Nam Á, dưới tên các tổ hợp Lee Rubber và Lee Foundation.

Ngoài ra còn phải kể thêm những gia đình Phúc Kiến giàu có khác như Lee Choon Seng (chủ các công ty Thye Hong Biscuit, Thye Aun Investment) và Tan Chin Tuan, mỗi gia đình giữ 5% vốn của OCBC. Chủ tịch bang Phúc Kiến tại Singapore, ông Wee Cho Yaw, là chủ nhân của nhóm ngân hàng lớn nhất tại nước này, United Overseas Bank.

Có hai nhóm Phúc Kiến nhỏ sinh hoạt tương đối độc lập là nhóm Fuzhou hay Hockchiu, phần lớn làm nghề bán lẽ hay chủ nhân các nhà hàng (anh em họ Kuok và công ty) và nhóm Xinghua hay Henghua rất chuyên môn trong ngành buôn bán đồ phụ tùng, xe đạp, xe hơi, và ngư nghiệp (tại Malacca và Kuching, Sarawak).

D. Hệ thống làm ăn của người Triều Châu

Về hành chánh, Triều Châu trực thuộc tỉnh Nam Quảng Đông, nhưng có ngôn ngữ gần giống với nhóm Bắc Phúc Kiến. Tỉnh Chaozhou (hay Toechew) là địa phương gốc của các nhóm Hoa kiều tại Thái Lan, Việt Nam, Kampuchea và từ năm 1975 tại Pháp.

Người Triều Châu có sở trường kinh doanh trong các ngành kỹ nghệ nhưng mạnh nhất là nông sản thc phẩm (đặc biệt là gạo, đường mía và chăn nuôi gà vịt).

Nổi tiếng nhất là liên doanh Hoa Thái Charoen Pokphand được thành lập từ 1921 bởi gia đình họ Chia. Ngoài ra người Triều Châu còn nắm quyền kiểm soát các nhóm ngân hàng như Bangkok Bank và Overseas Union Bank (ngân hàng thứ tư tại Singapore).

Từ sau 1975, công việc kinh doanh của người Triều Châu tại Đông Dương (Việt Miên Lào) đã chuyển sang Bangkok và Singapore, nhờ đó đã quân bình phần nào sự yếu kém về dân số và ngạch số thương mại của họ so với các nhóm Phúc Kiến và Quảng Đông tại ASEAN.

E. Những nhóm ngôn ngữ khác

Trừ tại Kuala Lumpur, người Quảng Đông tập trung vào các ngành kinh doanh bán lẽ (tạp hóa), may mặc, nữ trang, thủ công nghệ và rất mạnh trong ngành phục vụ ăn uống (nhà hàng).

Người Quảng Đông, từ những năm 1960, qua trục Hồng Kông - Singapore, đầu tư rất nhiều vào kỹ nghệ dệt và điện tử. Lo âu trước viễn ảnh Hồng Kông (đa số là người Quảng Đông) bị lục địa hóa vào năm 1996, những nhà tư bản lớn tại đây đã và đang chuyển dần cơ sở làm ăn sang Singapore (họ thành lập rất nhiều nhóm công ty kỹ nghệ nhỏ và xây cất), Úc Đại Lợi, Pháp, Canada và Hoa Kỳ.

Gần phân nửa nhóm người Hoa gốc Hạ Phương (Hakka) còn được gọi là Hẹ, tại Đông Nam Á sống tập trung tại Malaysia. Từ những năm 1850, họ đã di cư ồ ạt vào vùng đất này để khai thác các mỏ thau tại các tiểu quốc Salagor và Perak.

Nguyên gốc người Hạ phương là ở các vùng nông thôn thành phố Thượng Hải, những người ở phía bắc (gần Bắc Kinh) được gọi là Thượng Phương, gần bờ biển là Hạ Phương, tiếng gọi chung là Hẹ. Ngôn ngữ người Hẹ pha lẫn âm Quảng Đông và Triều Châu.

Nghề chuyên môn của người Hạ Phương là đúc thép, dệt, đồ dùng bằng thau, nghề da giầy, thuốc bắc và trồng hoa. Những gia đình Hạ Phương nổi tiếng tại Malaysia là các gia đình Lee Loy Seng, kiểm soát liên doanh Kuala Lumpur Kepong (đồn điền cao su), gia đình Aw (dầu cù là Con Cọp). Singapore có gia đình Robin Loh (nhóm Robin), gia đình Hong Leong, Kwek Hong Pong (chủ nhân các định chế tài chánh). Thái Lan có nhóm Thailand Bancha Lamsam gồm nhiều nhóm nhỏ khác như Thai Farmers Bank, Muang Thai Life Insurance, Phatra Insurance, công ty Loxley Trading và nhiều gia đình khác kinh doanh bất động sản và nông sản thực phẩm.

Người Hải Nàm (Hainan) là nhóm đến muộn nhất trong vùng và là nhóm bị thua sút nhất trong các nhóm. Địa phương gốc của người Hải Nàm ở phía nam Trung Quốc, trên đảo Hải Nàm (phía đông-đông bắc bờ biển Việt Nam). Ngôn ngữ của họ pha lẫn âm Quảng Đông và tiếng địa phương trên đảo.

Người Hải Nàm đa số làm công nhân nông trường, bồi bàn khách sạn và nhà hàng, nội dịch. Những người thành công nhất chỉ có thể làm chủ quán cà phê, cố gắng hơn nữa một số đầu tư vào con cái để tiếp tục học hết bậc đại học sau đó trở thành bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư... và hành nghề tự do.

Sinh hoạt kinh doanh của người Hải Nàm được biết đến nhiều nhất là nhóm Sukri Bodhiratanangkura, một trong những liên doanh dệt lớn nhất tại Thái Lan, với sự hợp tác của Nhật Bản. Lối sống và suy nghĩ của người Hải Nàm gần giống lối sống và suy nghĩ của người Việt Nam, ít có khiếu về kinh doanh, an phận trong những nghề tự do và luôn có mặc cảm tự ti với các nhóm chủng tộc giàu có.

V. Khối Kinh Tế Trung Hoa

Tuy không được công khai ra đời một cách chính thức, Khối Kinh Tế Trung Hoa (CEA : Chinese Economic Area) đã được thành lập giữa ba nước : Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông năm 1978, tức sau ngày Trung Quốc cải tổ kinh tế, mở cửa kêu gọi đầu tư quốc tế. Khối bao gồm một diện tích trên 9,6 triệu Km2 và hơn 1,4 tỷ người. Khối này được nhiều người gọi tắt là Đại Trung Hoa, hay Đại Hán, vì nó chỉ gồm ba quốc gia thuần túy Trung Hoa. Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ bỏ phần giáo điều của chủ nghĩa Mác, Lênin về sinh hoạt kinh tế, chấp nhận sinh hoạt kinh tế thị trường kiểu tư bản. Quốc Dân Đảng Đài Loan cũng bãi bỏ độc quyền kinh tế trên đảo để tư nhân có quyền mang vốn liếng đầu tư tại Trung Quốc. Chính quyền Anh cũng cho phép doanh nhân Hồng Kông và Trung Quốc liên lạc và hợp tắc với nhau. Tuy nhiên về chính trị, Trung Quốc và Đài Loan vẫn giữ nguyên những nguyên tắc cứng rắn về lãnh thổ và quốc phòng.

Singapore không được gia nhập vào khối kinh tế Đại Hán này vì không phải là một quốc gia thuần túy Trung Hoa, chỉ có 76% dân số Singapore là người gốc Hoa, hơn nữa ngôn ngữ chính thức không phải là chữ Hán mà là tiếng Anh. Hồng Kông được kết nạp, mặc dù còn là nhượng địa của Anh Quốc, vì là phần đất sẽ được Trung Quốc thu hồi lại vào năm 1997.

Thành phần nhân sự của khối này chỉ gồm những nhà kinh doanh lớn của ba nước, không có nhân sự chính trị. Đường lối chính sách của khối hoàn toàn độc lập với các chính sách của chính quyền. Mục tiêu chính của khối là phục vụ nền kinh tế Trung Hoa, hay đúng hơn của người Hoa. Khối này liên lạc và sinh hoạt chặt chẽ với các cộng đồng người Hoa hải ngoại tại Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Á. Cộng đồng người Hoa hải ngoại là đầu cầu phát triển kinh tế của Khối Kinh Tế Trung Hoa.

Nền kinh tế của Trung Quốc lớn gấp 2,5 lần nền kinh tế của Đài Loan và 6 lần hơn Hồng Kông. Nhưng nhân sự của ba quốc gia đều bình đẳng khi đại diện khối liên lạc với các quốc gia phát triển khác. Doanh nhân của ba quốc gia Trung Hoa không cạnh tranh lẫn trên các thị trường quốc tế, họ chỉ giúp đỡ và phân chia thị trường với nhau như sinh hoạt của các bang hội nhưng trên một qui mô lớn hơn. Lúc khởi đầu, khối chỉ chiếm 1,8% thị trường quốc tế, ngày nay (1992), Khối Kinh Tế Trung Hoa chiếm 4,5% thị trường quốc tế, chỉ thua Hoa Kỳ, Đức và Nhật Bản, và tỷ lệ này không ngừng gia tăng trong những năm tháng tới. Thị trường chính của khối là Hoa Kỳ, Canada và Nhật Bản. Các quốc gia Châu Á khác như Singapore, Đại Hàn, Thái Lan buộc phải hạ giá bán thành phẳm sang Tây phương mới cạnh tranh nổi và giữ vững được thị trường.

Khối lượng trao đổi nội bộ giữa ba quốc gia với nhau rất lớn, 1/3 tổng sản lượng xuất khẩu, tăng gấp ba lần so với năm 1978. Những đầu tư qua lại giữa ba quốc gia gia tăng nhanh chóng. Tổng trị giá lượng hàng trao đổi của Trung Quốc với Hồng Kông năm 1992 là 8 tỷ USD, với Đài Loan từ 50 triệu USD (1978) lên 7 tỷ (1992). Tổng số vốn của doanh nhân Trung Quốc đầu tư vào Hồng Kông là 9 tỷ USD, doanh nhân Hồng Kông cũng đầu tư một số tiền tương đương vào Trung Quốc. Tổng số vốn mà doanh nhân Đài Loan đầu tư vào Trung Quốc năm 1992 là 3 tỷ USD, đứng hàng thứ tư về vốn đầu tư nước ngoài tại Trung Quốc. Chính quyền Đài Loan đã bãi bỏ lệnh cấm chuyển ngân vào lục địa từ năm 1990, chấm dứt 40 năm thù địch. Bốn trong năm ngân hàng thương mại lớn nhất của Trung Quốc đã có chi nhánh tại Hồng Kông. Đài Loan cũng đã trích 120 triệu USD để thiết lập một hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc từ năm 1990. Hồng Kông đã sử dụng trên 3 triệu nhân công của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Thế mạnh của ba quốc gia Trung Hoa là biết tận dụng những sở trường, sở đoản của nhau để đưa nền kinh tế của khối đi lên. Đài Loan cung ứng khả năng tài chánh, kỹ thuật và cách thức quản trị khoa học vào sản xuất và giao dịch quốc tế. Trung Quốc cung ứng nhân công rẻ tiền và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Hồng Kông cung ứng thành phần doanh nhân thực dụng giỏi quản trị xí nghiệp, nhân công thạo nghề và một hải cảng quốc tế thuận lợi. Cả ba quốc gia tạo thành một khối doanh nhân thống nhất với sự xuất hiện của những đại gia tộc văn hóa và tài chánh. Có lẽ cả ba quốc gia Trung Hoa để thành phần doanh nhân chuyển hóa dần lục địa và hải đảo từ những chế độ độc tài chuyên chính sang một thể chế thích hợp với dân tộc Trung Hoa.

 *******************************


Phụ lục 2 : Một vài nhân vật gốc Hoa

I. Thời Thượng cổ

- Lý Ông Trọng, quê huyện Từ Liêm, quận Giao Chỉ, sinh ra cuối đời vua Hùng Vương. Ông tên thật là Lý Thân, người to lớn khác thường và sức mạnh vô địch.

Tần Thủy Hoàng (214-207 trước công nguyên), vua đất Trung Hoa, muốn xua quân sang đánh chiếm nước Âu Lạc, Thục vương (An Dương Vương) sợ hãi bèn đem Lý Thân hiến cho vua Tần. Được Lý Thân, Tần Thủy Hoàng mừng lắm, phong làm Tư lệ Hiệu úy. Sau vua Tần sai Lý Thân mang quân ra trấn Lâm Thao, quân Hung Nô thấy hình thù to lớn của Lý Thân tỏ ra khiếp sợ, rút về không dám quấy phá.

Sau Lý Thân được phong làm Vạn Tín hầu rồi cho phép trở về Nam thăm xứ sở. Ít lâu sau quân Hung Nô lại quấy rối biên thùy nước Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng cho sứ sang vời Lý Thân. Ông không chịu đi làm tôi nước người một lần nữa, đã bỏ trốn vào rừng. Thục vương nói dối là đã chết, vua Tần đòi giao xác. Không còn cớ để thối thác, Lý Thân phải tự tử để vĩnh viễn ở lại quê hương. Nhận được xác, Tần Thủy Hoàng cho đúc tượng đồng hình dáng của Lý Thân mang ra trấn biên cương, quân Hung Nô tưởng Lý Thân còn sống đã tự động rút về không dám xâm nhập đất Trung Hoa.

Sang đời nhà Đường (618-907), Triệu Xương sang đô hộ đất Giao Châu, có lập đền thờ Lý Thân ở làng Thụy Hương. Rồi khi Cao Biền qua đánh Nam Chiếu, cho trùng tu ngôi đền và tạc tượng để thờ, gọi là đền Lý Hiệu úy ở làng Từ Liêm, bên bờ sông Cái, cách thành Đại La (Hà Nội ngày nay) 50 dặm về phía tây. Vua Lê Thánh Tôn có để lại bài vịnh Lý Ông Trọng trong tập "Hồng Đức Quốc Âm thi tập" như sau :

      Tầm cả tầm cao chỉn xuất quần,

      Khí thiên quang nhạc cấu mười phân,

      Phò nam dẹp bắc, tài văn võ,

      Trấn nước đầy non, sức quỷ thần,

      Vòi vọi Thụy Hương, từ đà dựng,

      Nhơn nhơn Tư Mã, tiếng còn rân,

      Chàng Cao, gã Triệu, chiêm bao tỏ,

      Càng sợ An Nam có thánh nhân.

- Hoàng Quang Hưng, người nhà Hán sống dưới triều vua triệu Vũ Đế (207-137 trước công nguyên), đã truyền dại nghề làm đồ gốm và đồ sành cho một người Giao Chỉ, quận Cửu Chân, ông Trương Trung Ái. Trương Trung Ái sau này được tôn là ông tổ nghề đồ gốm và đồ sành tại Việt Nam. Đến đời hà Lê, con cháu Trương Trung Ái lập một hàng đồ gốm tại làng Thổ Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Ninh.

- Triệu Đà, là Quan úy quận Nam Hải, năm 208 trước công nguyên, đem quân đánh quận Âu Lạc. Âu Lạc là một trong ba quận của đất Bách Việt : Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (Âu Lạc). Thời đó An Dương Vương thần phục nhà Tần. An Dương Vương bị Triệu Đà đánh bại phải bỏ chạy rồi tự vận. Năm 207 trước công nguyên, Triệu Đà sáp nhập Âu Lạc vào với Nam Hải thành một nước gọi là Nam Việt, tự xưng làm vua, hiệu là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung, gần thành Quảng Châu bây giờ.

Nhà Triệu làm vua được 5 đời (Vũ Vương, Văn Vương, Minh Vương, Ai Vương và Dương Vương). Đến năm 111 trước công nguyên, nhà Hán đem quân đánh chiếm Nam Việt. Triệu Đà đã chống trả mãnh liệt để bảo vệ vùng đất tự trị của mình nhưng đánh không lại, nước Nam Việt bị nhà Hán chiếm và sát nhập vào Trung Hoa, sau đó bị cải tên là Giao Chỉ bộ và bị đô hộ suốt gần ngàn năm.

II. Thời Bắc thuộc

- Sĩ Nhiếp (137-226), là một quan cai trị của nhà Hán nhưng ông đã hành xử như con dân của nước Nam. Năm 203, ông đã xin nhà Hán cải tên Giao Chỉ bộ thành Giao Châu. Sĩ Nhiếp có ý muốn tạo một vùng đất riêng biệt, có chủ quyền độc lập với nhà Hán.

Ông đã khôn khéo tránh né tham gia vào các cuộc tranh chấp quyền lực của thời Tam Quốc bên Trung Hoa, gồm có Bắc Ngụy, Tây Thục và Đông Ngô. Giao Châu thuộc Đông Ngô từ năm 220.

Sĩ Nhiếp đã giữ đất Giao Châu thời đó tránh được nhiều cảnh chiến tranh, chết chóc và loạn lạc. Suốt thời gian cai trị, ông là một người khoan dung, trung hậu trị dân có phép tắc, lo mở mang văn học, truyền bá đạo Nho và cho phổ biến nhiều kinh sử có xuất xứ từ Trung Hoa, thời đó dân chúng tôn ông là Sĩ Vương.

Có nhiều thuyết cho rằng chữ Nôm đã được đặt ra từ đời Sĩ Vương.

- Lý Tiến, người Giao Chỉ đầu tiên được bổ nhiệm làm Thứ sử đất Giao Châu dưới triều Hán Linh Đế. Ông là trường hợp của những người Hoa đầu tiên nhận dãi đất này làm quê hương, và đã chứng tỏ lòng yêu nước thiết tha. Ông đã từng dâng sớ xin cho người đồng hương (người Giao Chỉ) hưởng những quyền lợi như người Trung Hoa nhưng không được vua Hán chấp thuận.

- Phùng Hưng, quận Đường Lâm (Sơn Tây bây giờ), là người thuộc dòng dõi quan lang.

Năm 791, thấy dân tình sống quá cơ khổ vì sưu cao thuế nặng và muốn tách khỏi sự cai trị khắc nghiệt của nhà Đường (618-907), Phùng Hưng cùng em trai, Phùng Hải, phất cờ khởi nghĩa. Phùng Hưng đổi tên là Cự Lão, tự xưng là Đô quận, còn Phùng Hải đổi tên là Cự Lực, tự xưng là Đô bảo, rồi cả hai đem quân về đem phá La Thành, thủ phủ của An Nam đô hộ phủ (Giao Châu). Quan đô hộ là Cao Chính Bình, quá khiếp sợ, đã lâm bệnh mà chết. Nhưng quân của ông chỉ chiếm giữ La Thành vài tháng rồi ông mất.

Con là Phùng An lên nối nghiệp, liệu thế không chống nổi với quân nhà Đường dưới quyền điều khiển của tướng Triệu Xương, quan đô hộ mới, chịu xin phục tùng Trung Hoa như trước.

Để tỏ lòng ái mộ, dân chúng lập đền thờ ông ở mé tây phủ La Thành và gọi ông là Bố Cái đại vương. Các triều sau phong tặng Phùng Hưng chức hiệu là Phụ hựu Chương tín Sùng nghĩa Đại vương.

III. Thời quân chủ

- Hồ Quí Ly, còn có tên là Lê Quí Ly. Quí Ly là dòng dõi người Hoa ở Chiết Giang, tổ là Hồ Hưng Dật từ đời Ngũ Quí sang Việt Nam định cư tại làng Bào Đột, huyện Quỳnh Lưu. Sau ông tổ tứ đại là Hồ Liêm dời ra Thanh Hóa, làm con nuôi nhà Lê Huấn và đổi họ là Lê.

Lê Quí Ly có hai người cô lấy vua Trần Minh Tông (1314- 1329). Một người sinh ra vua Trần Nghệ Tông (1370-1372), một người sinh ra vua Trần Duệ Tông (1372-1377). Từ đó Lê Quí Ly rất được vua Nghệ Tông tin dùng. Nghệ Tông là một ông vua nhu nhược, đồng tính luyến ái, suốt ngày chỉ biết nghe lời Quí Ly và để y quyết định hết mọi việc của triều đình.

Lê Quí Ly xuất thân làm Chỉ hậu Chánh trưởng (1372), chẳng bao lâu được phong làm Khu mật đại sứ, gia tước Trung tuyên hầu. Dòng họ của Quí Ly về sau đều được đưa vào làm quan trong triều đình, con gái thì gả cho những vua quan, con trai thì được phong giữ những chức vị cao. Vua Duệ Tông lấy em họ Quí Ly, Lê Thị được phong làm hoàng hậu.

Trong suốt thời gian 1370-1400, Lê Quí Ly quyết đoán hết mọi chuyện trong triều đình và gây rất nhiều oán thù, sát hại rất nhiều thân bằng quyến thuộc của nhà vua và quan trong triều đình. Khi Duệ Tông mất (1377), Lê Quí Ly tự xưng Phụ Chính Cai giáo Hoàng Đế điều khiển Trần Thuận Tông (1388-1398), dời kinh đô vào Thanh Hóa. Sau đó, Quí Ly tự xưng Khâm đức Hưng liệt Đại vương (phụ chính vua Trần Thiếu Đế là cháu ngoại mới 3 tuổi), sau lại xưng Quốc tổ Chương hoàng.

Năm 1400, Lê Quí Ly bỏ Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua thay ngôi nhà Trần. Khi lên ngôi, Quí Ly bỏ họ Lê đổi lại họ Hồ. Nguyên họ Hồ là dòng dõi nhà Ngu bên Trung Hoa, nên Hồ Quí Ly đặt quốc hiệu là Đại Ngu để tưởng nhớ quê hương cũ.

Về mặt cải tổ hành chánh và kinh tế, Hồ Quí Ly đã làm nhiều điều hữu ích, được rất nhiều người khâm phục.

Trước hết là chỉnh đốn việc võ bị đề phong nhà Minh (lúc đó lộ ý muốn thôn tính nước Đại Ngu). Hồ Quí Ly cho lập sổ hộ tịch để nắm rõ số dân đinh để mộ binh. Ông cải tổ việc đoàn ngũ hóa quân đội (lập thành đại quân, doanh, vệ, đội), cải tiến cách đóng chiến thuyền (hai tầng :một tầng để chèo, một tần để thủy quân đi lại), lập kho chứa.

Điểm nổi bật của Hồ Quí Ly là cho phát hành tiền giấy. Tờ giấy 30 tiền vẽ sóng, 10 tiền vẽ rêu, 5 tiền vẽ phượng, 3 tiền vẽ lân, 2 tiền vẽ rùa, 1 tiền vẽ mây, 1 quan vẽ rồng. Đây là một hình thức tịch thu tài sản công dân vào ngân khố nhà nước. Những ai còn lưu giữ vàng bạc đều bị chém đầu, do đó ai cũng phải dâng nạp nhà vua.

Hồ Quí Ly còn cho ban hành những dụng cụ đo lường mới như thước (ta), đấu, đặt ra các điều luật bảo vệ nhà buôn và giữ giá đồng tiền, đặt y tỳ (y tế) coi việc thuốc thang, định lại việc thu thuế. Ông cho sửa đổi hình luật và việc học hành, thi cử, thêm môn toán học, áp dụng lối học thực dụng hơn từ chương, cho dịch Kinh Xuân Thư, Kinh Thi ra chữ Nôm.

Hồ Quí Ly trong suốt thời gian cầm quyền đã chứng tỏ là một nhà quản trị giỏi hơn là một vị tướng. Khi ra trận, ông không có tài điều quân, dũng cảm và mưu lược của một vị tướng giỏi, khi thấy địch mạnh hơn liệu chống không nổi ông cho rút quân về hay bỏ chạy. Vì thế Chế Bồng Nga luôn đánh thắng trận nhờ mưu lược và dũng cảm. Khi Nhà Minh tấn công, quân của ông chỉ biết bỏ chạy. Hồ Quí bị cầm tù, bị đày làm lính tuần và chết già ở Quảng Tây. Nhà Minh đô hộ Việt Nam hơn 20 năm.

- Dương Ngạn Địch Trần Thượng Xuyên là hai vị tướng của Nhà Minh trấn thủ các thị trấn Long Môn (tỉnh Quảng Đông) và Cao -Lôi- Liêm (Quảng Tây).

Năm 1679, Dương Ngạn Địch (Tổng binh Long Môn) cùng phó tướng Hoàng Tiến ở đất Long Môn (Quảng Tây, Trung Hoa) và Trần Thượng Xuyên (Tổng binh Cao Lôi Liêm) với phó tướng Trần An Bình không chịu hàng nhà Thanh, mang 3.000 quân bản bộ đi trên 50 chiến thuyền tới bể Tu Dung và Đà Nẵng xin tị nạn ở nước Nam.

Chúa Hiền cho di cư vào ở đất Đông Phố (Mỹ Tho) và Biên Hòa (Đồng Nai),Thủy Chân Lạp khẩn hoang lập ấp. Chúa Nguyễn cho hai vị tướng này giữ y chức cũ. Từ đó hai đoàn di dân vỡ đất phá rừng, cất phố lập chợ, đưa văn hóa, văn minh và kỹ thuật cao của Trung Hoa vào thẳng miền Nam, thương thuyền các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Java qua lại tấp nập. Những binh lính theo hai vị tướng này, trừ một số thủ lãnh, trong lúc chạy loạn không mang theo gia đình, đã lấy vợ người địa phương và sinh con đẻ cái.

Dương Ngạn Địch quyết trung thành với chúa Nguyễn, không chiều ý của phó tướng muốn thành lập một vùng tự trị. Sau ông bị Hoàng Tiến cùng binh sĩ ly khai nổi loạn giết năm 1688. Nghĩa vương Nguyễn Phúc Trăn cùng Trần Thượng Xuyên cho quân đánh dẹp, dùng mưu bắt được Hoàng Tiến rồi giết đi.

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn Hữu Kính làm Kinh lược đất Chân Lạp (miền Nam ngày nay), lấy đất Đồng Nai đặt làm hai huyện Phước Long, Tân Bình, lập Trấn Biên Dinh (Biên Hòa) và Phan Trấn Dinh (Gia Định), chiêu mộ những người dân ở Quảng Bình vào khai khẩn. Những người Hoa theo Dương Ngạn Địch tị nạn và người Hoa di cư dưới triều nhà Thanh thì gom lại thành xã Thanh Hà ở Trấn Biên, còn những người Hoa Minh Hương theo Trần Thượng Xuyên vào xã Minh Hương ở Gia Định rồi giao cho Trần Thượng Xuyên, Tổng trấn Gia Định thành quản lý.

- Trần Đại Định, con của Trần Thượng Xuyên, được chúa Nguyễn phong chức Thống binh để chỉ huy đạo quân Long Môn (người Hoa) bình định vùng đất miền Đông. Khi vương quốc Chân Lạp chống lại triều Nguyễn, Trần Đại Định mang quân đánh dẹp, hao tổn rất nhiều binh sĩ nhưng không diệt được vì bị tướng tư lệnh người Việt, tên Trương Phước Vĩnh, nhận tiền hối lộ của quân địch cản trở. Khi bị chúa Nguyễn khiển trách, Trương Phước Vĩnh, quá hoãng sợ, vu cho Trần Đại Định tư thông với địch không chịu tiến quân. Khi biết mình bị vu oan, các phụ tá khuyên Trần Đại Định nên bỏ trốn về Trung Hoa.

Trần Đại Định nói rằng : "Cha ta là Trần Thượng Xuyên đã từng mang ơn nặng của triều đình, vua từng có lời dụ rằng : "Họ Nguyễn làm vua, họ Trần làm tướng, công khanh đời đời không dứt". Vinh hạnh biết chừng nào. Nay vì biên súy che lấp, bất công, nếu chẳng đến triều đình nhờ thẩm xét, ta sẽ mang tội phản nghịch. Bao nhiêu công nghiệp ông cha như non như núi sẽ sụp đổ xuống hang, xuống sông. Chẳng những ta mang tội làm tôi bất trung mà cũng mang tội làm con bất hiếu nữa, còn mặt mũi nào đứng vững trong trời đất ?".

Trần Đại Định bỏ quân, ban đêm xuống thuyền đi thẳng ra miền Trung minh oan. Khi đến gần cửa Hàn, một tùy tướng cầm lái quá lo sợ cho tính mạng của chủ tướng, định bẻ lái cho thuyền đi lên hướng Bắc, Trần Đại Định rút gươm chém đầu rồi tự mình cầm lái vào cửa Hàn. Nhưng khi đến triều đình, vì thế lực của Trương Phước Vĩnh quá lớn, Trần Đại Định bị tống giam và cả gia quyến ở Biên Hòa cũng bị bắt. Chúa Nguyễn nhận thấy chuyện không bình thường bèn cho người vào Nam điều tra.

Khi biết Trần Đại Định bị vu oan thì đã quá trễ. Vì bị giam quá lâu, ông uất ức thổ huyết chết trong ngục. Trần Đại Định sau đó được phục hồi danh dự và truy tặng hàm Đô Đốc đồng trị, gia quyến được hưởng bổng lộc như trước.

Về sau, dân chúng gốc Hoa sinh sống tại miền Nam lập đền nhiều đền Vũ Miếu để thờ những vị anh hùng người Hoa khai quốc tại Biên Hòa, Chợ Lớn và Gia Định.

- Mạc Cửu (1655-1735) tên thật Mạc Kính Cửu, nguyên quán ở Lôi Châu (Trung Hoa), là một vị tướng nhà Minh vì không phục nhà Thanh nên theo tướng Trịnh Thành Công ra đảo Đài Loan tử thủ. Về sau liệu chống không nổi quân Thanh, ông đem gia quyến và tùy tùng (khoảng 400 người) đi rất nhiều ngày trên mươi chiến thuyền xuống phía nam. Ban đầu ông cập bến ở Philippines, rồi Indonesia, kế là Malaysia và sau cùng đến đất Chân Lạp năm 1671. Thủy thủ đoàn đã mệt lã, Mạc Cửu quyết định chọn vùng đất Hà Tiên lập nghiệp. Mạc Cửu là người có công nới rộng bờ cỏi Việt Nam xuống tận vịnh Thái Lan.

Khi đã an cư, Mạc Cửu cho người về Trung Hoa đón mẹ già, họ Thái về Hà Tiên phụng dưỡng. Dân chúng thời đó để tỏ lòng kính mến Mạc Cửu, gọi là Thái bà bà. Thái bà bà sau khi chết được con cái và dân chúng thờ trong chùa Tam Bảo ở Hà Tiên.

Mặc Cửu có hai vợ. Người vợ đầu tiên người Hoa theo Mạc Cửu đến định cư tại Hà Tiên nhưng không có con trai nối dõi. Năm 1710, lúc đó đã 55 tuổi, ông cưới một người vợ Việt tên Bùi Thị Lẫm (người huyện Đồng Môn, tỉnh Biên Hòa) và sinh được con trai đầu lòng nối dõi tên Mạc Sĩ Lân (Mạc Thiên Tứ). Bà Bùi Thị Lẫm sau khi chết được dân chúng thờ trong chùa Phù Dung.

Năm 1714, Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn và được phong cho làm Tổng binh, giữ đất Hà Tiên. Đến năm 1735 Mạc Cửu mất (thọ 81 tuổi), giao cơ đồ lại cho con là Mạc Thiên Tứ. Chúa Nguyễn phong tặng ông hàm Đại tướng quân Võ nghi công. Đến đời vua Minh Mạng được phong hàm Thọ công Thuận mỹ trung đảng thần.

Mạc Cửu là người có công khai khẩn phủ Sài Mạt của Chân Lạp, lấy tiền chiêu mộ lưu dân (gốc Hoa) lập ra 7 xã gọi là Căn Cáo (thị trấn Hà Tiên ngày nay). Sự thành công của Mặc Cửu lan rộng khắp nơi trong vùng. Thời đó người ta gọi Hà Tiên là Căn Khẩu Quốc và đảo Koh Tral là Phú Quốc (nước giàu).

Để đền đáp công lao lớn đó, năm 1736, chúa Nguyễn Phúc Chu tặng cho dòng họ Mạc bảy từ hoàng tộc (thất diệp phiên hàn) để làm chữ lót khi đặt tên con cái : Thiên Tử Công Hầu Bá Tử Nam. Từ đó con trai của Mạc Cửu có tên Mạc Thiên Tứ, con của Tứ là Mạc Tử Sinh, con của Sinh là Mạc Công Du, con của Du là Mạc Hầu Lâm, con của Lâm là Mạc Bá Binh, con của Binh là Mạc Tử Khâm, con của Khâm là con gái tên Mạc Nam Lan. Bà Nam Lan tuyệt tự hết người nối dỏi, chấm dứt bảy đời họ Mạc.

Năm 1951, tại Hà Tiên người ta tìm thấy một bé trai mồ côi 13 tuổi, không biết nói tiếng Hoa, tự xưng là hậu thân thứ bảy của dòng họ Mạc tên Mạc Tiến Sĩ. Dân chúng gốc Hoa và chính quyền địa phương gom tiền của nuôi em này để tưởng nhớ công lao của họ Mạc.

- Mạc Thiên Tứ (1710-1780), tên Sĩ Lân, còn có tên là Mạc Thiên Tích, con quan Tổng binh Mạc Cửu. Khi Mạc Cửu mất, ông được chúa Nguyễn Phúc Trú phong chức Đô đốc.

Thiên Tứ cũng có hai vợ. Vợ thứ hai tên Nguyễn Nghi, con một vị quan văn của Thiên Tứ. Bà Nguyễn Nghi nổi tiếng là ghen tương. Một hôm lúc Thiên Tứ bận chuyện chiến chinh, bà Nghi cho người bắt cóc bà vợ cả và nhốt trong một chậu sứ. Lúc Mạc Thiên Tứ hành quân về, nghe tiếng kêu văng vẳng trong chậu úp, ông liền dở lên thì thấy bà Ái cơ bị nhốt suýt bị chết ngộp. Từ đó có chuyện tích "Nàng Ái cơ trong chậu úp" do nhà thơ Đông Hồ biên soạn. Bà Nghi sau đó xin Thiên Tứ cho xuống tóc đi tu ở chùa Phù Dung.

Đồn rằng người con gái thứ bảy Mạc Thiên Tứ lúc mới sinh tóc đã dài một thước (khoảng 40 cm). Mạc Thiên Tứ cho đó là điềm xấu, liền cho đem chôn sống. Từ đó cô gái này xuất hiện nhiều lần phù hộ cha. Dân chúng thờ cô gái thứ bảy này trong chùa Thất Mẫu. Năm 1945, thành phố Hà Tiên bị quân đội Mỹ ném bom, bà Thất Mẫu xuất hiện che chở dân chúng Hà Tiên, tất cả 61 trái bom đều rơi xuống biển và chỉ làm một người chết.

Tính khí khái, thông minh hơn người, học thức uyên bác, giỏi ngoại giao, Mạc Thiên Tứ lo việc đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và rước thầy về dạy nho học để khai hóa dân chúng.

Chính nhờ Mạc Thiên Tứ mà lần lược chúa Nguyễn có thêm được đất 2 phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (Cần Thơ và Long Xuyên) do vua Chân Lạp Nặc Nguyên dâng tặng, rồi đất Tầm Phong Long(Châu Đốc) và 5 phủ Hương Úc, Cần Bộ, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh (bờ biển miền Nam Kampuchea) do vua Chân Lạp Nặc Tôn dâng.

Năm 1775, Định Vương Nguyễn Phúc Thuần bỏ thành Phú Xuân chạy vào Gia Định, ông theo giúp. Con là Mạc Tử Duyên đã chống cự với Tây Sơn rất anh dũng tại Cần Thơ. Khi Định vương bị Tây Sơn bắt giết năm 1777, ông chạy sang Xiêm la cầu viện. Chẳng may bị vua Xiêm, vì nghe lời dèm pha, nghi ông lập cơ mưu chiếm nước đoạt ngôi. Bị hàm oan, ông cùng với hai con (Mạc Tử Hoàng và Mạc Tử Thượng) và tướng Tôn Thất Xuân với 53 quân tử tiết năm 1780. Sau được vua Minh Mạng phong tặng ông làm Đạt nghĩa chi thần.

Ngoài việc quan, Mạc Thiên Tứ còn là thi sĩ, ông là tác giả nhiều thi phẩm hay của thế kỷ 18 : "Minh Bột Di Ngư thi thảo", "Hà Tiên vịnh vật thi tuyển", "Châu Thị trinh liệt tặng ngôn", "Thi truyện tặng Lưu tiết phụ", "Thi thảo cánh ngôn vị tập", nổi tiếng nhất với "Hà Tiên thập vịnh tập". Mười bài thơ này vẫn còn được dân chúng Hà Tiên truyền tụng và lời thơ được dịch nôm như sau :

1. Kim Dự lan đào (Đảo Vàng chắn sóng)

Pháo Đài (trong thơ gọi là Đảo Vàng) là một núi nhỏ ở ngay cửa sông Hà Tiên, khi có ánh mặt trời, nhìn từ xa, trái núi này có ánh sáng màu vàng. Từ thời chúa Nguyễn đến thời Pháp thuộc nó là cứ điểm quân sự trấn giữ biển cả, trên có vị trí trọng pháo nên dân chúng gọi là Pháo Đài. Thời Mạc Cửu, vị trí Pháo Đài ở ngay giữa hải cảng Hà Tiên ngó ra vịnh Thái Lan, hình thể ví như cửa thành thiên nhiên để che chở nội địa. Mạc Thiên Tứ đã so sánh vị trí Pháo Đài với mình, vị tướng giữ trọng trách bảo vệ biên cương.

      Kim Dự này là núi chốt then

      Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên

      Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẫy

      Che chở dân lành khỏi ngữa nghiêng

      Thế cả vững vàng trên Bắc Hải

      Công cao đồ sộ giữa Nam Thiên

      Nước yên chẳng chút lòng thụ động

      Rông bủa nhơn xa tiếp bách xuyên.

Đối diện với mũi Pháo Đài là một gò đất, trên có miếu thờ Cá Ông, hàng năm các dân chài đến cúng kiến rất lớn (một phong tục cổ truyền của dân chài Trung Hoa).

2. Bình Sơn điệp thúy (Núi Bình Sơn xanh biếc)

Bình Sơn là một núi nhỏ do Mạc Thiên Tứ đặt tên, cao 53 m và cách chợ Hà Tiên 800 thước. Dân địa phương thường gọi là núi Lăng vì trên núi có lăng tẩm họ Mạc và các phu nhân, các tướng sĩ họ Mạc, hiện nay còn 45 ngôi mộ có bia đá rõ ràng. Bình Sơn có bốn mùa hoa cỏ xanh tươi, mỗi độ xuân về Mạc Thiên Tứ đến tế trời cầu an cho trăm họ.

3. Tiêu Tự thần chung (Tiếng chuông chùa Tiêu Tự)

Đây là ngôi chùa cổ do Mạc Cửu xây vào năm 1720 cho mẹ là Thái Bà Bà tu niệm. Chùa bị hư hại nặng vào những năm 1929 và 1951 do các cơn bão nhiệt đới, hiện nay chùa đã được dân chúng tu sửa lại hoàn toàn mới, nhưng chung quanh vẫn còn vết tích của những thành quách cao lớn bao bọc một thời xa xưa. Tục truyền năm 1720, Thái bà bà vào chùa nhưng chưa tìm được người chân tu truyền đạo, một đêm nằm mơ thấy rồng vàng quấn lấy cột chùa có mây bạc bao phủ. Sáng hôm sau có một lão đạo sĩ mặc áo cà sa vàng, đầu chít khăn trắng, tay chống gậy trúc vào chùa xin tu, xưng hiệu là Bạch Vân. Nghiệm thấy đúng như điềm mộng, Thái Bà Bà liền mời đạo sĩ này làm sư phụ và xin Mạc Thiên Tứ phong cho đạo hiệu là Bạch Vân hòa thượng, sau gọi là Huỳnh Long chơn nhơn. Trong chùa có một cái chuông đồng thật lớn, mỗi lần công chuông âm thanh vang dội khắp cả vùng nên chùa có tên là Tiêu Tự thần chung.

4. Giang Thành dạ cổ (Tiếng trống đêm ở Giang Thành)

Dọc theo biên giới Việt-Miên phía tây bắc, rạch Giang Thành phát nguồn từ Kampuchea, giòng nước uốn khúc chảy vào Đông Hồ. Kinh Vĩnh Tế nối liền Giang Thành với Châu Đốc. Mạc Thiên Tứ xây đắp bờ Đồn Lớn chạy dài đến Giang Thành và đêm đêm lính trú phòng đánh trống canh nghiêm nhặt khiến quân địch không dám đến khuấy động biên cương.

      Trống quân giang thú nỗi uy phong

      Nghiêm gióng đồn canh ỏi núi sông

      Đánh phá mặt gian người biết tiếng

      Vang truyền lệnh sấm chúng nghiêng lòng

      Phao tuôn đã thấy yên ba vạc

      Nghiêm nhặt chi cho lọt mảy lông

      Thỏ lụn sớm hầu trưa bóng ác

      Tiếng xe sầm sạt mới nên công.

5. Thạch Động thốn vân (Mây luồn Thạch Động)

Thạch Động là một hang động cao 98 thước có hình giống mũ lông của lính Anh, cách Châu thành ba cây số. Trong hang có chùa thờ Phật gọi là Tiên Sơn tự. Nóc hang có nhiều thạch nhũ, đôi lúc giống hình Phật nên gọi là Phật Nổi. Trong hang có đường lên Trời mây bao phủ, trên có thờ Ngọc Hoàng, dưới có đường xuống êm Ty. Truyền rằng có người lấy trái dừa khô khắc tên mình làm dấu ném xuống hang, ít lâu sau gặp dừa trôi trên mặt biển, ý nói hang có lối thông ra biển.

6. Châu Nham hạc bộ (Châu Nham cò đậu)

Núi Châu Nham có hình dáng một tản đá dựng cao 83 thước ở giữa đồng Kỳ Lộ cách Thạch Động 2 cây số. Trong núi có nhiều hang, thời trước những hang này có nhiều tu sĩ đến ở, tên hang do các vị tu sĩ đặt tùy theo mỗi người như Cội Hang Da, Bồng Lai tiên cảnh, Phật Cậu, Điện Bà... Trong hang phần nhiều thiếu ánh sáng phải dùng đuốc soi mới rõ đường đi. Riêng Cội Hang Da còn có chuyện cổ tích Thạch Sanh chém thuồng luồng cứu công chúa ra khỏi hang, sau đó gãy đàn 5 dây ca rằng : "Đàn kêu tích tịch tình tang, ai đem công chúa lên hàng mà về ?".

7. Đông Hồ ấn nguyệt (Đông Hồ trăng soi)

Đông Hồ là một vịnh lớn của vàm sông Giang Thành nằm ở phía đông Châu thành Hà Tiên, hữu ngạn có núi Ngũ Hổ, tả ngạn có núi Tô Châu. Hồ đẹp về đêm khi có trăng, nhất là những đêm trăng soi mặt nước còn lớp sương đêm chưa tan. Văn nhân tao khách hay dừng chân lại Đông Hồ, ngay cả tiên trên trời cũng ghé xuống đây để ngâm vịnh, do đó mới có tên Hà Tiên. Có một nhà thơ sinh trưởng trong vùng sau này cũng lấy bút hiệu là Đông Hồ (Lâm Tấn Phác).

      Lơ thơ kìa núi nọ non,

      Đời bao mấy lũ, cảnh còn nhưng nhưng,

      Mắt láo lưng, ngắm nhìn hoa cỏ,

      Một Đông Hồ là thú võng xuyên.

      Vũng bằng nước trải trời liền,

      Chén quỳnh, rượu cúc dòng thuyền giúp vui.

      Nguyệt sao soi một vùng vãn vãn,

      Tượng giữa dòng in sẵn cung nga. [...]

8. Nam Phố trừng ba (Sóng trong Nam Phố)

Nam Phố cách Hà Tiên độ 10 cây số, có hai bãi biển cát trắng để du khách tắm biển, có Hòn Một làm bình phong ngăn chặn sóng gió, nên ngay lúc biển động bãi vẫn yên lặng. Do đó Mạc Thiên Tứ còn đặt tên "Bãi Nam lặng sóng".

9. Lộc Trĩ thôn cư (Xóm dân ở Lộc Trĩ)

Lộc Trĩ là một cảnh u nhàn trên non dưới nước, một nơi nghỉ mát thích thú cách Châu Thành 4 cây số, trên có núi cao 123 thước, dưới có hai bãi tắm là Bãi Nò và Bãi Mũi Nai (xa xa trông chi chích các đảo lớn nhỏ như Phú Quốc, quần đảo Hải Tặc, Bãi Kép, núi Tà Lơn...).

10. Lư Khê ngư bạc (Cảnh chài cá ở Lư Khê)

Thuận Yên (trước kia tên Lư Khê) là tên một làng nằm dọc trên đường Hà Tiên - Rạch Giá, gần làng có nhiều ghềnh đá thiên nhiên nối liền với ngọn đồi, trên có chùa Sơn Hải. Dân cư tại đây sống bằng nghề chài, Mạc Thiên Tứ tả cảnh chài lưới thuyền bè nhộn nhịp khi chiều buông.

      Bát ngát trong xanh ngậm bóng chiều.

      Lư Khê khói điểm ngọn đèn chài,

      Sóng tràn nhấp nháy thuyền ghe đậu.

      Trăng xế lô xô lưới đó bầy.

Ngoài ra Mạc Thiên Tứ cùng các văn nhân lập ra "Chiêu Anh các" để xướng họa. Nguyễn Cư Trinh, thời bấy giờ giữ chức Gia Định Khẩn súy Tham mưu Nghi biểu hầu, là một trong những bạn văn thơ của Mạc Thiên Tứ.

Địa danh Hà Tiên đắn liền với Mạc Thiên Tứ. Hai chữ Hà Tiên được nhiều người hiểu là nơi có nhiều thắng cảnh đẹp, xứng đáng là cảnh tiên hay nơi tiên giáng trần. Hà Tiên cũng có nghĩa là giòng sông bất tử. Theo truyền thuyết địa phương, lúc bà Bùi Thị Lẫm mang thai, một đêm nằm mơ thấy Phật bà cao tới hai mươi trượng hiện ra tại đồn Long Kỳ, nước sông bỗng dâng lên cao và đổi màu, sau đó rẽ ra làm hai bên rồi biến mất. Ngày hôm sau, bà Lẫm sinh hạ một tuấn nam, tên Mặc Sỉ Lân (sau này lấy tên Mạc Thiên Tứ). Người Hoa địa phương liền đặt tên địa danh đó là Hà Tiên, có nghĩa là giòng sông nơi tiên nữ giáng trần.

Hà Tiên trước kia còn có tên Phương Thành (thành phố của hương thơm). Nhà văn thi sĩ Đông Hồ mô tả Hà Tiên như sau : "Thành này là một nơi văn chương văn vật, có cái khí nhẹ nhàng, thơm tho như một cái thành đầy kỳ hoa đị thảo phấn hương". Hà Tiên có rất nhiều hoa sen trắng nhụy vàng, được dân chúng gọi là hoa Phù Dung hay Phù Cừ, tỏa hương thơm ngát trong những đêm hè quanh chùa Phu Dung.

Hà Tiên có một tên khác là Trúc Băng Thành (thành phố có bờ đồn tre). Hà Tiên trước kia có hai bờ tường thành mọc đầy loại tre già có gai bao bọc, che chở. Một là Bờ Đồn Lớn dài độ 30 cây số, và Bờ Đồn Nhỏ dài khoảng ba cây số.

Gia đình họ Mạc, rất sùng đạo, đã cho xây cất tại đây 33 ngôi đình và chùa thờ Phật (tất cả đều bị quân Xiêm vào cướp và đốt phá năm 1771). Sau này dân địa phương chỉ xây và phục hồi lại được hai mươi chùa. Tên Hà Tiên do Mạc Thiên Tứ đặt ra để tưởng nhớ tới vị Phật Bà đã xuất hiện khi ra đời. Năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh đặt tên vĩnh viễn là Hà Tiên, nhưng dân chúng địa phương người Hoa vẫn thích giữ tên cũ là Căn Khẩu Quốc.

Thị xã Hà Tiên trước kia rất đông người Hoa cư ngụ, đa số là người Quảng Đông và Phúc Kiến. Ngày nay chỉ còn khoảng 2.000 người, trong đó 800 sống ngay trong thị xã, được phân chia như sau : Triều Châu 70%, Hẹ 17%, Hải Nàm 13%. Người Hoa sở hữu hai hãng làm nước mắm, một hãng làm nước đá (duy nhất) và 70 trong tổng số 100 cửa hàng được gọi là lớn của thị xã.

- Võ Trường Toản, người gốc Hoa lánh nạn Mãn Thanh, trước sang ở tại làng Thanh Kệ, tỉnh Thừa Thiên, sau dời vào Nam ở tại Bình Dương, Gia Định. Thiên tư thông minh, học sâu biết rộng và có chí cao khiết, gặp lúc nước nhà loạn lạc, ông lánh ẩn tại Bình Dương chuyên tâm nghiên cứu học hỏi và dạy học trò. Nhiều danh thần của vua Gia Long là môn đệ của Võ trường Toản như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, v.v...

Chúa Nguyễn Phúc Ánh lúc còn ở Gia Định, nghe tiếng ông là người tài đức, đã mời đến để giao quan chức nhưng ông nhất mực từ chối. Để đáp ơn tri ngộ, ông có dâng lên Nguyễn Phúc Ánh 10 điều về cách bình định xứ sở. Từ đó ông luôn được Nguyễn vương mời đến để bàn luận về kinh điển và chính trị. Võ Trường Toản mất năm 1792.

Nguyễn Vương rất thương tiếc, ban cho tên hiệu là "Gia Định xử sĩ Sùng đức Võ tiên sinh" và một đôi liễn điếu như sau :

      Triều hữu huân danh, bán thuộc Hà phần cựu học

      Đẩu nam phong giáo, tề khâm Nhạc lộc dư uy.

Hài cốt lúc đầu chôn tại Hòa Hưng (Bình Dương), đến năm 1865, sau khi mất ba tỉnh miền Đông vào tay quân Pháp, mộ ông được cải tán đem về xóm Gành Mù U trong làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri (Bến Tre). Tại Hòa Hưng có miếu thờ Võ Trường Toản theo lời xin của Phó kinh lược sứ Phan Thanh Giản năm 1855 (năm Tự Đức thứ 8).

Về văn thơ của Võ Trường Toản, hiện nay chỉ còn lưu truyền lại một bài phú "Hoài Cổ" bằng chữ quốc âm (chữ nôm).

Gia Định tam gia thi : Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh

1. Trịnh Hoài Đức, còn có tên là An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, đến ở tại đất Trấn Biên (Biên Hòa). Là người thông minh, lại được thụ giáo với bậc cự nho Võ Trường Toản, ông thi đỗ và được bổ làm Hàn lâm viện Chế cáo, rồi sung chức Điền tuấn quan trông coi việc khai khấn đất đai ở Gia Định.

Ông đã giúp vua Gia Long rất nhiều trong các công việc chính trị, ngoại giao, kinh tế và lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1793 được cử làm Đông cung thị giảng để dạy hoàng tử Cảnh, thăng Ký lục dinh Trấn Định (1794), Hộ bộ hữu tham tri (1794), Thượng thơ bộ Hộ (1795), sung chức Chánh sứ cầm đầu phái bộ sang Tàu đưa quốc thư và nộp lại ấn sách nhà Thanh phong cho Tây Sơn (1802), Hiệp tổng trấn Gia Định thành (1812), quyền Tổng trấn Gia Định thành (1820), Thượng thư bộ Lại sung Phó tổng tài Quốc sử quán, kiêm Binh Bộ (1820). Năm 1823, đời Minh Mạng ông dâng sớ cáo lão về hưu và từ trần năm 1825, thọ 61 tuổi, được truy tặng hàm Thiếu phó, Cần chánh điện Đại học sĩ và tên thụy là Văn Khúc, sau được dự thờ tại Miếu Trung Hưng công thần. Mộ ông được chôn tại làng Bình Tước, Biên Hòa.

Ngoài tài chính trị, Trịnh Hoài Đức còn là một nhà sử học lỗi lạc, đã để lại một sử liệu giá trị, quyển "Gia Định thành thông chí", mô tả rất kỹ về lịch sử của Sài Gòn.

Theo bản dịch của Aubaret năm 1863 : "Sài Gòn là danh từ để gọi thành phố của người Hoa, phát âm theo giọng Quảng Đông là "Xí-Coón" hay "Xây-Cóon", viết ra Hán tự thành "Tây Cống", (Chợ Lớn ngày nay). Sau khi bị quân Tây Sơn nhiều lần bách hại (1773, 1782, 1783), người Hoa gầy dựng lại đất Chợ Lớn càng ngày càng sung túc hơn. Thời đó Chợ Lớn vẫn còn là một vùng sình lầy, còn được người Hoa gọi là "Tai-ngon" hay "Tin-gan", mà phát âm theo giọng Quảng Đông là "Thầy-nguồn" hay "Thì-ngòn", đọc theo giọng Việt là "Đề Ngạn" (Đề là cái bờ đê, Ngạn là bờ sông cao dốc). Đề Ngạn là vùng Chợ Lớn ngày nay, còn Sài Gòn thật ra là tên cũ của thành Gia Định tức danh Bến Nghé (lấy tên sông Bến Nghé tức sông Sài Gòn ngày nay)".

 Theo Trịnh Hoài Đức mô tả trong sách thì năm 1788, Nguyễn Ánh lấy lại thành Gia Định từ tay quân Tây Sơn, và với người Pháp dựng lại thành Gia Định với hình bát quái. Nguyễn Ánh đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định, rồi từ đó thành bát quái này được gọi là thành Gia Định, cai quản năm trấn (quận) trên đất này. Trịnh Hoài Đức cũng mô tả sinh hoạt của người gốc Hoa tại đây và những đóng góp của họ vào nền thương mại của thành phố này.

Sau khi ông mất, thành phố này không ngừng biến cải. Sài Gòn thời bấy giờ gồm hai thành phố riêng biệt cách nhau khoảng ba dặm. Bến Nghé là trị sở của chính phủ và địa điểm của thành nằm bên bờ phía Tây của sông lớn, còn Sài Gòn nằm trên khúc sông nhỏ thông thẳng với Bến Nghé. Đến năm 1832, khi Quan Lớn Thượng, tức Tả Quân Lê Văn Duyệt, chết thành Gia Định bị bỏ ngỏ, không còn ai quản hạt năm trấn nữa mà chỉ còn làm trị sở cho trấn Phiên An. Trong những năm 1833-1835, thành Phiên An dùng làm căn cứ địa cho cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi nhưng bị thất bại, vua Minh Mạng triệt hạ thành và cho xây lại năm 1837 ở góc phía Bắc thành cũ. Năm 1859, quân Pháp triệt hạ thành này và cho tới tháng 2-1861, đồn Chí Hòa của thành bị thất thủ. Sài Gòn hoàn toàn lọt vào tay quân Pháp.

Ngày nay, nhiều người đã thống nhất về tên gọi của Sài Gòn. Nhưng trước đó, năm 1680, Sài Gòn có tên là Prei Nokor (tên gọi thời cổ Thủy Chân Lạp), năm 1778 tên là Đề Ngạn (nơi tụ tập của người Hoa) và từ năm 1790 mang tên Bến Nghé và đến thời Pháp thuộc mang tên Sài Gòn. Hồi thời giám mục Bá Đa Lộc (Béhaigne de Pigneau), tên Sài Gòn thường được trích gọi trong thư từ, nhưng đến năm 1860, tên này mới được phổ biến rộng và thống nhất trở lại.

Trịnh Hoài Đức, lúc sinh thời đã cùng với hai bạn thơ Ngô Nhân Tịnh và Lê Quang Định thường xướng họa mua vui, thơ văn của ba ông hợp thành một bộ gọi là "Gia Định tam gia thi" và cùng nhau lập ra "Bình Dương thi xã"' còn gọi là nhóm "Sơn Hội" với sự tham gia của nhiều văn nhân thi sĩ đương thời khác như Hối Sơn Hoàng Ngọc Uẩn, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng, v.v...

2. Lê Quang Định (1760-1813), tự Tri Chỉ, hiệu Tấn Trai, người Minh Hương, nguyên quán tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Lúc nhỏ, vì mồ côi cha, nghèo, nên phải theo anh vào Gia Định. Lớn lên, rất ham học, có tài văn thơ, Lê Quang Định kết bạn với Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh, cùng thành lập hội thơ văn gọi là "Bình Dương Thi Xã". Năm 1788, ông đỗ khoa thi mở tại Gia Định khi chúa Nguyễn Phúc Ánh xưng vương và được bổ dụng vào chức Hàn lâm viện Chế cáo. Sau đó, ông sung chức Điền tuấn quan cùng với Trịnh Hoài Đức, Ngô Tùng Châu trông coi việc khai khẩn điền thổ.

Năm 1800, ông được thăng Binh bộ hữu tham tri, rồi cùng với Nguyễn Văn Nhân phụng mạng phò hoàng tử Cảnh giữ thành Gia Định. Đến năm 1802, được thăng Binh Bộ thương thư, sau đó được cử làm Chánh sứ sang Trung Hoa cầu phong và xin đổi quốc hiệu. Năm 1806, phụng mạng soạn sách "Đại Việt nhất thống dư địa chí" (10 quyển), ghi rõ phong tục, thổ sản, sông núi và đường sá trong nước hết sức tường tận. Năm 1810, làm Hộ Bộ thượng thư kiêm coi Khâm thiên giám. Năm 1811, được cử coi việc lập số dinh điền và chia hạng ruộng đất. Năm 1813, ông mất, thọ 54 tuổi. Năm 1852, Lê Quang Định được dự thờ vào Trung Hưng Công Thần Miếu.

Ngoài bộ "Đại Việt nhất thống Dư Địa chí", Lê Quang Định còn để lại một ít thơ văn in chung với thơ văn của hai ông Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tịnh trong tập "Gia Định tam gia thi".

3. Ngô Nhân Tịnh, tự Nhữ Đơn, người Minh Hương. Ông là môn đệ của danh sĩ Võ Trường Toản và là văn thần triều Nguyễn, đời Gia Long. Ra giúp chúa Nguyễn cùng với Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức, được phong chức Hàn lâm viện thi độc. Hai lần đi sứ Tàu : năm 1798, đang làm Binh bộ Hữu tham tri, ông được cử đi sứ sang Trung Hoa với mục đích dọ thám mọi việc ; năm 1802, sau khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua, ông được cử làm Giáp phó sứ theo Trịnh Hoài Đức và Hoàng Ngọc Uẩn sang Trung Hoa đưa quốc thư và nộp lại những ấn sách của nhà Thanh trước đây phong cho Tây Sơn. Năm 1807, được sung chức Chánh sứ, ông cùng với Phó sứ Trần Công Đàn đem ấn sắc vào thành La Bích phong cho Nặc Ông Chân làm vua Chân Lạp.

Năm 1811, lãnh chức Hiệp trấn Nghệ An, ông tâu vua rõ cảnh dân tình đói khổ nơi ông trị nhậm và tìm đủ mọi cách để xin triều đình cứu giúp. Trong dịp này, ông đã cùng với Đốc học Nghệ An, Bùi Dương Lịch, soạn quyển "Nghệ An phong thổ ký". Năm 1812, khi Tả Quân Lê Văn Duyệt vào làm Tổng trấn Gia Định thành, ông được cử giữ chức Hiệp tổng trấn. Năm 1813, ông cùng Lê Văn Duyệt phụng chiếu đem binh đưa vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân về Chân Lạp. Cũng năm ấy, vì bị gièm pha và bị vua Gia Long nghi ngờ, ông buồn phiền lâm bệnh rồi mất. Thi thể ông được mai táng tại Chí Hòa (Gia Định), sau được phong tặng Kim tử Đại phu, Chính trị Vinh lộc Thượng khanh, tước Viễn hầu, thụy Túc Gian.

Ngô Nhân Tịnh đã để lại nhiều bài thơ trong tập "Gia Định tam gia thi" cùng với Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định.

Gia Định tam hùng : Đỗ Thành Nhân, Võ Tánh và Châu Văn Tiếp

1. Đỗ Thành Nhân, còn có tên là Hữu Phương, người làng Minh Hương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, vào Nam ngụ tại Phiên An trấn. Sau trở thành danh tướng, anh hùng đất Ba Giồng (Định Tường), được xưng tụng là một trong "Gia Định tam hùng".

Nhân thời loạn, Đỗ Thành Nhân tập hợp được hơn 3.000 nghĩa quân gọi là binh đoàn Đông Sơn, tự xưng là Phương Danh hầu, chống lại Tây Sơn. Năm 1776, Đỗ Thành Nhân về theo chúa Nguyễn (Định vương Nguyễn Phúc Thuần). Năm 1778, ông đánh thắng Tây Sơn ở sông Bến Nghé, giết được tướng Tư Khấu Oai. Cũng năm đó, ông cùng Phó tướng Hồ Văn Lân, phụng mạng chúa Nguyễn Phúc Ánh sang dẹp loạn ở Chân Lạp. Năm 1780, khi Nguyễn Phúc Ánh xưng vương ở Gia Định, ông được phong chức Ngoại hữu Phụ chính Thượng tướng quân, tước Quận công. Sau vì việc bắt dân nạp lương, bị Nguyễn Phúc Ánh nghị kyï và lập mưu giết đi (cuối tháng 3/1781).

Đỗ Thành Nhân là một người rất giỏi về kỹ thuật đóng tàu chiến. Năm 1780, ông cho đóng thủy sư hai bánh lái : bánh lái hình dài để đi biển, bánh lái tròn để đi sông. Số lượng tàu chiến của Nguyễn Phúc Ánh, năm 1766, được Đỗ Thành Nhân nâng lên 500 chiếc. Những tàu chiến này đã góp phần quyết định trong việc chiếm lại thành Gia Định từ tay quân Tây Sơn.

Nhiều sử gia nói Nguyễn Phúc Ánh đã phá hũy cơ may chấm dứt nhà Tây Sơn sớm hơn khi cho người ám hại Đỗ Thành Nhân. Nguyên do cuộc ám sát phi lý này vẫn còn nằm trong bóng tối. Người ta thường suy luận rằng vị danh tướng này án bóng Nguyễn Phúc Ánh, làm danh vị vương trẻ tuổi lu mờ. Có lẽ đây là hành động thiếu chính trị nhất của Nguyễn Phúc Ánh. Đỗ Thành Nhân là vị tướng mà nhà Tây Sơn thực sự nễ sợ. Người ta thuật lại rằng, Nguyễn Nhạc reo mừng khi hay tin Đỗ Thành Nhân bị Nguyễn Ánh sát hại. Quân của Đỗ Thành Nhân nổi loạn sau đó, uy thế của Nguyễn vương suy yếu khiến quân Tây Sơn chiếm lại được thành Gia Định.

2. Võ Tánh, người Minh Hương, tổ tiên trước kia ở làng Phước An (Biên Hòa) sau dời về Bình Dương, Gia Định. Thuở còn thanh niên, ông luyện tập võ nghệ, nổi tiếng là một võ sư cao cường có sức mạnh hơn người, một mình Võ Tánh đã dùng tay không đánh cọp tại 18 thôn Vườn Trầu . Đương thời, ông cùng với Đỗ Thành Nhân và Châu Văn Tiếp họp thành Gia Định tam hùng. Quân Tây Sơn thường nói rằng : "Trong bọn tam hùng đất Gia Định, Võ Tánh là anh hùng bậc nhất, không nên phạm đến".

Vì không chịu khuất phục Tây Sơn, Võ Tánh chiêu tập nghĩa binh cùng với anh là Võ Nhân phất cờ khởi nghĩa tại 18 thôn Vườn Trầu (Gia Định), rồi kéo binh chiếm giữ cả vùng đất Gò Công. Võ Nhân là thuộc tướng của Đỗ Thành Nhân. Sau Đỗ Thành Nhân bị giết, Võ Nhân tụ quân Đông Sơn làm phản, đánh lại chúa Nguyễn, nhưng chẳng bao lâu cũng bị bắt và bị giết. Võ Tánh đem tàn quân của anh chạy về án giữ thôn Vườn Trầu. Quân Đông Sơn dưới tay Võ Tánh có đến mấy vạn người, chia thành 5 đoàn, được đặt hiệu là đạo quân Kiến Hòa. Võ Tánh tự xưng là Tổng nhung.

Khi Nguyễn Phúc Ánh từ Xiêm La trở về nước có sai Nguyễn Đức Xuyên đến mời Võ Tánh về giúp. Khi Nguyễn vương về đóng ở Nước Xoáy, Võ Tánh đem bộ hạ đánh đuổi tướng Tây Sơn, Phạm Văn Tham, rồi đến tháng 4/1788 mới đem bộ tướng : Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô, Trần Văn Tín đến bái kiến Nguyễn vương. Nguyễn Phúc Ánh quá mừng rỡ phong Võ Tánh làm Tiền phong dinh Chưởng cơ và gả em gái là Ngọc Du công chúa. Các thuộc tướng đều được phong làm cai cơ.

Ngay từ buổi đầu, Võ Tánh đã giúp Nguyễn Phúc Ánh nhiều công trạng : vây đánh và bắt được tướng của Tây Sơn tên Phạm Văn Tham (1789), đánh bại tướng Đào Văn Hổ và thu phục thành Diên khánh (1790). Năm 1793 Võ Tánh được thăng làm Khâm sai Quản suất Hậu quân dinh, Bình tây Tham thặng Tướng quân Hộ giá. Năm 1794 làm Trấn thủ thành Diên Khánh, sau đó về lại Gia Định và được phong tước Quận công, cùng thăng chức Đại tướng quân. Năm 1797, ông theo Nguyễn vương ra đánh Quảng Nam, thắng được tướng Nguyễn Văn Ngụ tại cửa Đại Chiêm (Cửa Đại), quân sĩ Tây Sơn về hàng rất đông. Sau đó đánh bại Đô đốc Nguyễn Văn Giáp tại sông Mỹ Khê (Quảng Ngãi). Năm 1799, Võ Tánh theo Nguyễn Phúc Ánh ra đánh Qui Nhơn, ông cùng với tướng Nguyễn Huỳnh Đức đánh thắng nhiều trận tại Thị Gia, Tân An, giết được Đô đốc Nguyễn Thiệt và chiêu hàng Đô đốc Lê Chất, chận đánh Thái phó Lê Văn Ưng tại Kha Đạo, bắt hơn 6.000 tù binh và tịch thu 50 voi chiến, các tướng Tây Sơn khác : Lê Văn Thanh, Nguyễn Đại Phát phải xin hàng. Thành Qui Nhơn được đổi tên là Bình Định và giao cho Võ Tánh và Ngô Tùng Châu ở lại trấn giữ. Lúc Võ Tánh cầm chân quân Tây Sơn tại thành Bình Định, Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm thành Phú Yên rất dễ dàng.

Ngày 7/7/1801, trong lúc bị vây ngặt, có người khuyên Võ Tánh bỏ thành mà chạy nhưng ông không chịu. Võ Tánh nói : "Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thời sau này còn mặt mũi nào trông thấy Chúa thượng". Sau đó ông trao cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu một bức thư đại ý nói rằng : "Phận sự ta làm chủ tướng thì đành liều chết ở dưới cờ, ta đâu có ngại. Còn như các quân sĩ không có tội tình gì, xin chớ nên giết hại". Tiếp theo ông lấy rơm cỏ chất dưới lầu Bát Giác (Bình Định), đổ thuốc súng rồi tự đốt mà chết. Quan Hiệp trấn Ngô Tùng Châu cũng uống thuốc độc tự tử. Trần Quang Diệu đem quân vào thành, xúc động trước tấm gương tiết liệt của Võ Tánh, sai người làm lễ liệm tang tử tế và không làm tội hay giết hại một ai. Quân Tây Sơn đem đại quân đến bao vây thành suốt 3 năm mới hạ được thành.

Vua Gia Long, sau khi lên ngôi Hoàng đế, tưởng nhớ đến công lao của Võ Tánh cho lập đền thờ ở nền cũ lầu Bát Giác, sai người đưa di cốt của ông về chôn tại Phú Nhuận (Gia Định) và truy tặng tước Dực vận Công thần, Phụ quốc Thượng tướng công, Trụ quốc úy Thái trung liệt. Vua Minh Mạng truy phong làm Hoài quốc công.

Tới nay, người Bình Định còn lưu truyền câu hát nói lên cảm tình của dân chúng đối với cái chết anh dũng của Hậu quân Võ Tánh :

      Ngó lên ngọn tháp Cánh Tiên

      Cảm thương quan Hậu thủ thiền ba năm !

3. Châu Văn Tiếp (1738-1784), người Minh Hương huyện Đông Xuân, tỉnh Bình Định (sau thuộc Phú Yên). Là danh tướng từng giúp chúa Nguyễn Phúc Ánh lập được nhiều công trạng, Châu Văn Tiếp được mọi người xưng tụng là một trong Gia Định tam hùng.

Theo truyền thống của gia đình, trung thành với chúa Nguyễn, khi quân Tây Sơn tiến về Qui Nhơn, ông đã mộ quân đánh lại quân Tây Sơn. Châu Văn Tiếp chiếm giữ núi Trà Lang cản đà tiến quân của Nguyễn Nhạc. Đến khi chúa Nguyễn bỏ Phú Xuân chạy vào Gia Định, Châu Văn Tiếp đem binh ra giúp. Chúa Nguyễn Phúc Thuần và Đông Cung bị Tây Sơn sát hại, Nguyễn Phúc Ánh lên nối nghiệp, Châu Văn Tiếp được phong làm Chưởng cơ, đem binh ra Phú Yên đánh Tây Sơn, bị thua phải bỏ về giữ núi Trà Lang.

Nghe tin Gia Định thất thủ, ông đem quân từ Phú Yên về hợp với quân các đạo chiếm lại thành Gia Định (1782), rồi cho người ra tận Phú Quốc đón Nguyễn Phúc Ánh về. Thành Gia Định lại thất thủ (1783), ông đưa Nguyễn Vương chạy ra Phú Quốc, Côn Lôn, rồi về lại Phú Quốc, sau cùng qua Xiêm cầu viện. Trở về nước, ông đã cùng chúa Nguyễn Phúc Ánh thu phục các vùng Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít (Vĩnh Long) và Sa Đéc. Tháng 10/1784, ông bị tử thương khi giao tranh với quân Tây Sơn tại Mân Thít. Nguyễn vương thương tiếc vô cùng, truy phong ông chức Tả quân Đô đốc Chưởng phú sự. Về sau được thờ tại Hiền trung từ (Sài Gòn), Trung hưng Công thần miếu (Huế) và được liệt vào hạng Đệ nhất công thần. Tại huyện Vĩnh Trị (Vĩnh Long), dân chúng có lập đền thờ Châu quận công.

- Ngô Tùng Châu, người Minh Hương huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, sau vào Nam định cư ở Gia Định. Ông là môn đệ của Võ Trường Toản, xuất thân thụ chức Hàn lâm. Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh xưng vương tại Gia Định, ông được phong chức Điền tuấn quan cùng với các bạn đồng môn là Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức... tất cả gồm 12 người coi việc điền thổ. Sau ông được thăng lên chức Lễ bộ Tham tri kiêm Phụ đạo Đông cung Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh.

Năm 1799, Ngô Tùng Châu được phong làm Hiệp trấn cùng trấn thủ thành Bình Định với Võ Tánh. Mặc dù đã cố sức chống giữ nhưng binh sĩ mệt mõi sau 3 năm bị quân Tây Sơn bao vây, ông uống thuốc độc tự tử. Về sau ông được vua Gia Long truy tặng làm Tán tri Công thần, Thái tử Thái sư Quận công. Sang đời Minh Mạng lại được truy phong là Ninh hòa Quận công, được thờ tại Thế miếu và liệt vào miếu Trung Hưng công thần.

- Trần Tiễn Thành, người làng Minh Hương, huyện Hương Trà (Thừa Thiên), vốn tên Thời Mẫn, được vua Tự Đức mến chuộng ban tên Tiễn Thành. Thân sinh là Trần Triều Dực (Tri phủ Tân Bình, Gia Định) mất hồi ông 12 tuổi, ông ở với bà cô tại Chợ Dinh thuộc vùng ngoại ô Phú Xuân. Năm 21 tuổi, vào học trường Quốc tử giám. Năm 25 tuổi đỗ cử nhân và 26 tuổi đỗ tiến sĩ.

Ra làm quan và dưới thời Tự Đức lần lượt được thăng đến hàm Văn minh điện Đại học sĩ, chức Binh Bộ thượng thư. Năm 1859, ông được cử cùng với Thự thống chế Vũ Lâm Dinh, Hữu dực Nguyễn Như Thăng trông coi việc xây đắp đồn lũy phòng thủ cửa biển Thuận An gần Huế. Sau khi vua Tự Đức mất, ông được cử làm Phụ chánh Đại thần. Vì bênh vực cho Thoại quốc công êng Chân, người được vua Tự Đức cử kế vị, và không chịu theo mưu của hai quan Phụ chánh Đại đồng là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, ông bị hai người này làm tội và cách chức.

Khi vua Hiệp Hòa lên ngôi, nghĩ ông là bậc cựu thần trải thờ 4 đời vua, chỉ giáng 2 cấp lưu, song lại cho được khoan miễn trước khi có ân xá. Sau đó ông lấy cớ già yếu, xin nghĩ việc và về ở Chợ Dinh. Do có người gian mật tấu đầy ác ý, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sai người ám sát Trần Tiễn Thành, và còn tâu vua xin giáng họ Trần xuống hàm Binh Bộ thượng thư. Sang đời vua Đồng Khánh, Trần Tiễn Thành mới được phục hồi hàm Văn minh điện Đại học sĩ.

- Phan Thanh Giản (1795-1867), tự Tịnh Bá và Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu Mai Xuyên, là một danh thần triều Nguyễn. Phan Thanh Giản quê ở Bến Tre. Ông nội là Phan Thanh Tập, người nhà Minh chạy nạn nhà Thanh (Trung Hoa) di cư sang Việt Nam ở vùng Bình Định, lấy vợ người Việt sinh ra Phan Thanh Ngạn. Trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn, gia đình ông Ngạn di cư một lần nữa vào miền Nam, ở làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay là quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Ông Phan Thanh Ngạn lấy vợ người Việt, năm 1795 sinh ra Phan Thanh Giản.

Đời Minh Mạng thứ 6, ông thi hương đỗ cử nhân tại Gia Định, năm sau thi đình đỗ tiến sĩ (ông là người duy nhất ở Nam Kỳ đỗ tiến sĩ trong hội thi năm 1826). Sau đó ông làm quan trải ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

Ông lần lượt được phong Hàn lâm viện Biên tu, Lang trung Bộ Hình, Tham hiệp tại Quảng Bình, quyền Trấn thủ Nghệ An (1828), Thự phủ doãn Thừa Thiên (1829), Hiệp trấn tỉnh Ninh Bình (1830), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1831), sau bị giáng xuống Tiền quân Hiệu lực (1862) đi dẹp loạn Katu ở Quảng Nam. Năm 1862 được sung chức Hàn lâm viện Kiểm thảo Nội các Hành tấu, Viên ngoại Bộ Hộ, Phó sứ sang Trung Hoa (1833), Đại lý Tự khanh (1834), Cơ Mật viện Đại thần, Khâm trấn miền Trấn Tây (Bình Định), Bố Chánh, Hộ Lý tuần vũ Quảng Nam. Năm 1836 bị giáng xuống làm Lục phẩm thuộc viên (quét dọn công đường) vì đã dám cản một chuyến du hành của vua tại Ngũ Hành sơn để dân có dịp làm mùa, sau được bổ Thừ chỉ Nội các, Lang trung, Biện lý Bộ Hộ, Thị lang Viện Cơ Mật. Năm 1838 vì sơ ý làm phật lòng vua, ông bị giáng chức đi coi việc khai thác mỏ vàng ở Quảng Nam và mỏ bạc ở Bắc kỳ. Năm 1839 được xung chức Phó sử sở Thông Chánh, Hộ Bộ thị lang, sau bị đổi làm Hộ lý ở Thương Trưởng, v.v...

Sau đến đời vua Tự Đức, ông được sung chức Hiệp biện Đại học sĩ (1853), Thượng thơ Bộ Hình, Kinh diên Giảng quan kiêm Tổng tài Quốc sử Quán sung Cơ Mật viện đại thần. Ông có đi sứ nhà Thanh và giữ chức Quốc sử quán Tổng tài, thời Tự Đức, soạn ra bộ Khâm Định Việt Sử.

Từ 1862 đến 1867, Pháp lần lượt chiếm 6 tỉnh miền Tây Nam kỳ, Phan Thanh Giản được cử làm Như tây Chánh sứ (1863) sang Pháp thương lượng, sau làm Kinh lược sứ vào Nam (1866), trấn nhậm Vĩnh Long để đối phó với tình thế nguy ngập. Trước sự uy hiếp quân sự của quân Pháp, cảm thấy không hoàn thành sứ mạng mà vua giao phó, ông viết một tờ sớ dâng lên vua đại ý như sau : "...Nay gặp thời gian bĩ, việc dữ khởi ở trong cõi, khí xấu hiện ở biên thùy, việc cõi Nam Kỳ một chốc đã thế này, không thể ngăn cản nổi, nghĩa tôi đáng chết không dám sống cẩu thả để cái nhục cho quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn : người thân kẻ hiền trong nước cung lòng giúp đỡ, kính cẩn phép trời, thương người cùng khổ, lo trước tính sau, đổi dây thay bánh, thế lực còn có thể làm được. Tôi tới lúc tắt nghỉ, nghẹn ngào không biết nói sao, chỉ gạt nước mắt tỏ lòng quyến luyến, trông mong khôn xiết...". Viết xong, ông xếp triều phục và các đạo sắc phong cho người đem về Kinh, rồi tuyệt thực. Thấy con cháu khóc lóc, ông cười mà dạy : "Ta nay ra người vô dụng, sống không lợi ích cho quê hương, thác cũng không thiệt thòi cho xã hội. Chỉ khuyên các con chẳng nên đục lợi cầu vinh mà làm điều nhẫn tâm hại lý. Hãy cố học cho bằng người Âu Tây..., họa may sau này đặng vẻ vang cho Tổ quốc". Nhịn ăn 17 ngày mà không chết, ông uống thuốc độc để kết liễu đời mình. Ông mất ngày 5/7/1867, năm Đinh Mão. Triều đình lên án ông gắt gao, đục tên trên bia Tiến sĩ, mãi đến đời vua Đồng Khánh (1886), ông mới được khôi phục nguyên hàm và tên được khắc lại trên bia đá.

Về thơ văn, Phan Thanh giản đã để lại nhiều tác phẩm cho đời sau. Viết bằng Hán tự có tập Du Kinh (1826), Toái Cầm, Kim Đài Thi Tập (1832), Sứ Trình nhật ký (1863), Khảo Cổ ‰ưc thuyết. Viết bằng chữ Nôm : Lương Khê thi thảo. Ngoài ra ông còn soạn chung những sách : Minh Mạng chính yếu (1837) và Khâm Định thông giám cương mục (1853).

- Lý Văn Phức, tự Lân Chi, hiệu Khắc Trai, lánh nạn nhà Mãn Thanh đến định cư tại làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, Hà Đông. Năm 1819 đỗ cử nhân, tham chính trải 3 đời vua (Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức). Làm quan đến chức Tham Tri thì bị cách chức, đến năm 1830 được vua Minh Mạng miễn tội và phụng mạng đi sứ các nơi như Tiểu Tây Dương, Tân Gia Ba, Lữ Tống, Quảng Đông và Áo Môn. Năm 1834, được khai phục chức Chủ sự rồi thăng Quang lộc Tự khanh. Năm 1835 được cử đi sứ Tàu. Ông mất năm 1849, thọ 64 tuổi.

Lý Văn Phức để lại nhiều tác phẩm : bằng Hán văn : có Tây Hành kiến văn lục (hay Kỷ lược), Việt Hành ngâm (hay Thi thảo), Việt Hành tục ngâm, Kính Hải tục ngâm, Học Ngâm tồn thảo, Chu Nguyên tạp vịnh thảo, Tiên Thành lữ hoại, Lý Thị gia phả ; bằng văn quốc âm (chữ nôm) : Nhị Thập Tứ Hiếu diễn âm, Phụ Châm tiện lãm, Tự Thuật ký, Bất Phong lưu truyện, Sứ trình tiện lãm khúc...

IV. Thời Pháp thuộc

- Ông Khuông Việt, trong sách khảo về Tôn Thọ Tường, ghi rằng năm 1866 có cuộc đấu xảo (exposition) đầu tiên trong xứ và qua ngày 4-3 có bày lẽ phát phần thưởng trước mặt quí ông Tôn Thọ Tường, tri phủ Trần Tử Ca, tri huyện Nguyễn Văn Thi, giáo sư Trương Vĩnh Ký, cùng những ông : Carneiro, Sémane, Manheimdorff, Dunlop, Mettler, Wang Tai và Tấn Phát.

Người ta suy diễn hai ông, Tấn Phát và Wang Tai, là người gốc Hoa. Có người đoán ông Wang Tai là họ Vương đọc theo lối phát âm Tây Phương, có người viết là họ Hoàng, nhưng tên tuổi của ông "Vương Tài" này được rất nhiều người biết tiếng thời đó.

- Lý Liễu, người Minh Hương quê ở Tam Bình (Vĩnh Long), là một chiến sĩ cách mạng miền Nam trong phong trào Đông Du. Ông xuất dương năm 1907, theo học Trung-Anh học đường tại Trung Hoa, bị chính quyền Anh bắt giữ tại Hồng Kông và bị đày sang Guyane (Nam Mỹ). Năm 1917, ông vượt ngục, trốn sang đảo Trinidad lấy quốc tịch Trung Hoa, cùng với một số đồng chí khác là Nguyễn Quang Diệu, Đinh Hữu Thuật định cư lập nghiệp. Giữa năm 1920, các nhà cách mạng quyết định trở về nước để tiếp tục cuộc đấu tranh chống bạo quyền thực dân Pháp. Lý Liễu rời bỏ vợ (người Anh) và con, về lại Việt Nam hoạt động chính trị. Chẳng bao lâu, ông bị bắt và bị đày ra Côn Đảo rồi mất tại đó.

- Châu Thượng Văn, người Minh Hương, quê ở Hội An (Đà Nẵng), là nhà chí sĩ hăng hái hoạt động cho việc duy tân xứ sở. Sau cuộc dân biến năm 1908 tại Quảng Nam bị thất bại, ông bị bắt. Khi bị tra hỏi, ông tự nhận đã chủ mưu đưa người trong nước xuất dương cầu học tại Nhật Bản và xúi hạt dân xin giảm thuế. Ông bị kết án và đày đi Lao Bảo, nhưng ông tuyệt thực và chết tại đề lao Thừa Phủ (Huế).

Huỳnh Thúc Kháng, một bạn đồng chí, đã cảm tác câu đối điếu dịch nôm như sau :

      "Cái chết ai không sợ, ngươi lại không tham cái sống suông ;

      Tám thước mày râu, thẹn với non sông dành bữa gạo".

      "Phần khó để ai đương, ngươi bổn lãnh ngay phần dễ ;

      Một phần gánh vác, đều đem tâm huyết cáo bà con".

- Hồ Dzếnh, tên thật là Hà Triệu Anh, người Minh Hương, sinh năm 1917 tại Thanh Hóa, là một nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến, đã xuất bản nhiều truyện văn xuôi chữ quốc ngữ như "Quê Ngoại" (1943), "Hoa Xuân Đất Việt" (1945). Tập hồi ký "Chân Trời Cũ" (1942) kể những truyện về gia đình ông : cha người Hoa, mẹ người Việt, làm người đọc hình dung được những tình cảnh của làng quê Việt Nam ngày xưa : lam lũ, nghèo đói, heo hút, với những người đàn bà chịu thương, chịu khó và rất đỗi nhân hậu thủy chung.

Mỗi truyện là một thứ thơ buồn hướng về dĩ vãng đau đớn. Điều cảm động nhất là cái tình của nhà văn đối với quê ngoại "giải đất cần lao, giải đất thoát được ra ngoài sự lọc lừa, phản trắc, cái giải đất chỉ bị bạc đãi mà không bạc đãi ai bao giờ".

Ngoài ra ông còn xuất bản nhiều tác phẩm khác như "Một Chuyện Tình 15 Năm Về Trước", "Những Vành Khăn Trắng"... với bút hiệu Lưu Thị Hạnh. Hồ Dzếnh được biết nhiều với những bài thơ "Ngập Ngừng" và "Mầu Cây Trong Khói" (được phổ nhạc dưới tên Chiều và còn hát đến ngày nay).

Trần Tuấn Kiệt viết về Hồ Dzếnh như sau : "Một Lưu Trọng Lư thật thanh cao thơ mộng, đạt được tiếng thơ nhẹ mà sâu vang vọng tự cõi bờ sương tuyết nào trong sương mơ đã để vào nền thi ca Việt một vóc dáng ung dung mờ ảo kể ra cũng đầy đủ lắm, rồi hôm nay thi ca Việt lại vang ngân lên một hồn lưu lạc của một người mang giòng máu Minh Hương, sống trên cảnh sông núi miền Nam và mối sầu được giăng đến nghìn xưa ở những xứ thơ mộng lạ thường của đất Trung Hoa ngày nọ. [...] Mà cũng là một thi nhân đa tình ghê gớm, mơ mộng lững lơ như khói chiều, tha thiết mà dũng cám như người dong thuyền nghe lời vọng của đám nhân ngư kỳ dị...".

Hồ Dzếnh mất ngày 13/8/1991 tại phố Hàng Mã, phường Ngô Thời Nhậm, Hà Nội, thọ 74 tuổi.

      Ngập Ngừng

      Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

      Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân

      Ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần

      Tôi nói khẽ gớm làm sao nhớ thế

      Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

      Em tôi ơi! Tình có nghĩa gì đâu?

      Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu

      Thưở ân ái mong manh hơn nắng lụa

      Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa

      Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi

      Chỉ ngày mai mới đẹp ngày mai thôi

      Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé

      Tôi sẽ tránh, cố nhiên, nhưng rất nhẹ

      Nếu trót đi, em hãy gắng quay về

      Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

      Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở

     

      Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ

      Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa.

      Lời Về

      Thuở trước quê em ở Bắc

      Vô Nam từ độ lên mười

      Mây trắng ngày ngày xa tấp

      Thương quê em buồn khôn nguôi...

      Mái tóc dừa xanh Thủ Đức

      Ngọt ngào thay trái Sầu Riêng,

      Gió bãi phù sa Bến Lức

      Nay thuần sữa mẹ linh thiêng.

      Em dẫu chỉ là con gái,

      Quê xinh soi bóng sông lành,

      Theo mẹ, băng chừng quan tài

      Bao giờ quên lũy tre xanh.

     

      Anh nhé dùm em nhắn với

      Nhớ quê em ngại thăm quê

      Lửa phương trời duyên Khánh Hội

      Bạc Liêu dễ ở, khó về.

      Vó ngựa từ ngày vỗ xuống Nam

      Truông mòn đưa lối Hải Vân San

      Áo nâu phai nhạt màu cây cỏ

      Lá rụng hoa rơi đất nước Chàm.

      Nước Chảy Chân Cầu

      Quê em xa thẳm màu mây gió

      Buồn vít không gian mất định kỳ

      Em có mơ về năm tháng cũ

      êm thầm nghe tiếc phút giây đi [...]

      Mầu cây trong khói

      Trên đường về nhớ đầy

      Chiều chậm đưa chân ngày

      Tiếng buồn vang trong mây

      Chim rừng quên cất cánh

      Gió say tình ngây ngây

      Có phải sầu vạn cổ

      Chất trong hồn chiều nay

      Tôi là người lữ khách

      Mầu chịu khó làm khuây

      Ngỡ lòng mình là rừng

      Ngỡ hồn mình là mây

      Nhớ nhà châm điếu thuốc

      Khói huyền bay lên cây

[Bài này được Dương Thiệu Tước phổ nhạc dưới tên Chiều]

Tứ trụ miền Nam : Nhất Hỏa, nhì Đàm, Tam Xường, tứ Ích

1. Hứa Bồn Hoa, tục danh là chú Hỏa, là một người giàu có nhất miền Nam trong thời Pháp thuộc. Mặc dầu danh vọng vang lừng, địa vị cao nhưng chú Hỏa không muốn ai gọi mình là "Ông Hỏa" cả nên mọi người đều sử dụng tục danh của như lúc còn hàn vi : chú Hỏa. Hui Bon Hoa là tên ký âm Pháp ngữ của chú Hỏa.

Chú Hỏa là một huyền thoại về người Hoa tại Việt Nam cho đến nay vẫn còn được nhiều người nhắc đến. Huyền thoại về chú Hỏa tiêu biểu cho đức tính, khả năng và đời sống của người Hoa sinh sống ở miền Nam vào đầu thế kỷ 20.

Tiếng đồn rằng thuở hàn vi, Chú Hỏa làm việc rất khổ cực, lúc thì lượm ve chai, lúc thì làm hầu bàn nhưng với ý chí muốn thành công, ông đã dành dụm và gây dựng lần hồi cơ sở làm ăn. Với số tiền dành dụm đó ông cho thân hữu vay lấy lãi để tăng thêm nguồn vốn, cơ sở của ông ngày một phát đạt.

Khi cơ sở phát triển mạnh, Hứa Bồn Hoa hùn vốn với một người Pháp mở tiệm cầm đồ ở khắp Nam Kỳ. Người Pháp đó chẳng may bị chết trong một tai nạn không người kế nghiệp. Vợ con của người này ở bên Pháp và con cháu từ chối qua Việt Nam tiếp tục công việc của cha. Chú Hỏa mua lại phần hùn và toàn bộ tài sản của Pháp kiều này và còn để cho con cháu của Pháp kiều, mặc dầu vẫn ở Pháp, quyền sở hữu vĩnh viễn một số bất động sản ở Lục Tỉnh.

Giai thoại kể lại rằng một hôm chú Hỏa muốn bán bớt một số đồ đạc của Pháp kiều, trong đó có một tấm thảm trải nền nhà đã cũ nhưng còn xài được. Khi chải bui cho sạch sẽ, chú Hóa khám phá một kho tàng gồm toàn vàng lá, tiền vàng, giấy bạc loại lớn cùng một số kim cương lót giữa hai mặt của tấm thảm. Với số tiền trời cho này, chú Hỏa mua sắm nhà cửa, đất đai, xây nhà cho thuê, đầu tư vào một số ngành kinh doanh lớn. Khác với những người Hoa khác, chú Hỏa muốn xây dựng nhà ở tại ngay trung tâm Sài Gòn, cạnh những cơ quan hành chánh của Pháp như một hình thức biết ơn và tin tưởng. Gia đình của chú Hỏa đều mang quốc tịch Pháp.

Năm 1936, có 46.000 ha ruộng đất do người Hoa sở hữu, riêng chú Hỏa đã làm chủ hơn một nửa. Cho đến năm 1975, gia đình họ Hứa làm chủ một bất động sản rất lớn : các phố xá chính ở Sài Gòn, nhất là ở khu Chợ Bến Thành, Chợ Cầu Ông Lãnh, Chợ Cầu Muối (tức gần như toàn bộ Quận Hai cũ nay được xáp nhập vào Quận Một) đều là của Chú Hỏa. Công ty họ Hứa quản trị bất động sản rất có tình có lý, ai không trả nổi tiền nhà thì cho khất kỳ sau và không ai biết được giá mướn của mỗi căn nhà là bao nhiêu.

Khi trở nên giàu có, chú Hỏa làm rất nhiều việc thiện như cứu giúp người nghèo, nuôi cơm những người vô gia cư, giúp tiền xây cất những cô nhi viện, bệnh viện... Chú Hỏa đã làm gương cho các bang trưởng, chủ nhà máy xay gạo, lò gạch, tiệm buôn lớn : những tay cự phú gốc Hoa khác nên chứng tỏ bằng hành động cụ thể sự biết ơn của mình đối với một đất nước đã đón nhận tổ tiên của họ trong lúc gian truân, hoạn nạn, mất quê hương. Chú Hỏa là một trong những người Hoa đã giúp ích rất nhiều cho sự phát triển kinh tế miền Nam.

Nhà riêng của chú Hỏa rấy nguy nga và đồ sộ chiếm cả một khu vực rộng lớn gần 2 hecta ở quận Nhất, chiếm cả khu tứ giác Phó Đức Chính, Nguyễn Công Trứ, Hồ Văn Ngà và Calmette. Sau 1975 đó chỉ còn là một lâu đài bỏ hoang, con cháu ít khi lui tới và hiện nay bị nhà nước cộng sản quản lý. Năm 1980, ngôi nhà này được cải biến thành Cung Thiếu Nhi quận Một, năm 1982 là Câu Lạc Bộ Văn Hóa Quận Một.

Nhân gian đồn rằng ngôi nhà của chú Hỏa có ma, "Con Ma Nhà Họ Hứa", khiến nhiều người yếu bóng vía không dám bén mảng đến vòng đai căn nhà này để quấy phá hay trộm cắp. Có người xấu miệng còn đồn rằng con ma đó là cô con gái út của họ Hứa - vì mang tật từ thuở nhỏ, rất xấu xí - bị cấm xuất hiện ban ngày, do đó đêm đêm cô này lẻn ra ngoài vườn hóng gió, hành tung rất kỳ quái.

2. Quách Đàm, là một di dân nhà Thanh đến Việt Nam lập nghiệp. Thuở hàn vi Quách Đàm mua bán ve chai, mua da trâu, vi cá và bong bóng cá. Ngày ngày Quách Đàm đi rong trong các hang cùn ngõ hẻm mua ve chai bất kể trời mưa hay gió và đôi khi còn bị bọn côn đồ lấy hết tiền bạc. Nhờ óc thông minh và bản tính lanh lợi, Quách Đàm gia nhập vào nghề thương mãi, lập ra hãng buôn Thông Hiệp, với thời gian ông trở nên giàu có và gian manh cũng không ai sánh kịp. Thống đốc Nam Kỳ thời đó, de Cognac, một người rất phách lối và trịch thượng, phải hạ mình kết thân với Quách Đàm để được mời đãi tiệc sang trọng.

Quách Đàm mua đất ruộng sình lầy tại Bình Tây để cất lên một phố chợ bằng chính tiền bạc của mình, gọi là Chợ Quách Đàm, mà ngày nay người ta quen gọi là Chợ Bình Tây. Chính phủ thuộc địa thời đó cho phép dân chúng tạc tượng của ông để tại cửa chánh môn. Tượng do Quách Đàm bỏ tiền ra làm và cho ăn mặc triều phục Mãn Thanh, tay cầm một bản đồ, dưới bệ đá có mấy con giao long bằng đồng phun nước (ý muốn nói khi trở nên giàu sang, Quách Đàm vẫn tưởng nhớ đến quê hương cũ và muốn trở thành một người quyền quí). Ngoài ra Quách Đàm còn có tham vọng dời Chợ Lớn về Bình Tây, nhưng mộng này không thành sau nhiều đợt vận động. Tiếng đồn rằng Quách Đàm rất dị đoan, ông luôn trách cứ ai đã bít con kinh trước nhà, như vậy là lắp mạch rồng của gia đình họ Quách, khiến ông phải tiêu tan sự nghiệp. Trong những năm 1929/1930, ông đứng ra bảo lãnh cho con nợ của Ngân Hàng Đông Dương vào đúng năm thế giới bị khủng hoảng tài chánh, ngân hàng không trả nổi, ông bị sạt nghiệp luôn từ đó. Đám tang của Quách Đàm rất lớn nhưng một thời gian sau mộ phần của ông bị bỏ bê không người chăm sóc và trở thành một bãi đất hoang.

- Hộ Xường là tục danh của Lý Tường Quan, tự là Phước Trai. Hồi đầu thế kỷ, Hộ Xường được xếp vào hạng thứ ba về giàu có : nhất Sĩ (ông Lê Phát Đạt, người Cầu Kho, thuở nhỏ tên Sĩ, khi chết vì có xuất tiền xây một nhà thờ nên được chôn trong nhà thờ Chợ Đũi, còn gọi là nhà thờ Huyện Sĩ) ; nhì Phương (Đỗ Hữu Phương, Chợ Lớn, sự nghiệp đồ sộ nhất nhì miền Nam, phần lớn do tay phu nhân, bà Trần Thị gây dựng) ; tam Xường (lãnh thầu cung cấp thức ăn cho thị xã, nhờ khéo tay rồi gặp thời đã trở nên giàu có) ; tứ Định (họ Trần, làm hộ trưởng tại Chợ Lớn, tục danh là Hộ Định).

Huyền thoại về sự giàu có của những nhân vật kể trên ngày nay đã bị sửa đổi nhiều, có người nói Nhất Sĩ, nhì Phương, Tam Xường, tứ Định, nhưng cũng người nói "nhất Hỏa, nhì Đàm, tam Xường, tứ Ích.

- Trần Ích (không rõ tiểu sử) là một trong bốn người được xếp hạng giàu có nhất miền Nam thời Pháp thuộc.

- Triệu Tường, theo thứ tự Tứ Trụ có lẽ người Hoa thứ ba về giàu có. Theo lối phát âm Trung Hoa Tường với Xường đọc tương tự như nhau, nhất là đối với người Việt. Triệu Tường là một người Hoa nổi tiếng làm chủ sòng bài lớn nhất Đông Nam Á thời đó : Đại Thế Giới. Người ta đồn rằng, trong thời gian từ 1945/1950, mỗi ngày Triệu Tường phải trả cho chính quyền thực dân tại Sài Gòn một triệu đồng bạc Đông Dương tiền thuế để được phép tiếp tục tổ chức sòng bạc. Ông Tường đã cho xây bằng tiền riêng hàng ngàn căn nhà tại Sài Gòn-Chợ Lớn để dân nghèo thuê lại với giá rẻ. Triệu Tường là người thành lập ra khu chợ An Đông ngày nay. Thời đó "đại ca Bảy Viễn" là một trong những đàn em thân tín của Triệu Tường để bảo vệ an ninh cho sòng bạc. Khi Triệu Tường chết Bảy Viễn vẫn tiếp tục kinh doanh khu Đại Thế Giới cho đến năm 1955.

- Chú Hỷ là tên gọi của một chủ hãng vận tải đường sông lớn nhất của người bản xứ so với các công ty vận tải của Pháp. Tên thật của Chú Hỷ là gì không ai rõ (sau này có người cho là Mã Hỷ?). Tiếng đồn rằng, mặc dầu về kỹ thuật và giờ giấc, đoàn tàu của Chú Hỷ thua xa tàu vận tải và chuyên chở của Pháp, nhưng Chú Hỷ đã cạnh tranh bằng cách bán giá vé rẻ hơn, cơm nước phục vụ dễ chịu, hành khách được tiếp đãi ân cần. Dân chúng miền Nam rất thích đi tàu của hãng Chú Hỷ. Thời đó dân chúng có câu : "Đi tàu Chú Hỷ, ở nhà Chú Hỏa".

- Nam Long là tên của một nhà máy xay gạo rất lớn và tối tân do một người gốc Hoa làm chủ chuyên xay gạo để xuất cảng.

- Nam Hải là một thương gia giàu có tiếng, có nhà rất lớn ở đường Nguyễn Văn Sâm (Quận Hai cũ hay Quận Một, phương 18 bây giờ).

- Di Sanh Long là chủ nhân nhiều tiệm thuốc bắc lớn hiệu Bướm Vàng, Ông Tiên.

               

- Lâm Thọ Vinh là chủ nhân hãng dầu Nhị Thiên Đường, một loại dầu trị bá chứng (đau bụng, nhức đầu,say sóng, buồn nôn và nhất là được dùng để cạo gió) rất được dân chúng miền Nam ưa chuộng.

- Dầu cù là Macphsu do một người Hoa tên Mạc Phúc Sử làm chủ. Macphsu là tên ký âm bằng Pháp ngữ khi Mạc Phú Sử ra cầu chứng tại tòa. Vì không biết đọc, biết viết tiếng Pháp nên khi được hỏi dầu cù là cầu chứng tên gì, ông tưởng là nhân viên tòa hỏi tên mình là gì, ông bèn nói Mạc Phúc Sử và được người Pháp viết theo phiên âm Pháp ngữ là Macphsu. Sản lượng và tiếng tăm dầu cù là Macphsu rất lớn, ngoài thị trường miền Nam, Mạc Phúc Sử còn xuất cảng sang Lào, Cambodge, Singapore và Thái Lan.

- Trương Văn Bền, là con cháu của một gia đình người Hoa gốc Triều Châu đến Việt Nam lập nghiệp hồi đầu thế kỷ. Trương Văn Bền có dịp đi sang Pháp du học và đã học được nghề sản xuất xà bông. Về nước ông thành lập một xưởng sản xuất nhỏ tại Gia Định chuyên sản xuất xà bông cục cho nhu cầu rửa ráy, giặt giũ của dân chúng hằng ngày. Khi cơ sở phát triển, ông cho xây một hãng lớn hơn và làm chủ nhân hãng xà bông Việt Nam hiệu Cô Ba. Trương Văn Bền độc quyền phân phối xà bông cục trên khắp thị trường Đông Dương.

- Đồng Thạnh làm chủ nhiều tiệm vàng lớn có tiếng. Vàng lá hiệu Kim Mã đầu tiên do Đồng Thạnh làm ra, đây là một loại vàng y 24 karat, cán thành từng lá mỏng gồm ba lá có khắc chữ Tàu, cân nặng 1 lượng (34,7g), ngoài gói giấy trắng, trong gói một lớp giấy bạc và một loại giấy đỏ có in hình con ngựa. Sau này nhiều tiệm kim hoàn khác bắt chước theo đó sản xuất loại vàng lá hiệu Kim Thành gồm hai lá rưởi (có hình trái núi ở đầu lá vàng hay nhiều sọc theo chiều dọc), vẫn còn thông dụng đến ngày nay, nhưng cách thức bao bì đã giản dị và khiêm nhường hơn. Vàng lá hiệu Kim Thành là đơn vị tồn trữ hay trao đổi không bao giờ mất giá trị.

- Vi Kính Trang là một nhà tướng số nổi tiếng nhất thời Pháp thuộc tại Sài Gòn. Muốn được ông này xem tướng số, người được xem chỉ trả năm cắc nhưng tìm được nhà ông để xem không phải dễ. Ông Vi ở trên gác một ngõ hẻm rue des Artisans, phía đường Cháo Muối (rue des Marins) gần chợ Bến Thành, sau này là đường Yersin gần Chợ Dân Sinh.

- Tạ Má Dảnh là một người rất giàu có ở Chợ Lớn. Ông làm chủ rất nhiều nhà máy xay gạo và phương tiện chuyên chở lúa gạo tại miền Nam.

- Diệp Văn Cương, quê ở An Nhơn, Gia Định, là một trí thức lớn của miền Nam, hiệu Thọ Sơn, sau lấy bút hiệu Yên Sa. Diệp Văn Cương thông làu Hán học, du học tại Pháp, đỗ tú tài Pháp. Về nước dạy học tại trường Chasseloup Laubat một thời gian, sau đó ra giúp việc ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Trong thời gian công tác tại Huế, ông làm thầy dạy học cho vua Đồng Khánh, sau lấy một công chúa, con của Thoại vương Hồng y. Năm 1868, ông làm chủ tờ Phan Yên báo tại Sài Gòn. Tác phẩm của Thọ Sơn Diệp Văn Cương gồm có : Syllabaire quốc ngữ (1919), Recueil de morale annamite (1917), dịch tập Phong Hóa ra chữ quốc ngữ.

- Diệp Văn Kỳ, con trai của Diệp Văn Cương, luật sư, cũng là một tay viết báo tiền phong rất có tiếng tăm, làm chủ bút tờ "Đông Pháp thời báo" và sáng lập nhật báo "Thần Chung", sau bị ám sát tại Trảng Bàng (Tây Ninh).

- Phan Xích Long, là biệt danh của Phan Phát Sanh, con của Phan Núi, một người gốc Hoa tại Chợ Lớn. Từ thuở nhỏ Phan Phát Sanh đã tỏ ra là một tay anh chị hảo hán, trừ gian diệt bạo, nhờ đó đã kết nạp rất nhiều đàn em và trở thành đại ca. Năm 1913 (Quý Sửu), "đại ca" Phan Phát Sanh tự xưng Phan Xích Long, tự nhận là Đông Cung con vua Hàm Nghi và tự tôn làm Hoàng Đế cùng với một số đàn em làm cách mạng chống Pháp. Họ chế tạo lựu đạn, trái phá, dán truyền đơn khắp chợ Sài Gòn, Chợ Lớn, Bình Tây kêu gọi dân chúng nổi dậy. Phong trào bị tan vỡ, Phan Xích Long bị bắt tại Phan Thiết. Phan Xích Long bị xử án tử hình về tội khủng bố, phá rối trị an và bị giam tại nhà lao Chí Hòa chờ ngày hành quyết.

Vụ án Phan Xích Long làm chấn động giới anh chị giang hồ mã thượng thời đó. Tháng 3/1916, thừa dịp Pháp đang bị Đức đánh tại mẫu quốc, một số đàn em trong "Thiên Địa Hội" (mặc áo đen, quần trắng), mặc áo giáp da, trang bị bùa chú, xông vào đánh phá Khám Lớn Sài Gòn để cứu "đại ca". Nhưng họ không chống nổi súng đạn, ngoài một số bị chết tại trận, hầu như tất cả đều bị bắt, tất cả gồm 56 người. Vài ngày sau 56 "anh hùng" và "đại ca" đều bị xử tử và chôn chung trong một mộ ở Đất Thánh Chà (đường Hiền Vương, Chợ Lớn). Tiếng thơm vẫn còn lưu truyền trong giới giang hồ Chợ Lớn, làm xấu hổ rất nhiều người trí thức, tự nhận làm cách mạng nhưng không có cái can đảm của những tay giang hồ hảo hán dám làm - làm tới cùng, và dám chịu - cùng chịu chết chung với nhau chứ không bỏ chạy.

Giai thoại về "tướng cướp" Phan Xích Long là đề tài của nhiều vỡ hát bội, hồ quảng hay cải lương sau này.

V. Thời Việt Nam Cộng Hòa

- Trần Thành, "vua vương quốc Chợ Lớn", là bang trưởng Triều Châu khu vực Chợ Lớn. Lúc ban đầu ông chỉ làm "vua cung cấp mễ cốc" (đậu phọng, đậu nành), năm 1960 ông nổi tiếng là "vua bột ngọt", chủ hãng bột ngọt và mì ăn liền Vị Hương Tố, với các hiệu mì gói hiệu Hai Con Tôm. Về sau Trần Thành tiếp tục đầu tư thêm vào nhiều ngành nghề khác như ngũ cốc, khách sạn, nhà hàng. Ông xuất thân là một công nhận cạo rửa các nồi ép dầu, sau nhờ sự cần cù, lòng ngay thẳng đã trở nên giàu có. Dưới sự quản trị của ông, công nhân và nhân viên hết lòng yêu mến và xem như người cha, người anh trong gia đình. Trần Thành khi giàu có đã bỏ tiền ra xây cất nhiều trường học, bệnh viện và trạm y tế trong các xóm lao động lo cho dân nghèo. Trong những năm 1956-1957, Trần Thành đã thay mặt cộng đồng người Hoa miền Nam thương thảo tay đôi với cố vấn Ngô Đình Nhu về các vấn đề quốc tịch và quyền kinh doanh.

- Lý Long Thân làm chủ 11 ngành sản xuất và dịch vụ, 23 hãng xưởng lớn : hãng dệt Vinatexco, Vimytex, hãng nhuộm Vinatefinco, hãng cán sắt Vicasa, hãng dầu ăn Nakyco, hãng bánh ngọt Lubico, Ngân Hàng Nam Việt, Ngân Hàng Trung Nam, khách sạn Arc en Ciel, hãng tàu Rạng Đông v.v...

- Lâm Huê Hồ được nhiều người gọi là "chủ nợ của các ông chủ". Lâm Huê Hồ là người giữ nhiều tiền mặt nhất miền Nam, số tiền ông có tay bằng vốn của nhiều ngân hàng tư nhân cở nhỏ như Nam Đô, Trung Việt gộp lại. Lâm Huê Hồ còn nổi tiếng là "vua phế liệu", ông chuyên thầu quân cụ và võ khí phế thải rồi bán lại cho những doanh nhân trong ngành luyện cán sắt hay bán lại cho Nhật Bản. Người ta thường nói "Trần Thành, Lý Long Thân có tiếng, Lâm Huê Hồ có miếng".

- Mã Hí, nổi tiếng là "vua lúa gạo", nắm trong tay mạng lưới thu mua và phân phối lúa gạo lớn nhất miền Tây và miền Trung. Mã Hí làm chủ các kho hàng rộng lớn nằm rải rác ở các bến cảng dọc sông Sài Gòn thuộc địa phận các quận 6, 8 Sài Gòn. Ông là chủ thầu cung cấp gạo cho Tổng Cục Tiếp Tế và Quân Tiếp Vụ Việt Nam Cộng Hòa.

- Lại Kim Dung là "nữ hoàng gạo" miền Nam. Giá gạo tại miền Nam là do công ty bà Kim Dung ấn định. Chính quyền miền Nam có lúc phải hợp tác với nữ hoàng gạo Kim Dung ổn định giá gạo trên thị trường. Trong các buổi tiếp tân lớn không mang tính chính trị, bà Kim Dung luôn xuất hiện bên cạnh các phu nhân tổng thống, thủ tướng hay các tướng lãnh chỉ huy các vùng chiến thuật.

- Vương Đạo Nghĩa, chủ hàng kem Hynos, là một người có óc làm ăn cấp tiến kiểu Tây Phương. Ông là người có rất nhiều sáng kiến để quảng cáo hàng của hãng ông trên các cửa hàng ăn uống, chợ búa, hệ thống truyền thanh và truyền hình. Ông cũng là người đầu tiên biết vận dụng phim võ hiệp và tình báo kiểu Trung Hoa vào quảng cáo. Người dân miền Nam không thể quên hình ảnh tài tử "Vương Vũ giải thoát các xe hàng do đoàn bảo tiêu hộ tống thoát khỏi quân cướp" hay "anh Bảy Chà cười toe với hàm răng trắng chói" có mặt khắp nơi trên các đường phố, ngõ hẻm. Sản phẩm của hãng kem đánh răng Hynos có mặt khắp nơi tại Việt Nam, Kampuchea, Lào, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông.

      - Trương Vĩ Nhiên,"vua ciné", là chủ nhân hãng phim Viễn Đông và gần 20 rạp ciné đầy đủ tiện nghi tại Sài Gòn - Chợ Lớn : Eden, Đại Nam, Opéra, Oscar, Lệ Thanh, Hoàng Cung, Đại Quang, Palace, Thủ Đô... Năm 1966, Trương Vĩ Nhiên nhập cảng các loại phim võ hiệp Hồng Kông và Đài Loan, sau là phim tình cảm phỏng theo các truyện của các tác giả nổi tiếng như Kim Dung, Ngọa Long tiên sinh, Quỳnh Dao... rất được thanh niên miền Nam ưa chuộng. Trương Vĩ Nhiên làm đại lý độc quyền cho Tân Kiệt Y Oan tại Việt Nam về việc phát hành phim của các hãng Shaw Brothers (Đài Loan) và Golden Harvest (Hồng Kông).

- Trương Đông Lương, còn gọi là "vua sắt", độc quyền cung cấp tôn sắt cán mỏng cho các nhà sản xuất lớn nhỏ tại quận 11và trên toàn quốc để làm các thùng chứa bằng kim khí và hàng gia dụng.

- Trương Văn Khôi, chủ hãng bột giặt Viso, là người có óc tổ chức và biết canh tân kỹ thuật để cạnh tranh với hàng ngoại quốc. Phẩm chất bột giặt Viso tốt ngang với sản phẩm Tây Phương, chiếm lĩnh các thị trường nội địa, Singapore, Thái Lan, Lào và Kampuchea.

- Lưu Kiệt Lưu Trung, "vua nông cụ", chủ hãng nông cơ Vikyno, là đại diện độc quyền hiệu máy cày John Deer của Mỹ, máy tàu và máy đuôi tôm hiệu Yanmar của Nhật cho toàn miền Nam.

- Lý Hoa, "vua xăng dầu", là đại diện độc quyền các hãng Esso, Caltex, Shell phân phối nhiên liệu cho thị trường nội địa. Lý Hoa làm chủ nhiều bồn xăng dầu lớn tại Nhà Bè.

- Lý Sen, "vua cán sắt", là chủ nhân hãng Sadakimco, chuyên sản xuất và cung cấp tôn nhôm, sắt cho thị trường miền Nam.

- Trần Thoại Hà, người Triều Châu, là "vua trà" chuyên sản xuất các loại trà lá cao cấp ướp lài, ướp sen trong hộp hay bao bì bọc giấy kiếng để làm quà biếu trong các dịp lễ lạc.

- Đào Mậu, "vua ngân hàng", là bang trưởng bang Triều Châu khu vực Sài Gòn. Ông là tổng giám đốc Trung Hoa Ngân Hàng, một trong hai ngân hàng Châu Á lớn nhất tại Sài Gòn (cùng với Thượng Hải Ngân Hàng).

- Tăng Tài, "vua vận tải đường sông" là chủ nhân hàng chục xà lan, tàu kéo, hàng trăm ghe bầu loại lớn chuyên chở lúa gạo, nông sản thực phẩm và hành khách từ Lục Tỉnh về Sài Gòn-Chợ Lớn hay ngược lại.

                 

- La Thành Nghệ, "vua thuốc đỏ", là chủ nhân viện bào chế La Thành tại Sài Gòn. La Thành Nghệ làm đại lý độc quyền nhập cảng và phân phối thuốc đỏ cho toàn miền Nam. Ông La Thành Nghệ được bầu làm thượng nghị sĩ năm 1967 trong liên danh Bạch Tượng của dược sư Trần Văn Lắm (sau này làm chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao, chủ tịch Thượng Viện, tổng trưởng Ngoại Giao). Có lúc ông được bầu làm chủ tịch Hồng thập tự Việt Nam và là hội viên Hội từ thiện Quốc tế.

- Gia đình họ Ông, chủ hiệu dầu cù là Con Cọp, có mặt trong hầu hết các ngành kinh thương lớn tại miền Nam, nhiều người gọi đùa là "những con cọp Sài Gòn". Ngoài ra còn phải kể đến những gia đình tỷ phú họ Mã, họ Tạ, họ Trương (Trương Vĩ Hùng, Trương Vĩ Trí), họ Trịnh (Trịnh Đức)...

- Nhạc sĩ La Hối là tác giả bài nhạc "Xuân và Tuổi Trẻ" mà nhiều người đến nay vẫn còn ưa thích.

 - Tạ Vinh là một thương gia người Hoa, gốc Phúc Kiến. Năm 1964, Tạ Vinh bị Ủy Ban Hành Pháp Trung êơng, do thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ lãnh đạo, xử bắn tại pháp trường cát trước chợ Bến Thành Sài Gòn về tội "gian thương, đầu cơ tích trữ gạo, gây xáo trộn thị trường". Dân chúng và báo chí gọi Tạ Vinh là "hạm gạo". Nguyễn Cao Kỳ muốn cảnh cáo giới tài phiệt gốc Hoa không nên quá lạm dụng tình trạng chiến tranh làm giàu phi pháp, ông đã tổ chức một cuộc họp kín gồm đủ thành phần tài phiệt lớn (đại xì thẩu) tại Sài Gòn-Chợ Lớn để cảnh cáo. Hội Đồng quân Nhân Cách Mạng quyết định thi hành một bản án tử hình để làm gương, người lãnh án sẽ là một trong những tài phiệt đang có mặt trong phòng họp qua một cuộc rút thăm. Tạ Vinh rút trúng thăm tử nên sau đó bị truy tố và đem xử bắn. Sau vụ này pháp trường cát đi vào quên lãng, những "hạm" khác vẫn sống nhỡn nhơ vì biết chia đều cho các viên chức cao cấp tham nhũng khác trong chính quyền. Danh từ "hạm" từ đó mang một nghĩa xấu, ý muốn nói đó là những gian thương tham lam - bao nhiêu tiền của cũng không đủ chứa lòng tham vô đáy, có sức chứa như một chiếc hạm (tàu chiến lớn) - không đếm xỉa gì đến sự nghèo khó chung của dân chúng.

Thật ra Tạ Vinh là một "hạm" sắt, chuyên thầu sắt phế thải của quân đội. Thời đó báo chí loan tin đồn người bị bắn đó không phải là Tạ Vinh. Tạ Vinh thật đã được lo lót để trốn ra ngoại quốc, một tù nhân nào đó đã được tráo để chết thay cho Tạ Vinh. Lúc bị dẫn từ trại giam Chí Hòa ra pháp trường, Tạ Vinh mặc bộ vét màu xám và không chịu cởi ra, khi xe bít bùng chở tới pháp trường thì người bị xử bắn mặc bộ đồ trắng, đầu bịt khăn đen che hết mặt mũi. Xác chết liền được chôn cất ngay sau đó.

- Những hiệu sản phẩm do người Hoa làm chủ được nhiều người biết đến tên hiệu như pin Con Ó, giầy Bata, Sakybomi, kem Perlon, kem Leyna, gạch men Thiên Thanh, Thanh Thanh, Da Bình Lợi v.v...

 ************************


Phụ lục 3 : Người Hoa tại miền Bắc

Hồi ký về người Hoa ở Việt Nam của Nguyễn Anh Tuấn

[Nguyễn Anh Tuấn, 60 tuổi, người gốc Hoa, cựu giáo sư ngữ học tại Hải Phòng, hiện nay là giáo sư ngôn ngữ Language lecturer của trường Đại Học London].

Tôi vẫn còn rất nhớ vào những ngày đầu Cách Mạng Tháng Tám 1945, quê tôi rợp bóng cờ đỏ sao vàng với những cán bộ cấp huyện, cấp tỉnh nườm nượp đổ về dựng nên những buổi mít-tinh trọng thể cho ra đời bản hiến pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Hồi ấy quê tôi có một cán bộ cộng sản Trung Hoa cấp bộ tỉnh ủy viên từ Trung Quốc chạy sang Việt Nam lánh nạn truy lùng của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Tên ông là Phùng Đạt Kiên, có bà vợ, dáng người mảnh khảnh rất dịu hiền và cũng là đồng chí của ông Phùng, hoạt động chính trị trong giới trí thức Trung Hoa cùng chồng chạy sang Việt Nam lánh nạn. Hai vợ chồng chính trị gia cộng sản Trung Hoa này đã tình nguyện ở lại quê tôi dạy một nhóm trẻ con người Hoa học tiếng Trung Hoa. Và trong những tháng đầu tiên của Cách Mạng Tháng Tám, các cán bộ Việt Nam địa phương đã hết sức tôn sùng đôi vợ chồng trí thức cộng sản Trung Hoa này. Họ kéo đến nhà riêng để hỏi ý kiến về hiến pháp Việt Nam, về đường lối đấu tranh cách mạng, và trong những buổi mít-tinh trọng thể ở huyện lyï, vợ chồng ông Phùng được mời tham dự như những vị thượng khách, được mời đăng dàn diễn thuyết bằng tiếng Trung Hoa, và đích thân vị bí thư huyện ủy đứng ra làm phiên dịch.

Lúc ấy tôi còn nhỏ lắm, nhưng tôi cũng hiểu được đôi chút về nội dung những cuộc đàm thoại giữa những người cách mạngViệt Nam và Trung Quốc. Họ nói rằng nhìn vào lịch sử dựng nước Việt Nam, ông cha ta thuở xưa chính là những người miền Nam Trung Quốc di cư xuống phía nam hợp lực với dân bản xứ tạo thành nước Việt Nam ngày nay. Những năm đầy đen tối của cách mạng Việt Nam, dưới sự cai trị hà khắc khủng bố tàn nhẫn của thực dân Pháp, những đứa con của cách mạng Việt Nam đã được nhân dân Trung Quốc che chở ở phía bên kia biên giới. Có người được học ở trường võ bị Hoàng Phố, tỉnh Quảng Châu, có người theo hồng quân Trung Hoa đánh Nhật, cùng chịu đựng gian truân trong cuộc trường chinh vượt vòng vây của quân Tưởng Giới Thạch, cùng với Mao Trạch Đông lên Diên An lập căn cứ kháng chiến. Tình nghĩa ấm lòng người dân Hoa - Việt.

Nhưng cũng vào thời kỳ giao điểm đó, đoàn quân của tướng Lư Hán từ Vân Nam kéo vào miền Bắc Việt Nam để tước khí giới quân đội Nhật. Những người lính quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch này không phải là bạn đồng chí của cách mạng Việt Nam như vợ chồng nhà cách mạng Phùng Đạt Kiên, nên đã bị cách mạng Việt Nam tiếp đãi bằng những thái độ thù địch, bằng những vụ thủ tiêu ngầm hoặc xúi dục dân chúng quá khích giết hại những tên lính Trung Hoa Tưởng Giới Thạch trên các đường phố. Tôi đã được chứng kiến cảnh đánh giết lẫn nhau giữa lính Trung Hoa quốc dân đảng với bộ đội Việt Minh ở thị xã Thái Bình và thị xã Hải Dương.

Quả thật có những chú lính Trung Hoa tuổi đời còn rất trẻ, rất ngô nghê khi mới đến Việt Nam, chỉ vì ngôn ngữ bất đồng, không được minh bạch trong khi mua bán nên đã xảy ra cãi vã và dẫn đến đánh chém lẫn nhau. Nhiều người đã bị giết oan trong những vụ xô xát đó.

Ở Huyện Thụy Anh, tỉnh Thái Bình có một người Hoa tên Thập Nhất chỉ vì làm thông ngôn cho quân Tưởng Giới Thạch mà bị nghi là Hán gian và bị chính quyền Việt Minh lôi đi xử bắn, để lại một vợ trẻ và hai đứa con thơ. Bố anh Thập Nhất, chủ hiệu Tá Sinh Đường, vì quá uất ức đã thắt cổ tự tử. Hồi đó người lớn dạy bọn trẻ con hát nhạo quên tàu Tưởng như sau : "Đoàn quân tàu ô đi đâu mà ốm thế, bước chân phù lang thang trên khắp đất nước Việt Nam...".

Những người Hoa ở miền Bắc Việt Nam lúc ấy rất dễ bị chết oan một khi bị vu là thổ phỉ hay Hán gian. Ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Phòng, có một người Hoa có tên thầy Măng, vì ông ta bán thuốc bắc và chữa bệnh cho người Việt Nam ở chợ Măng nên thiên hạ gọi là thầy Măng. Cái ông thầy Măng này cũng đã từng bị du kích xích tay sắp đem ra bắn vì bị nghi là Hán gian. Ông ta không nói được thạo tiếng Việt để trình bày thân phận lang y của mình khi ngao du sơn thủy một mình để đi chữa bệnh cứu người. May có một phụ nữ Việt Nam đã kịp thời chạy ra nhận ông là chồng, vì trước kia ông đã có công cứu sống bà. Nhờ đó mà ông thầy Măng thoát chết và được ở lại chợ Măng tiếp tục làm nghề bốc thuốc chữa bệnh cho dân bản xứ.

Hồi đó bọn trẻ con chúng tôi rất khoái được chạy theo đoàn biểu tình xem hình nộm ông Nguyễn Hải Thần nằm dài dí đôi tai bẹp xuống gối, rụt cổ rít thuốc phiện với cái tẩu to quá khổ trông đến nực cười. Bọn trẻ con chỉ biết mang máng rằng Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam là tay sai quân tàu Tưởng, là bọn nghiện hút, ăn hại, chứ chúng tôi hoàn toàn không biết ông ta là nhà cách mạng, và làm phó chủ tịch nước bên cạnh Hồ Chí Minh.

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, từ 1945 đến 1949, do thái độ hằn thù và chính sách phân biệt đối xử của chính quyền Việt Minh, hầu hết những người Hoa ở miền Bắc không hợp tác với Việt Minh, và tìm cách chạy vào vùng Pháp tạm chiếm để làm ăn buôn bán. Có những gia đình người Hoa buôn bán ở thị trấn Diêm Điền, Thụy Anh, tỉnh Thái Bình, như gia đình anh Cầm Quốc Quang đã bỏ đất Việt Minh chạy vào Hải Phòng làm ăn buôn bán và mở tiệm bán vải rất lớn ở phố Phan Bội Châu, lấy tên hiệu là Phương Thái. Năm 1955, gia đình Phương Thái lại chạy nạn cộng sản vào Sài Gòn và tiếp tục kinh doanh rất thành đạt. Sau khi Sài Gòn rơi vào tay cộng sản, gia đình Phương Thái đã đi Mỹ. Anh Cầm Quốc Quang, con trai duy nhất của gia đình này, đỗ bằng tiến sĩ kinh tế học ở Tokyo, lấy vợ Nhật, hiện nay kinh doanh buôn bán ở Tokyo. Em gái anh là Cầm Quốc Chân, đỗ thạc sĩ toán học ở Pháp và đang dạy học ở Pháp.

Năm 1949, luồng gió bài Hoa của Việt Minh đã đổi chiều khi quân quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch bị hồng quân Trung Hoa hất ra ngoài biển và giải phóng một vùng rộng lớn gần biên giới Việt - Trung. Các chiến dịch Cao Bắc Lạng, Hà Nam Ninh, chiến dịch Hòa Bình, rồi chiến dịch Điện Biên Phủ của Việt Minh đều có sự hỗ trợ đắc lực của hồng quân Trung Hoa. Trong những năm từ 1949 đến 1954, hàng loạt cán bộ trung cao cấp của đảng cộng sản Việt Nam đã được đưa sang bên kia biên giới Trung Quốc để chỉnh huấn, chỉnh quân, chỉnh đảng. Các cán bộ cộng sản Việt Nam được Trung Quốc bồi dưỡng, ăn uống, thuốc men rất chu đáo, được học tập trang bị lý luận Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông để trở về nước tiếp tục kháng chiến. Những cán bộ đảng viên này rất biết ơn Trung Quốc và ca ngợi tình hữu nghị Việt - Trung như "răng với môi, núi liền núi, sông liền sông, mối tình hữu nghị Việt - Trung như biển Đông...". Những bài hát ca ngợi hồng quân Trung Hoa, ca ngợi đảng cộng sản Trung Quốc, ca ngợi Mao Trạch Đông được truyền tụng trong quảng đại quần chúng. Họ bắt đầu tìm đến những người Hoa còn sót lại trong các căn cứ địa Việt Minh và cố lôi những ông, những bà người Hoa ra công tác để lấy lòng đảng cộng sản Trung Quốc. Một trong những người Hoa bất đắc dĩ này phải ra nhận công tác của Việt Minh là ông Long Vân, chủ hiệu tạp hóa thuốc bắc ở Hải Dương đã bị sa sút vì kháng chiến và loạn lạc. Ông Trần Khải Nhân, tỉnh ủy viên đặc trách Hoa vận của tỉnh đã đến tận nhà nài nỉ ông Vân ra công tác, để rồi một ngày kia cả hai ông Nhân và Vân bị Pháp sục hầm bí mật bắt được. Ông Nhân bị bắn chết tại chỗ vì không chịu chui ra khỏi hầm bí mật, ông Vân bị bắt đưa lên thị xã Hải Dương, bị Deuxième Bureau, tức Phòng Nhì Sở Mật Thám Pháp, đánh đập, tra tấn, sau đó bị đưa xuống Phòng Nhì và Phòng Phản Gián Hải Phòng, Hà Nội để tiếp tục bị tra tấn lấy khẩu cung. Mãi về sau khi nhận thấy ông Vân đã gần chết, chân bị què, Sở Mật Thám Pháp mới cho phép người nhà bảo lãnh và bị quản thúc tại gia ở thị xã Hải Dương, chấm dứt thời kỳ làm chủ nhiệm Hoa vận tỉnh và ủy viên Liên Việt, tỉnh Hải Dương.

Không phải chỉ có một trường hợp như ông Long Vân được trên tín nhiệm giao công tác để chuốc lấy những tù đầy, tra tấn, mà nhiều người Việt gốc Hoa khác cũng cùng chung một số phận. Ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, lúc đó là nơi tập trung nhiều người gốc Hoa nhất. Việt Minh đã khéo léo sử dụng những người gốc Hoa ở vùng nông thôn Thái Bình, Quảng Ninh, Hải Dương xâm nhập vào nội thành để tìm đường bắt mối lập ra các tổ chức ngầm hoạt động ngay trong vùng Pháp tạm chiếm.

Những tổ chức quần chúng của Hoa Kiều Tân Dân Chủ Liên Hiệp Hội đã được thành hình và hoạt động ở ngay trong các thành phố bị Pháp chiếm đóng như Hà Nội, Hải Phòng. Đồng thời Việt Minh cũng tuyển lựa nhiều người Hoa ở Quảng Ninh, Bắc Giang đưa vào quân đội để đánh Pháp. Có những đơn vị người Hoa chiến đấu rất dũng cảm và một số người Hoa được đề bạt lên cấp chỉ huy đại đội và tiểu đoàn. Rất nhiều người Hoa đã bỏ mình trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Chị Cao Anh, nữ công nhân xưởng làm đèn pin Quang Minh ở Hải Phòng, là một trong những người Hoa đã hy sinh cho cách mạng Việt Nam. Chị hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, mới 18 tuổi xuân đã bị thực dân Pháp đánh chết trong nhà giam của Deuxième Bureau Hải Phòng. Gương liệt sĩ Cao Anh đã được truyền tụng, suy tôn một thời để động viên những người Hoa còn lại tích cực tham gia phong trào Việt Minh chống Pháp. Nhiều người Hoa ở miền Bắc đã hy sinh đóng góp cho việc đánh thắng quân đội Pháp, giải phóng quê hương. Nhưng ngay sau ngày Hải Phòng giải phóng, người anh trai của liệt sĩ Cao Anh, tên Cao Nhị, bị bắt đưa đi cải tạo ở trong rừng vì bị nghi oan là gián điệp. Anh Cao Nhị trước đây là sĩ quan tình báo của Tưởng Giới Thạch, nhưng đã theo đảng cộng sản Trung Quốc và được đảng cộng sản Trung Quốc cử sang Việt Nam để giúp đỡ cách mạng Việt Nam. Anh là cán bộ tuyên huấn tham gia huấn luyện những cán bộ trẻ người Hoa ở vùng căn cứ để đưa vào hoạt động trong nội thành Hải Phòng. Vợ anh Cao Nhị là chị Đàm, biên tập viên tòa báo Lao Động ở Hà Nội, cũng bị bắt vì bị nghi là gián điệp. Năm 1979, anh Cao Nhị chạy về được Trung Quốc để sống cho hết những ngày tàn già nua với đồng lương hưu nho nhỏ của chính phủ Trung Quốc ban cho. Còn chị Đàm vì quá khẳng khái nên không được tha. Khi cán bộ công an bắt chị Đàm làm bản tự thú nhận tội lỗi để được tha, chị đã trả lời rằng : "Tôi không có tội gì mà nhận. Chính các anh mới là người có tội vì đã bắt oan và bỏ tù oan tôi hơn chục năm trời". Kết quả là chị không được tha và đã chết ở trong tù, mang theo nỗi uất hận xuống suối vàng để giải bày với em chồng là liệt sĩ Cao Anh.

Trong số cán bộ quân đội tỉnh Quảng Ninh, có anh đại úy Quan Dung (tên gọi tiếng Trung Quốc là Cún Đồng). Anh Dung là sĩ quan quân đội trong kháng chiến chống Pháp, và được Đảng cử về Hà Nội, Hải Phòng làm cán bộ công an. Năm 1979, anh Dung được Bộ Công An cử vào Nam để tổ chức cho người Hoa giàu có ở Sài Gòn ra nước ngoài bằng con đường bán công khai, nộp vàng cho nhà nứớc. Sau khi làm xong nhiệm vụ, anh Dung cũng bị bắt luôn và nghe nói anh đã chết trong tù. Vợ anh là chị Tôn Thúy hiện nay cùng các con tị nạn ở Úc Đại Lợi.

Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, những nhà kinh doanh gốc Hoa ở miền Bắc chỉ có thể hoạt động được trong các thành phố Pháp tạm chiếm như Hà Nội, Hải Phòng. Những nhà kinh doanh lớn như Liên Hưng, Liên Hưng Xương, Lai Thành, Lễ Hòa, Phương Thái đều di cư vào Nam trong những năm 1954-1955. Những người Hoa buôn bán khác, ở lại miền Bắc, đã điêu tàn qua các trận đánh tư sản bằng thuế tồn kho, bằng cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Một tư sản người Hoa là chủ hãng tàu chạy đường sông đã nhảy xuống sông tự tử. Những người khác, gặp thời thế thế thời phải thế, chịu uốn mình nhận lỗi với Đảng là có bóc lột nên mới giàu, được sống sót để chờ cơ hội cao bay xa chạy như trường hợp nhà tư sản xuất nhập khẩu Lưu Chấn Quang. Ông Quang đã tình nguyện hiến tài sản và còn nhận làm chủ nhiệm tổng hội Hoa Liên Hải Phòng để chờ thời chạy sang Mỹ và làm giàu ở bên đó.

Cái thời điểm vàng son của mối tình hữu nghị Việt - Trung là vào lúc Trung Quốc bắt dân nhịn đói để viện trợ lương thực và vũ khí đạn dược cho quân đội Việt Nam đánh Pháp. Khi bộ đội Việt Minh vào tiếp quản các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, người ta nhận thấy từ đầu đến chân anh bộ đội Việt Nam đều trang bị bằng quân trang, quân dụng của Trung Quốc. Từ chiếc mũ nan, đôi giầy vải, bộ quần áo kaki, khẩu súng AK đến cả cái ca uống nước cũng đều do Trung Quốc cung cấp. Những người Hoa trong các thành phố mới được giải phóng cũng vui mừng hớn hở dựng nên những chiếc cổng chào thật lộng lẩy, cầm cờ hoa ra đón chào bộ đội vào giải phóng quê hương. Họ có ngờ đâu sau đó họ lại bị đuổi ra khỏi quê hương mà từ nay người ta bảo rằng đó không phải là quê hương của họ, và bảo họ tốt hơn là hãy ra đi.

Những quan hệ bất hòa giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đã âm ỉ từ lâu, và đã bùng lên bằng trận chiến tranh biên giới tháng 2 năm 1979. Nhưng người Hoa ở miền Bắc Việt Nam là những nạn nhân của sự mâu thuẫn thù địch đó của hai đảng cộng sản cầm quyền. Khi nghe cô phát thanh viên của đài Hà Nội loan tin quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam, nhiều người Hoa ở miền Bắc Việt Nam đã khóc. Họ khóc vì không biết cuộc đời mình sẽ ra sao. Họ khóc vì thương đau cho cảnh hai nước anh em, hai dân tộc anh em sẽ chém giết lẫn nhau ở vùng biên giới, làm vật hy sinh cho những kẻ cầm quyền.

Một người Hoa ở Đông Triều đang đêm thoát chết, bồng con chạy rạt xuống Hải Phòng để quỳ xuống lạy ông chủ thuyền Lý Duy Man xin một chỗ để đi ra biển. Trong lúc hốt hoảng chạy loạn, ông không kịp mang theo tiền bạc, chỉ kịp ôm được đứa con hai tuổi chạy bán sống bán chết xuống được Hải Phòng để tìm đường ra biển. Vì sao người Hoa này lại sợ hãi làm vậy? Theo như ông kể : Ông đã nhìn thấy bộ đội và công an, du kích Việt Nam bắt trói hàng loạt người Hoa mang đi biệt tích. Những người Hoa bất hạnh đó bị trói giựt cánh khuỷu ra phía sau, bị vất lên xe quân đội và chở đi đâu không ai biết.

Những cán bộ gốc Hoa đang giữ những cương vị cao, quan trọng đều bị hạ tầng công tác, và bị làm nhục bằng cách cho làm lao công ngay ở cái cơ quan anh ta đã từng làm thủ trưởng. Nhà nước cộng sản Việt Nam ra sắc lệnh cấm những người Hoa không được làm những nghề như cán bộ khoa học, giáo sư, và những ngành nghề quan trọng trong các cơ quan nhà nước. Luồng gió độc bài Hoa do những chính sách thù địch, phân biệt đối xử và những đợt truyền thanh báo chí chống Trung Quốc của chính quyền cộng sản Việt Nam đã bùng lên mạnh mẽ. Ngọn gió độc này đã cuốn đi từng mảnh lớn dân cư người Hoa ở các vùng nông thôn và ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh, và quét đi sạch sành sanh dân cư gốc Hoa ở vùng biên giới như Đồng Đăng, Lạng Sơn, Móng Cái, Quảng Ninh. Những dân cư gốc Hoa này từ lâu đã được coi như là người bản xứ. Nhưng nay phải bồng bế nhau, dắt trâu, dắt bò, gồng gồng gánh gánh chạy loạn sang bên kia biên giới hoặc rong buồm chạy trốn sang Hồng Kông. Ở các thành phố Hải Phòng, Hà Nội, người Hoa đem đồ đạc bán la liệt ở chợ trời và ở trước cửa nhà họ để chuẩn bị ra khơi, liều thân với biển cả. Nhiều chiếc thuyền bé bỏng được đóng hoặc tu sửa vội vã để ra khơi, những người may mắn đã đến bờ đến bến, những người bất hạnh bị chết chìm ngoài biển khơi.

Khi ngòi lửa chiến tranh sắp bùng nổ, cửa biên giới bỗng nhiên đóng sập lại. Hàng vạn người, đang nao nức lo âu chạy về Trung Quốc, bị kẹt lại giữa gọng kìm của quân đội hai bên đang giàn quân chuẩn bị một trận chém giết. Họ bị thiếu nước, thiếu cơm và còn bị những phần tử xấu xúi giục làm loạn nên đã xảy ra những vụ đánh giết lẫn nhau với quân đội, công an biên phòng Việt Nam. Nhiều người Hoa bị chém giết. Về phía công an Việt Nam có thượng sĩ Lê Đình Chinh bị dao quắm của bọn gây loạn đâm chết.

Ngọn lửa căm thù người Hoa và Trung Quốc bùng lên dữ dội sau một chiến dịch tố cáo trên đài phát thanh, báo chí và phim ảnh Việt Nam. Trong không khí sục sôi căm thù đó, những người Hoa còn lại ở Việt Nam không dám ra đường. Phải giả câm, giả điếc, cúi mặt, cúi đầu mỗi khi nghe tiếng người chửi. Anh Cách Sinh, một cán bộ gốc Hoa cũ của biệt động đội Hải Phòng, người đã góp công rất nhiều trong công cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, bị chết chém trong các vụ xô xát đẩm máu ở vùng biên giới. Anh Lý Tâm Minh, cán bộ của Ban Thể Thao Thể Dục Trung êơng bị bắt và buộc phải đọc lời thú tội chống phá cách mạng Việt Nam trước màn ảnh trong cuốn phim "Sự Thật Lên Tiếng", tố cáo những người Hoa làm tay sai cho Trung Quốc chống phá Việt Nam. Anh Lý Tâm Minh đã từng là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam và đã từng được dụ làm tổng thư ký Tổng Hội Hoa Liên Trung Ương.

Cuộc chiến tranh đẩm máu đã nổ ra trên vùng biên giới. Nó giết đi hàng chục vạn cuộc đời son trẻ của hai nước Việt - Hoa. Nó đã reo đau thương cho những mái nhà người Hoa đang sống êm ấm trong tình nghĩa vợ chồng, bạn bè xóm láng. Những người Hoa nặng tình nhất đối với đất nước Việt Nam đã phải gạt lệ ra đi. Đó là những người Hoa sống lâu đời ở Việt Nam và đã trở thành người Việt Nam từ lâu. Nhiều người không biết nói một câu tiếng Trung Quốc. Họ lấy vợ, lấy chồng, sinh con trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhưng họ đã bị nhà cầm quyền moi móc lý lịch từ mấy đời về trước, tìm xem họ có nguồn gốc Trung Quốc hay không, rồi xếp họ vào loại cần phải theo dõi. Ngay những người này cũng bị chửi bới, mạt sát thậm tệ và bị ngược đãi bất công nên họ đã phải cắn răng gạt lệ tìm đường ra biển. Có nhiều cảnh vợ ở chồng đi, vợ đi chồng ở. Những cảnh chia tay vĩnh biệt của những đôi vợ chồng, của những đứa con vĩnh biệt song thân mới não nùng ai oán làm sao! Ai mà biết được sẽ còn có một ngày về, một ngày trở lại để được ôm lấy nhau đoàn tụ. Ai mà biết được khi trở về thăm quê, cha mẹ liệu có còn không hay đã an nghỉ ngàn thu nơi chín suối. Có những người vợ muốn đi theo chồng đã bị gia đình bắt giữ lại. Có những người chồng muốn theo vợ ra đi đã bị người ta chửi mắng là đồ hèn bám theo gấu quần phụ nữ, quên cả tổ tiên, non sông đất nước.

Thật là :

      Buồn thay những tối tháng năm

      Đường ra bến cảng âm thầm tiễn nhau

      Xạc xào gió vuốt cành lau

      Trùng dương sóng vỗ một màu xanh xanh.

Lịch sử mỗi dân tộc đều mang trên mình những vết thương đau đó. Chính những đứa con trong lòng nó mang lại những hiểu lầm, những tranh chấp về ý thức hệ, những ganh đua về quyền lợi. Nếu chúng ta không biết tha thứ cho nhau, quên đi những bóng đen của dĩ vãng, hướng nhìn về tương lai để cùng nắm tay nhau tiến bước, thì những vết thương cũ sẽ không bao giờ lành và còn tiếp tục nữa những điều bất hạnh.

Nếu chúng ta nhìn vào nước Mỹ, một nước được coi là hợp chủng quốc Hoa Kỳ với đầy đủ ý nghĩa của nó, chính ở nơi đây những người da trắng từ Anh, Pháp, Tây Ban Nha kéo sang đã tiêu diệt những người địa phương da đỏ và có những trận lùng bắt những người da đen Châu Phi mang sang bán làm nô lệ ở Mỹ nên đã hình thành một nước Mỹ có nhiều sắc tộc. Nếu con cháu những người Mỹ không biết tha thứ những lỗi lầm của quá khứ để cùng nhau chung sức, chung lòng xây dựng đất nước thì nước Mỹ không bao giờ được là một siêu cường quốc như ngày nay.

Nhìn vào lịch sử Việt Nam, sự hội nhập của các sắc tộc trong đại cộng đồng dân tộc không đến nỗi đau thương như nước Mỹ. Đã từ lâu nước Việt Nam là một khối cộng đồng của nhiều sắc tộc, trong đó người Hoa ở Việt Nam là một sắc tộc hợp thành dân tộc từ mấy ngàn năm lịch sử, và có công đấu tranh dựng nước, bảo vệ tổ quốc.

Nếu ai đã từng sống ở miền Bắc Việt Nam, đã từng đi viếng thăm những nơi người Hoa ở, các bạn sẽ thấy sắc tộc người Hoa trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là những người lao động cần cù, là những con người sống rất có tình, có nghĩa, là những người đã cùng gian khó có nhau, cùng chia ngọt sẻ bùi với những sắc tộc khác trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Từ các tỉnh biên giới phía Bắc : Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, ở miền núi đến tỉnh Quảng Ninh, vùng ven biển, những bản làng của người gốc Hoa sống yên vui bên cạnh những bản làng các sắc tộc khác. Sáng sáng, họ cùng vác dao vác cuốc, đánh trâu ra đồng ra nương, phát rừng khai phá đất hoang, cày sâu cấy lúa trên ruộng đồng, đốt nương, trồng khoai, trồng sắn trên nương trên rẫy. Họ nói những ngôn ngữ địa phương khác nhau nhưng họ đều là những sắc tộc trong cộng đồng dân tộc và họ đã và đang dùng sức lao động của mình để làm ra lúa gạo, sắn khoai, góp phần cho toàn dân được cơm no, áo ấm.

Dọc theo con sông Hồng, bắt nguồn từ đại lục Trung Quốc, sẽ đưa bạn đi qua các tỉnh Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, qua các thị xã Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Yên, rồi xuôi buồm chảy về Hà Nội, xuống Hà Nam vào Thanh Hóa, xuôi dòng xuống phía Nam. Ở những vùng ven con sông vĩ đại đó, những người dân gốc Hoa và Việt đã sống bên nhau, nương tựa vào nhau để khai phá đất đai, lập nên những vùng dân cư trù phú. Họ thương yêu nhau, kết hôn với nhau và nuôi dạy con cái trở thành những công dân có ích cho đất nước.

Tôi đã từng đi thăm vùng mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả. Ở các vùng mỏ, làm ăn vất vã sớm chiều, mồ hôi nước mắt trộn chung cùng sỏi đá này, đều có mặt những người Hoa làm ăn quần quật để kiếm sống, để dựng nên những xóm làng, phố xá, cùng chung sống thân thương với những người sắc tộc gốc Kinh. Sáng sáng những con người còn nhiều sinh lực, sau một đêm dài ngủ say dưỡng sức, hăng hái vác xà-beng, cuốc chim chui vào những hầm than đen ngòm, sâu thẳm, khi chiều đến những con đường hầm sâu hoắm này lại nhả ra những thân hình còm cõi, đen nhẻm đen nhem, mệt nhoài sau một ngày lao động cực nhọc dưới hầm sâu. Khó có ai nhận ra ai là người gốc Hoa, gốc Kinh, gốc Nùng, gốc Thái, thậm chí cả thân nhân của họ cũng khó nhận ra ai là chồng, ai là cha nếu không nhìn vào đôi mắt tinh anh đang tươi cười hướng về phía họ. Chính những con người đen thủi đen thui như hòn than dưới mỏ này đã góp phần làm giàu cho đất nước Việt Nam bằng sức lao động cần cù dũng cảm của họ. Họ chung vai, chung sức hùng hục đào than dưới hầm sâu, vợ con họ còng lưng đẩy những chiếc xe goòng đầy ắp than đá dưới ánh nắng hầm hập, mồ hôi vã ra như tắm, trong những trưa hè trời nắng như thiêu.

      Ăn cơm với cá mòi he

      Lấy chồng thợ mỏ đun xe suốt đời.

Cuộc đời của những anh chị thợ mỏ cay đắng nhiều hơn là ngọt bùi. Thảm thương thay khi có tin sập hầm, chôn sống những người chồng, người con thân yêu của họ. Ai có thể cầm được lòng để khỏi xót xa rơi lệ khi chứng kiến những người vợ trẻ lăn lộn, ôm lấy xác chồng bám đầy than bụi, mới được móc ở hầm lên. Ai mà chẳng xót thương khi nghe tiếng khóc than của những trẻ thơ mất cha, những mẹ già mất con trong các tai nạn sập hầm khủng khiếp. Nhiều người thợ mỏ gốc Hoa, gốc Kinh, gốc Nùng, gốc Thượng cùng nằm chung trong một huyệt dưới tận đáy sâu của lòng đất Việt Nam trong khu mỏ than nổi tiếng một thời có loại than đá cực tốt xuất khẩu để làm giàu cho đất nước, để cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện Hải Phòng, Hà Nội mang ánh sáng cho rất nhiều người.

Bạn ơi, bạn đã từng đến thăm thành phố Hải Phòng, một trong những nơi tập trung nhiều người Hoa nhất ở miền Bắc hay chưa? Ở nơi đây, nơi được mệnh danh là đồng chua nước mặn này, đời sống của những công nhân gốc Hoa cảng Hải Phòng không hơn gì đời sống công nhân vùng mỏ.

Trước hết xin bạn hãy đến thăm cảng Hải Phòng, bạn sẽ thấy số công nhân bốc vác ở nơi này hầu hết là người gốc Hoa. Đây có phải đâu là một thứ nghề được trọng đãi, đây là một loại lao động cực khổ mà nhiều người gốc Kinh sợ không dám làm. Những công nhân bốc vác này trước đây bị người ta gọi một cách khinh mạn là phu bốc vác, cu-li. Những phu bốc vác này, mình trần, da xạm nắng, vắt trên vai một cái khăn màu thẩm, nối đuôi nhau leo xuống các cầu tàu vác lên những kiện hàng to và nặng gấp hai lần cơ thể họ, còng lưng leo một cách khó nhọc lên boong xếp thành những núi hàng hóa trên bến Sáu Kho để cho các xe tải vào ăn hàng. Có người đã chết vì những kiện hàng lớn đổ xuống đè phải, nhiều người khác bị cần cẩu vô ý quệt vào hất xuống chết chìm trong dòng sông Bính Sáu Kho. Những tai nạn như vậy vẫn thường xảy ra ngay cả khi chính phủ mới Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có cho thi hành những biện pháp bảo vệ an toàn lao động.

Tôi đã vào thăm nhà máy xi-măng Hải Phòng. Nơi có những lò nung sức nóng lên tới ngàn độ. Những ống khói nhà máy xi-măng hằng ngày phun ra những luồng khói đen đầy bụi bặm, làm ô nhiễm cả một vùng rộng lớn của thành phố và vùng lân cận. Những công nhân xi-măng có rất nhiều người là gốc Hoa. Có những gia đình làm việc tới mấy đời trong cái nhà máy khốn khổ này. Những công nhân lò nung của nhà máy xi-măng Hải Phòng phải làm việc với cái nóng hầm hập suốt ngày đêm đến nghẹt thở. Hầu hết họ để mình trần, mặc độc một chiếc quần cộc, đầu đội mũ ca-nô xếp bằng bao giấy xi-măng, tóc tai, người ngợm phủ kín một màng bụi xi-măng màu xanh nhạt. Bát cơm, chén nước của họ cũng phủ đầy chất bụi cát xi-măng nên nhiều người trong bọn họ đã bị lao lực, nhiễm độc mà chết.

      Ai ơi có đến Hải Phòng

      Lò nung, bến cảng xin đừng có vô.

Đó là những lời nhắc nhở của những con người đã từng chịu đựng nỗi khổ cực trong cảng Hải Phòng và nhà máy xi-măng.

Ở Hải Phòng và Hà Nội, hai thành phố to nhất miền Bắc Việt Nam, có những hiệu buôn người Hoa giang ra tấp nập đông vui ở các phố Hàng Buồm, Hàng Đào, Hàng Ngang (Hà Nội), ở các phố trù phú sầm uất như Phan Bội Châu, Phố Khách (Hải Phòng). Ở những nơi ấy, quả thật có những ông "lẩu pản" bụng phệ rất giàu, dễ có những người ganh ghét đặt vè nói xấu : "Cái nỉ là nỉ pến tàu. Cái nỉ là nỉ mới sang... Sáng sang Nam Việt pán puôn, pán puôn làm giàu...". Những người hay ghét ghen khác lại đặt vè nói xấu thêm : "Cái nỉ là nỉ pán thoòng khếu. Cái nỉ là nỉ táo dầm. Cái nỉ là nỉ đi vô thùng...".

Thật vậy, có những người Hoa đã kinh doanh thành đạt và trở nên giàu có, nhưng cũng có vô vàn người Hoa ở hai cái thành phố lớn này lam lũ làm ăn rất cơ cực, đánh vật với đời để đổi lấy miếng cơm. Họ không ngần ngại làm bất cứ việc gì để tự nuôi sống chờ ngày vươn kịp bằng người. Sự cần cù nhẫn nại của họ trong lao động là những gì đáng học tập chứ phải đâu là một thứ riễu cợt mang đầy ác ý chia rẽ.

Nếu như mùa hè năm 1979, chính quyền cộng sản Việt Nam cố tình dồn ép người Hoa phải bỏ nhà cửa, ruộng vườn lao ra biển tìm tự do đến nỗi nhiều gia đình phải tan cửa nát nhà, kẻ chết ngoài khơi như mẹ anh Tô Như Sinh (hiện nay ở London, Anh Quốc), hay con trai ông Trương Hữu Quý (hiện đang làm ăn ở Mỹ), kẻ bị thất tán chết trong đám loạn quân ở trong rừng như em ông Lý Hồng Phi (ở London)... thì liệu có lúc nào đó họ nghĩ đến công lao của những người gốc Hoa ở Việt Nam đã từng chung lưng lao động, làm ăn vất vã bên cạnh những sắc tộc khác ra sao. Liệu họ có còn nhớ đến những người đã hy sinh, nằm xuống cho cách mạng Việt Nam tiến lên trong thời kỳ Pháp thuộc, trong kháng chiến chống Pháp. Liệu họ còn nhớ đến những công nhân gốc Hoa như anh Nguyễn Văn Vi đã tan mất xác khi đang làm việc ở lò nung trong nhà máy xi-măng vì bị bom Mỹ ném trúng!

Xin hãy để cho lương tâm của thời đại suy ngẫm và trả lời. Nếu một dân tộc không lấy hòa giải và hòa hợp dân tộc làm phương châm hành động thì dân tộc ấy sẽ còn bị phân hóa. Những vết thương sẽ còn hằn rất lâu trên mình lịch sử và sẽ còn tiếp tục rỉ máu mãi đến những thế hệ mai sau.

Tôi nghĩ rằng : Một người Việt Nam yêu nước, trước hết, phải là một người tán thành đường lối hòa giải hoà hợp dân tộc để cùng với khối cộng đồng dân tộc nắm tay nhau xây dựng lại đất nước.

Nguyễn Anh Tuấn

London, ngày 3/4/1992

 **************************

Lồng tre cũi sắt

Lê Việt

(Lê Việt là bút hiệu của Nguyễn Anh Tuấn, Viết theo lời kể của Trần Thị Ngọc Kim)

Lời tác giả : Người tị nạn đi từ Việt Nam, mặc dù thuộc nhiều nguồn gốc nhưng đều có cùng một lý do : thoát khỏi sự kềm kẹp, áp bức của một chế độ cực kỳ hung bạo, thiếu lòng nhân. Nhờ mẫu số chung này mà vấn đề tổ chức, kết nạp vào các đoàn thể ở tại nước ngoài không gặp khó khăn lắm, và đã không thiếu những cộng đồng, hội đoàn trong đó người gốc Việt, gốc Hoa, gốc Chàm, gốc Thượng v.v... đã cùng sát cánh với nhau hướng về một tổ quốc chung mà trước kia họ đành phải gạt lệ tạm ra đi. Tuy nhiên, trong ánh sáng của tình thương và sự đoàn kết ấy không khỏi không có vài bóng mây mờ, chỉ vì lý do thiếu sự thông cảm, hoặc vì không biết rõ hoàn cảnh của một số người. Bài dưới đây nói lên khía cạnh thương tâm và đau khổ của số người đó.

Chắc các bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng tác giả nội dung bài viết này không được cái may mắn như các bạn đang sống trong thế giới tự do.

Tôi đang sống trong một nông trường tại đại lục Trung Quốc, nơi mà cha ông tôi đã sinh ra, rồi từ bỏ quê hương ra đi làm ăn sinh sống ở Việt Nam. Cha tôi lớn lên ở đất nước Việt Nam, lấy mẹ tôi là người Việt, và chỉ sinh được một mình tôi, nâng niu chiều quí như vàng như ngọc, nên mới đặt tên tôi là Ngọc Kim. Tôi chỉ được sống sung sướng có mười năm. Mẹ tôi mất khi tôi mới lên mười và từ đó là cảnh gà trống nuôi con.

Theo nguồn gốc, tôi là con gái người Hoa, nhưng tôi hoàn toàn không biết tiếng Hoa, không biết viết ngay cả tên mình bằng tiếng Hoa. Tôi theo học trường phổ thông Việt Nam và chẳng bao giờ nghĩ mình là người Trung Quốc. Sau khi học xong trung học, tôi xin vào làm ở một nhà máy Hải Phòng. Tôi sống chan hòa với các bạn Việt Nam, cùng tham gia tập tự vệ, và cùng được kết nạp vào Đoàn Thanh Niên.

Tôi sống thoải mái vui tươi trong tình nghĩa đồng bào, bè bạn. Nhưng cũng có lúc thoáng buồn khi nghĩ đến mẹ mất sớm, bố tôi đang là ông chủ hãng buôn xuất khẩu nay hạ xuống làm một chân "bảo vệ" cho một cơ quan. Ở nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, người ta dùng danh từ "bảo vệ" để chỉ những người làm công việc gác cổng, trông nom kho tàng, tài sản những cơ quan nhà nước. Cũng như người ta khéo đặt tên cho những anh, những chị nấu cơm trong quân đội hoặc cơ quan là "anh nuôi", "chị nuôi" để động viên những con người suốt ngày làm việc với nồi, niêu, bát đĩa.

Khi tôi đã lớn khôn, tôi hiểu rằng cha tôi có những nỗi buồn khó nói. Ông âm thầm chịu đựng một mình, sợ nói ra lại bị quy là thành phần bất mãn. Ông cũng không muốn mang lại nỗi buồn cho tôi nên cũng không bao giờ tâm sự cùng con gái.

Tôi đã sống hồn nhiên như những con chim non tung tăng bay nhảy trên những lùm cây xanh lá dưới ánh nắng mặt trời của những buổi sáng mùa xuân nắng đẹp. Tôi nào có biết bão tố của cuộc đời đang ập đến sau lưng.

Một hôm, tôi được Đảng ủy nhà máy gọi lên văn phòng và tuyên bố rằng tôi là người Hoa, từ nay không được tham gia đội tự vệ, không được sinh hoạt Đoàn. Tôi cảm thấy như có ai đánh mạnh vào thái dương, choáng váng chừng như muốn quyï xuống. Nhưng không tôi vẫn đứng trơ trơ, không khóc và cũng không nói một lời. Tôi từ từ gỡ tấm huy hiệu đoàn viên đặt trên bàn trả lại cho Đảng ủy và lầm lũi ra về. Tôi thôi việc từ ngày đó vì biết rằng có đến làm cũng chẳng vui gì, và chắc gì người ta cho tôi làm nữa, vì cuộc chiến tranh ở biên giới Việt - Hoa đã nổ, và luồng gió độc bài Hoa đã dấy lên ở khắp mọi nơi.

Ngày xưa, khi hai nước cộng sản thân nhau, người ta đã đặt ra bài hát có những lời ca như sau : "Việt Nam, Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, mối tình hữu nghị sáng như trời đông". Nhưng bây giờ họ giết nhau, một bài hát mới chống Trung Quốc đã được lưu hành rộng rãi : "Quân xâm lược Trung Quốc dã man, chúng chà đạp lên mảnh đất tiền phương. Máu đã đổ trên những vùng biên giới yêu thương...".

Cơn gió lốc hiểm độc của thù hận và chia rẽ dân tộc quét đi những mảnh lớn dân cư gốc Hoa trên bản đồ miền Bắc Việt Nam. Những người dân gốc Hoa thuộc tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn là những nạn nhân đầu tiên của trận bão đời đó. Cảnh chia ly mới đau khổ làm sao, vì bao đời nay những người Việt gốc Hoa sống bên nhau với tình cảm đồng bào, bè bạn. Phần đông họ lại có quan hệ máu mủ họ hàng với nhau, nên khi thấy những người Hoa dìu cha mẹ già, bồng bế con thơ, gồng gánh xách mang từ bỏ chốn chôn nhau cắt rốn, sinh sống đã bao đời để chạy loạn, nhào về với "Tổ quốc Trung Hoa". Họ tự ví như từ cái lồng tre chui vào cũi sắt, để lại những mảnh đất mà họ đã đổ mồ hôi cuốc cày tưới bón, nhìn những cây lúa đang trổ bông mà như muốn níu chân người trở lại. Họ đã khóc khi phải xa nhau và cảm thấy xóm làng trở nên trống trải, mất đi cái ấm áp nhộn nhịp vui tươi của những ngày mùa.

Chiến tranh biên giới tháng 2/1979 bùng nổ. Người ta đồn rằng quân Trung Quốc đã đánh bất ngờ và đã tiêu diệt sư đoàn 308 chủ lực quân oanh liệt của cộng sản Việt Nam. Người ta nói rằng quân Trung Quốc tàn sát dã man, giết cả đàn bà con trẻ và phá hết những gì là công trình xây dựng trong khu vực chúng chiếm đóng. Người ta còn cho biết thêm rằng không thể tin được những cán bộ gốc Hoa, vì nhiều người đã phản bội, làm gián điệp cho Trung Quốc, dẫn lối chỉ đường để tiêu diệt quân Việt Nam. Thế là lửa cháy lên, đầu rơi, máu đổ!

Làn sóng căm thù hừng hực dâng lên. Bộ đội, công an tỉnh Quảng Ninh, nơi chiến tranh đang bốc lửa, ập đến từng nhà, bắt trói những người Hoa còn lại ở Đông Triều mang đi. Những người chưa bị bắt chạy xuống Hải Phòng. Như tiếng bom nổ trong tim, người Hoa ở hai thành phố lớn nhất ở miền Bắc lau khô nước mắt, sau khi đã khóc suốt đêm khuya, đem đồ đạc ra chợ trời bán vội bán vàng, hối hả đóng thuyền chuẩn bị ra khơi "chạy loạn".

Có nhiều người hăng hái tuyên bố : "Tôi sẽ về với tổ quốc tôi [Trung Quốc], dù có phơi nắm xương tàn trên quê nội cũng cam lòng". Nhưng cũng có nhiều người chẳng muốn ra đi, họ nói : "Từ Việt Nam chạy về Trung Quốc có khác gì từ cái lồng tre chui vào cũi sắt", vì vậy, họ đã chọn con đường ra biển để tìm tự do. Tự do hay là chết, chứ không có lồng tre và cũi sắt. Nhưng than ôi, không phải ai cũng biết như vậy và làm được như vậy. Những người quá nghèo làm sao có đủ tiền chung đóng tàu to thuyền lớn ra biển cả. Tai hại hơn là họ nghe theo lời tuyên truyền lừa phỉnh của đại sứ quán Trung Quốc : nào là về nước sẽ được ưu đãi, sẽ được phân phối công tác theo khả năng chuyên môn, sẽ được định cư theo yêu cầu và theo nguyện vọng của đồng bào.

Tin tức người Hoa về nước được tiếp đón ân cần ở các chiêu đãi sở vùng giáp giới Việt Nam, được phát quần áo mới, được học tập, ăn uống tốt v.v... đã khích lệ những người do dự chưa muốn rời bỏ đất nước Việt Nam trở về tổ quốc. Trong lúc đó, công an Việt cộng lùng bắt những người Hoa tình nghi làm tay sai cho Trung Quốc, bỏ lỏng trật tự trị an, thả sức cho bọn lưu manh, mất dạy làm nhục người Hoa còn lại, những người tha thiết nhất đối với dân tộc Việt Nam thì lại là những người bị nhục nhiều nhất. Đó là những người như tôi, thực chất là một người Việt Nam nhưng trong giờ phút lịch sử ấy, bị quản chế ở nông trường, không ai được ra làm ăn ở thành phố.

Có tính cách nhục mạ như "quân Tàu ô", "thằng Tàu", "con Tàu", "thằng bán táo dầm"... và những tên thiếu giáo dục, những kẻ có hiềm khích cũ với người Hoa tha hồ được phép lăng mạ, chửi rủa và khủng bố đánh đâp.

Tôi đã ở lại Việt Nam vào những giờ phút kinh hoàng đó. Nhưng tôi vẫn chưa muốn ra đi. Tôi khóc nói với ba tôi : "Con không biết một câu tiếng Trung Quốc, con chẳng quen ai ở bên đó, con không muốn về...". Tôi không về thì ba tôi cũng không thể bỏ tôi mà đi được, và tôi cũng không nỡ lòng nào để ba tôi chịu đau khổ, nhục nhằn trước làn sóng dư luận độc ác, trước sức thúc ép của công an chính quyền, nên tôi đã quyết định rời khỏi đất nước Việt Nam, quê mẹ của tôi.

Hai bố con âm thầm mang hoa và lễ vật ra nghĩa trang Phi Liệt để giả từ mẹ tôi đang an nghỉ ngàn thu trong lòng đất Việt, và biết bao giờ mới lại được về đây thắp nén hương thơm cầu nguyện cho hương hồn mẹ phiêu diêu nơi nơi cõi Phật. Tôi đã khóc nhiều và nói chuyện nhiều với mẹ tôi, với nấm mồ cỏ xanh bao bọc mà sao cảm tưởng như đang nằm gọn bên người như hồi còn bé dại, nói thầm thì rất lâu với hương hồn người đã khuất. Mặt trời đã ngả về tây, một làn gió nhẹ làm xào xạc lá cây mà tôi tưởng như mẹ tôi đã hiện về đứng đó. Đôi mắt người hiền dịu làm sao, người vuốt ve mái tóc của tôi, dặn tôi phải theo ba, trông nom giúp đỡ cho ba, như thế mới là con có hiếu. Tôi được ba tôi dìu ra khỏi nghĩa trang để trở lại Hải Phòng chuẩn bị cho cuộc hành trình không hẹn ngày trở lại.

Tôi đã ra đi trong nước mắt tiễn đưa của họ hàng bên mẹ, của những đứa bạn thân và nước mắt của chính mình. Tôi đã đến chào những gia đình Việt Nam quen thân, có người vừa khóc, vứa dúi cho một món tiền nho nhỏ, có người cho một cái phao, vài chiếc mù-xoa, và ai cũng cầu chúc cho bố con tôi "thượng lộ bình an", "thuận buồm xuôi gió".

Tôi quên làm sao được mẹ tôi, một người mẹ Việt Nam dịu hiền, nhân hậu, đã thương quí tôi hơn chính cả đời mình. Tôi quên sao được những khuôn mặt hiền lành, tình bạn chân thành của những người Việt Nam chân chính. Tôi quên sao được quê hương tôi, thành phố Hải Phòng rực màu hoa phượng, nơi tôi đã được sinh ra, khóc ba tiếng chào đời, chào cuộc đời Việt Nam đã nâng dắt tôi đi từng bước một để rồi đến lúc này đây, tôi bước xa hơn, xa nơi mẹ hiền còn nằm lại đó, xa bao bạn hữu từ thuở ấu thơ, xa mái trường xưa nơi tôi đã từng ngày cắp sách đến nghe thầy cô dạy cho cách sống, cách làm người. Xin giả từ Hải Phòng bến cảng, những bến Bính, Xi-măng, Thượng Lý, Lạc Viên, những cầu Rào, cầu Tre, Hồng Bàng, Mê Linh, Quang Trung, Trại Câu, Cầu Đất... Những phố xá, những ngôi nhà, những mái trường hiền lành xinh xắn của quê tôi, con sông Cấm nối liền thành phố với biển khơi, đưa những con tàu của thế giới bên ngoài vào thăm đất Việt. Nhà Hát Lớn vẫn còn đây, nơi các chiến sĩ của đội nam bắc Thành Tô đã anh dũng hy sinh trong những ngày đầu Hải Phòng kháng chiến. Đây là vườn trẻ với Cung Thiếu Nhi, nơi ngày xưa cha mẹ tôi đã đưa tôi đến cho tập cưởi trên những con ngựa bằng gỗ quay tít mù, vừa thích vừa sợ...

Tôi đã âm thầm đi khắp mọi nơi, âm thầm từ biệt từng con đường góc phố của quê hương thân yêu, tất cả những gì ở đây, ở mảnh đất Việt Nam thân thương này sẽ mãi mãi là những kỷ niệm không bao giờ phai nhạt ở trong tôi.

* * *

Tôi trở về đất nước Trung Hoa, quê nội của ông cha và lòng bồi hồi nhớ đến mấy câu thơ của người bạn thân đã về từ trước.

      Tôi đã về đây Quảng Tây Hợp Phố,

      Mảnh đất nghèo nhưng sao thầy thân thương.

      Tôi đã đi trên những con đường,

      Nơi cha ông tôi đã từng in dấu gót...

Trung Quốc cũng nghèo, chẳng hơn gì Việt Nam, nhưng một công dân chân chính của một đất nước thông thường không bao giờ chê đất nước của mình, cũng như những đứa con hiếu thảo không bao giờ chê cha mẹ nghèo, có chăng là họ tự chê mình chưa giỏi, chưa làm được gì để báo hiếu mẹ cha, xây dựng đất nước thân yêu giàu mạnh. Nếu họ có trách là trách những kẻ cầm quyền, nắm vận mệnh dân tộc trong tay đã lái con thuyền quốc gia lại đi ngược với trào lưu xã hội để mang lại những gian khổ nhục nhằn cho cả dân tộc.

Những đứa con tha hương từ đất Việt trở về, cũng có những tình cảm đáng quí đối với đất nước Trung Hoa. Họ cũng muốn đem tài năng và trí tuệ của mình làm rạng rỡ cho non sông, đất nước, nhưng hỡi ôi! Liệu làm được gì, khi người ta đem xếp tài năng vào một xó, gom toàn bộ những người Hoa về nước vào các nông trường xa xôi hẻo lánh, bắt những "thiên tài" phải làm quen với cuốc cày, đồng ruộng. Tất cả đều làm ruộng ở nông trường, đó là quốc sách của Trung Quốc dùng để đối phó với những trái tim yêu nước muốn làm một cái gì để đóng góp phần nhỏ bé của mình xây dựng một nước Trung Hoa hùng cường.

"Các anh bảo anh là người Hoa, cộng sản Việt Nam đuổi các anh đi ; nhưng về nước, Trung Quốc lại bảo các anh là người An Nam, lại còn nghi trong các anh có những tên gián điệp cộng sản Việt Nam gài vào. Vì chính sách bảo vệ đất nước, xin các anh miễn kêu ca, hãy cắn răng mà vác cuốc ra đồng làm ruộng. Chúng tôi không thiếu nhân tài, nhiều nhân tài Trung Hoa chính gốc còn nằm co ở nhà chờ xin việc...".

Những âm hưởng đó cứ dội mãi vào thính giác của tôi. Đó là những lời bàn tán của những đứa con đã từng tuyên bố dù về nước có phải làm kiếp trâu ngựa, phơi nắm xương tàn trên quê nội cũng cam lòng, nhưng nay thì bất mãn thật sự với quốc sách "lồng tre cũi sắt" của Trung Quốc.

Có một trí thức trẻ từ Việt Nam về không làm được ruộng nên được "trên" chiếu cố cho đi chăn trâu, và anh đã từ bỏ cuộc đời bằng cách tự sát, không đủ sức chịu đựng để thực hiện câu nói nổi tiếng cộng sản trẻ tuổi Nicolai Astropski, tác giả cuốn "Thép Đã Tôi Thế Đấy". Câu đó như sau : "Hãy sống ngay cả khi cuộc sống đà trở nên không thể nào chịu đựng được nữa".

Đứng về phương diện nào đó thì câu nói đó có phần đáng được ngợi khen. Không những hàng trăm ngàn người dân gốc Hoa từ Việt Nam trở về phải sống "cuộc sống không thể nào chịu đựng được nữa trong bức màn sắt", mà gần một tỷ dân Trung Quốc đã phải chịu đựng như vậy từ lâu rồi. Có điều là họ không chỉ có âm thầm chịu đựng mà còn âm thầm đấu tranh, phản kháng, đòi từng bước cải thiện dân sinh. Đó là lý do vì sao có Đặng Tiểu Bình và chính sách cải cách của cộng sản Trung Quốc, chứ không phải là "Trung Quốc có "sĩ, nông, công, thương" mà Việt Nam chỉ có "sĩ, nông và công". Trung Quốc có những thương nhân giỏi buôn bán thì bao giờ cũng linh động, không thể giáo điều được". Đó là những lý giải thật hàm hồ của một học giả Việt Nam cho rằng vì sao Trung Quốc có Đặng Tiểu Bình, có cải cách mà Việt Nam không có.

Tất cả những người bị đè nén, áp bức ở thế giới cộng sản đều phải tự vùng lên đấu tranh thì mới có được những thay đổi trong chính sách cai trị khắc nghiệt của cộng sản. Những cải cách bước đầu của cộng sản Trung Quốc hoặc cộng sản Liên Xô đều là do kết quả đấu tranh của chính nhân dân các nước đó mang lại. Với ý niệm đó, nên những người Hoa về nứớc cũng đã từng đấu tranh để đòi cải thiện đời sống cho chính họ.

Có những người là gốc giáo viên, là thợ in, thợ điện, nên nhất định không chịu làm ruộng và hàng ngày kéo lên nông trường bộ, cãi lý với lãnh đạo nông trường. Cuối cùng ban "lãnh đạo" cũng phải thu xếp cho một ít người làm theo ngành nghề cũ, nhưng chỉ hạn chế ở nông trường, không ai được ra làm ăn ở thành phố.

Nhưng không phải ai cũng gặp may được "trên" xếp việc theo ngành nghề. Tôi là một trong những số phận hẩm hiu đó. Vì vậy hai bố con tôi ngày ngày vác cuốc ra đồng, cuốc ruộng đến chảy máu tay mà năng suất vẫn chưa đạt chỉ tiêu như "trên" qui định. Làm vất vả mà ăn thì không có gì, nên cái tuổi mười chín đang độ thanh xuân của tôi héo khô như chiếc lá mùa thu vàng khô rụng xuống. Tôi ốm nặng vì không chịu được phong sương, vì thiếu dinh dưỡng, vì đau buồn, vì phẫn uất. Nhưng ốm mà nằm nhà thì càng chết vì sẽ bị vu cáo là "đấu tranh lảng công" và họ sẽ thực hiện lý luận kinh tế học của Mác - Lê "không làm không ăn", có nghĩa là họ sẽ cắt sổ gạo. Không có gạo ăn thì sẽ chết vì đói trước khi chết vì bệnh. Muốn được sống thì người bệnh phải cố mà lết lên y tá nông trường bộ, nhắm chặt mắt lại, mặc kệ cho họ nghe, họ sờ, họ mó. Và kệ thay họ muốn tiêm thức thuốc gì cũng được, sau đó cố nằn nỉ xin cho được giấy ốm để được nghỉ lao động. Có thế thì mới không bị cắt gạo và còn được hưởng chút tiền nghỉ ốm. Nhưng bọn cán bộ y tế cũng tinh quái lắm, chẳng cho ai được nghỉ lấy quá hai ngày, thường cứ cách một ngày là phải lên khám lại. Khi họ thấy ai còn nói to được, còn đỏ được mặt lên cãi nhau với họ khi họ lợi dụng làm càn sờ mó lung tung, không chịu cho giấy nghỉ ốm. Đối với những "con bệnh ngoan cố" đó, họ trả lời như tát vào mặt : "Đồ lười biếng, không chịu lao động, giả vờ ốm để ăn công không của nhà nước mà không biết xấu hổ à!...".

Những loại cán bộ y tế "lương y như từ mẫu" ở Trung Quốc và trong chế độ cộng sản Việt Nam sao mà giống thế. Tôi không lạ gì những tên cán bộ y tế như vậy nên đành mang bệnh trong người, phải vác cuốc ra đồng để rồi có một hôm tôi bị nôn ra máu, ngã quyï trong vũng nước bùn, chết đi một thời gian sau được bà con tiếp cứu mới trở về lại với thế giới người sống. Từ đó ba tôi không cho tôi ra đồng, bắt phải ở nhà đi kiếm củi trên rừng và nuôi gà, trồng rau. Riêng ba tôi, ông cứ nghĩ rằng mình dù đã tuổi cao nhưng vốn dĩ là người tráng kiện vẫn có thể quen dần với lao động cấy cày. Nhưng mọi việc đã trái ngược với ước vọng của ông. Ba tôi bị ốm nặng và đã qua đời, để lại một mình tôi bơ vơ trên dương thế.

Sau khi cha mất, tôi cũng chẳng còn thiết sống, và dù có muốn sống cũng không biết lấy gì để sống. Hỏa thiêu và an táng ba tôi xong, tôi đóng chặt cửa buồng và toan quyên sinh bằng một sợi giây thừng đã chuẩn bị sẵn. Nhưng ở đâu cũng vậy, có lắm kẻ bất nhân thì cũng có nhiều người lương thiện. Những bà con tị nạn Việt Nam cùng nông trường đã đến cứu tôi, họ mang cho tôi đủ thứ và phân công nhau canh gác, không cho tôi có dịp quyên sinh nữa.

Có người khuyên tôi nên lấy chồng để có chỗ nương tựa, nhưng tôi lại rất sợ nói đến chuyện này. Vì cha mới mất, trên đầu còn mảnh khăn tang, đạo làm con chưa làm tròn chữ hiếu, còn đâu dám nói tới chuyện xuất giá. Hơn nữa, chính sách hạn chế sinh đẻ thực hiện một cách thô bạo ở Trung Quốc làm tôi phát sợ. Có những cặp vợ chồng vì đã "trót" đẻ thêm một đứa con đã bị công an đến tận nhà bắt mang về bệnh viện "hoạn". Có người bị buộc phải phá thai và đã chết ngay trên bàn phẩu thuật của bệnh viện. Có những cặp vợ chồng chỉ vì không có con trai, đẻ được mỗi đứa con gái và bị cấm đẻ tiếp, sinh cãi nhau nhau để rồi người vợ phải thắt cổ tự tử... Nhìn thấy mà ghê. Tôi chưa có gan đem cả cuộc đời còn trong trắng của mình nhận vào vũng bùn hôi tanh đó. Tôi phản kháng kịch liệt những ai dụ dỗ tôi lấy chồng, và xua đuổi tất cả những anh chàng "nhà quê mê gái" và những anh "lẩu pản" trẻ tuổi từ Hồng Kông lao về đại lục tìm vợ. Mọi người cho tôi là gàn dở, là tự cao. Có kẻ "không được ăn thì đạp đổ" đã tung dư luận bảo tôi bị bệnh tâm thàn, điên dở.

Kể ra họ cũng có lý, bởi vì sau khi ba tôi mất, tôi hay cười nói bất thường, người lúc nào cũng như ngây như dại. Có lần soi gương, tôi thấy giật mình vì tôi cũng chẳng nhận ra tôi nữa. Tôi nhìn lại tấm ảnh chụp hồi ở Việt Nam mới hai năm trước đây so với tôi giờ này như hai người khác biệt. Đâu còn nữa cô Ngọc Kim duyên dáng đẹp tươi, mái tóc xanh dài, mượt mà óng ả, phủ xuống đôi má hồng mơn mởn của cái tuổi dậy thì mười bảy. Còn đâu nữa đôi mắt nhung đen thoảng vẻ mơ buồn nhưng rất nên thơ đã vô tình làm nhiều trái tim xao xuyến khi đón nhận một cái nhìn thật hồn nhiên của người con gái chưa biết gì đến hương vị của tình yêu. Giờ đây, đôi mắt ấy vẫn còn đẹp, vẫn có lực hấp dẫn đối với các chàng trai, nhưng sao nó buồn sâu thẳm, làm những con người cương nghị nhất cũng cảm thấy lòng dạ xót xa. Đôi má hồng mơn mởn của hai năm về trước nay được thay vào đôi má gầy xanh, lưỡng quyền nhô cao. Đôi môi đỏ thắm thuở nào nay được thay bằng một màu đen nhạt như tố cáo cảnh nghèo hèn không dinh dưỡng của một chứng bệnh hiểm nghèo : đau tim, thiếu máu...

Hỡi các chàng trai, xin hãy để tôi yên. Nếu có lấy tôi về cũng chỉ mang thêm gánh nặng, trong lúc chính các anh cũng phải còng lưng vì lao động nhục nhằn như kiếp ngựa trâu ở những nông trường tăm tối. Nếu có thương nhau thì hãy để cho nhau tự do và giúp nhau bằng tình bạn.

Có một việc tôi không bao giờ sao lãng là việc thắp hương trên bàn thờ cha mẹ và ngồi im lặng chiêm ngưỡng chân dung người, nói chuyện thầm thì với hương hồn người đã khuất, trong lúc tôi có thể quên đi mọi sự kể cả việc ăn uống. Tôi cầu nguyện, mong cho cha mẹ được gặp lại nhau, sống vui như những ngày tôi còn thơ ấu ở Việt Nam, và ước gì bên kia thế giới của loài người có một thiên đường dành cho những linh hồn lương thiện như cha mẹ tôi. Nhiều đêm nằm mơ thấy cha mẹ tôi đến đón và tôi sung sướng gọi tên người, vùng dậy chạy theo... Nhưng đó chỉ là một giấc mơ, giấc mê sảng của người đang ốm nặng.

Tôi không muốn chết, nhưng cũng không còn muốn sống, vì thấy cuộc đời sao tăm tối thê lương. Trong những lúc tâm hồn yếu đuối, tôi đã được những bàn tay đôn hậu của đồng bào cùng cảnh ngộ nâng đỡ tôi lên. Họ cũng nghèo thôi nhưng tình nghĩa thật nhiều, họ cho tôi từng nắm gạo để nấu cháo. Có người dám hy sinh cả con gà nuôi để dành Tết mang giết thịt để bồi dưỡng cho tôi. Tôi đã sống bằng tình thương của đồng bào tị nạn mình như vậy cho đến lúc tôi có được những cứu cánh mới. Đồng bào đã tranh đấu thật quyết liệt với "cấp trên" và họ buộc phải chấp nhận cho tôi vào làm ở nhà máy của nông trường, một nhà máy do chủ người Hồng Kông bỏ tiền xây dựng. Tin có việc làm như một luồng gió mát làm dịu đi những vết bỏng của trái tim đang rỉ máu. Rồi sau đó là những lá thư từ thế giới tự do bay về như những con chim én bay về khi mùa đông giá lạnh đã qua đi nhường chỗ cho một mùa xuân mới. Những lá thư, rồi kèm theo là những món tiền nho nhỏ của bạn bè từ Canada, từ Mỹ, từ Anh Quốc gửi về động viên tôi, giữ tôi dừng lại trước cái hố diệt vong của cuộc đời.

Nhựa sống của lứa tuổi hai mươi không dễ gì bị tàn lụi, héo khô. Nó như một thân cây mang trong mình những sinh lực vô biên đã hiên ngang trỗi lên làm nứt rạn những tảng băng cứng trong mùa đông giá lạnh, và khi gặp hơi ấm của mùa xuân, nó đã nẩy lộc, đâm cành, khai hoa, kết quả.

Nào tôi có ước gì hơn, chỉ mong sao có được việc làm hợp với khả năng và sức khỏe, để có thể tự nuôi sống mình, không phải phiền lụy đến ai. Và giờ đây tôi đã có việc làm, tôi bắt đầu thấy vui trong lao động. Tôi đã có tiền lương, lại thỉnh thoảng có tiền chi viện ở nước ngoài nên cuộc đời bắt đầu xanh tươi trở lại.

Tôi vui mừng đón những người thân từ nước ngoài về thăm, và được người nhà đưa đi chơi, du ngoạn những danh lam, thắng cảnh ở Trung Quốc. Tôi đã được đi thăm những dinh thự nguy nga của triều đình cung vua ở Bắc Kinh, đứng trên Vạn Lý Trường Thành để phóng tầm mắt ra tận nơi xa xăm, hình dung những trận đánh của quân Ngoại Mông hung hãn xung phong bằng ngựa chiến để liên tưởng tới những danh tướng quân Nguyên Mông, những Thành Cát Tư Hãn, Hốt Tất Liệt và con cháu hắn đã tàn phá Trung Hoa rộng lớn, cưỡi trên lưng con sư tử Trung Hoa ngái ngủ nên bị kẻ thù chinh phục. Nhưng thật kỳ lạ thay, sao những tướng sĩ của quân Nguyên Mông lại thua đau khi vấp phải sức kháng cự của một dân tộc anh hùng giòng Lạc Việt !

Tôi cũng được đi thăm Quế Lâm, một trong những nơi nổi tiếng sơn thủy hữu tình của đất nước Trung Hoa. Ta có thể ngồi trên thuyền máy đi dọc trên giòng sông dài hàng trăm cây số và cảnh núi non hai bên quả như thiên thai trong trần thế. Đất nước Trung Hoa cũng như đất nước Việt Nam đều rất đẹp, thiên nhiên đã ưu đãi hai nước Việt - Hoa, cộng với công trình sáng tạo của dân tộc nên đã có được những thắng cảnh đẹp, vừa nên thơ vừa hùng tráng.

Một trong những nơi để lại trong tôi những kỷ niệm đó là chuyến đi thăm thắng cảnh huyện Phú Sơn, thuộc tỉnh Phúc Kiến. Đó là một hòn đảo giờ đây đã gắn liền với đại lục bằng một con đường dài lấp eo biển. Cảnh ở đây sao so được với Quế Lâm, với Bắc Kinh, nhưng có lại có những nét đặc thù mà không nơi nào có được. Nơi đây có một miếu nhỏ quanh năm hương khói, đó là một hiện tượng mới lạ trong cái xã hội cộng sản vô thần. Ở đây cũng có một đoạn trường thành giả, dường như đó là biểu tượng của nhà cầm quyền Trung Quốc nhắc nhở mọi người là phía trước mặt, bên kia Biển Đông, hạm đội của quân Đài Loan có thể tiến công vào lục địa bất cứ lúc nào. Một cảnh thiên nhiên được du khách chú ý nhiều là một tảng đá khổng lồ, to nặng hàng trăm tấn nhưng chỉ gắn liền với mặt đất bằng một trụ nhỏ, trông thật chênh vênh, tưởng như chỉ cần dùng sức của mấy người đẩy mạnh là lăn tòm xuống biển. Ấy vậy mà hải quân Trung Quốc đã dùng tàu chiến móc dây cáp định kéo tảng đá xuống biển mà không sao kéo được. Nhân dân địa phương trọng vọng tảng đá này như một vị thần linh, đã ngang nhiên đứng giữa trời như thách thức bạo quyền. Trên tảng đá có khắc bốn chữ Hán lớn "Nam Thiên Nhất Trụ". Không ai biết những chữ này do ai khắc, và từ bao giờ, nhưng chữ rất đẹp, ăn rất sâu vào tảng đá, không ai có thể cạo đi được. Đó là một kỳ quan nho nhỏ mà nhiều du khách từ khắp nơi tò mò muốn biết. Nhưng những du khách được hấp dẫn đến đây còn vì một lý do khác : Đứng trên đảo này vào những ngày trời đẹp, có thể nhìn thấy ở xa xa một vệt dài mờ mờ huyền ảo. Đó là đảo Đài Loan, mảnh đất của tự do.

Đứng trên bờ biển Phú Sơn, tỉnh Phúc Kiến, dùng ống nhòm của anh tôi họ tôi ở Canada về cho mượn, tôi đã nhìn rõ hơn đảo Đài Loan, niềm ước vọng của nhiều người dân đại lục Trung Quốc. Chính ở nơi đây, trên hòn đảo Phú Sơn này đã xảy ra trận tập kích bất ngờ của quân Đài Loan đổ bộ vào đại lục, tiêu diệt quân canh phòng bờ biển của Trung Quốc và đã mang theo toàn bộ dân cư của đảo này về Đài Loan. Đó là một hòn đảo mà Trung Quốc không bao giờ quên. Và người dân lục địa cũng không bao giờ quên. Họ mong ước có thêm nhiều trận tập kích như vậy nữa để tạo điều kiện làm rạn nứt những bức tường thép đang ngăn cách họ với thế giới tự do, để có một ngày nào đó họ có thể phối hợp với lực lượng tự do dân chủ ở nước ngoài đập tan gông xiềng đang xiết chặt trên đầu cổ họ.

* * *

Thực ra không có chuyện lòng tre cũi sắt. Những chế độ độc tài, hà khắc, áp bức nhân dân đều là những gông xiềng của tự do, đều là những chiếc cũi sắt khổng lồ, nó thật giống nhau về bản chất : Thiếu chất oxy để nuôi sống con người. Phải đập nát nó ra để giải phóng cho con người. Nếu chưa đủ sức thì ít ra cũng phải phá được những lỗ thông hơi cho người dân có oxy để thở.

Lê Việt

22/11/1988

 

******************************


 

Phụ lục 4 : Một vài số liệu về người Hoa tại miền Nam trước 1975

I. Dân số

1. Người Hoa tại Đông Dương (1921/1931)

Địa danh 1921 1931 Tăng- Giảm Tỷ lệ
Nam Kỳ 156.000 205.000 49.000 - 31%
Trung Kỳ 7.000 10.000 3.000 +43%
Bắc Kỳ 32.000 52.000 20.000 +62%
Cam Bốt 91.000 148.000 57.000 +63%
Lào 7.000 3.000 - 4.000 - 57%
Tổng số 293.000 418.000 125.000 +42%

Nguồn : Tsai Maw Kuey : Les Chinois au Sud Viet Nam, Paris 1968, tr.41.

Tỷ lệ gia tăng dân số người Hoa tại Đông Dương trong thập niên 1920/1930 trung bình là 30%.

Trong thập niên này, chính quyền thực dân Pháp tiếp nhận ồ ạt người Hoa di cư vào Đông Dương nhằm bổ túc số lao động đang thiếu tại các công trường lớn. Tại miền Bắc người Hoa được tuyển vào khai thác các quặng mỏ ở Quảng Ninh và Tuyên Quang. Tại miền Trung, người Hoa được tuyển dụng vào khai thác các hầm mỏ ở Quảng Nam Đà Nẵng và các đồn điền trà, cà phê ở Tây Nguyên. Tại miền Nam và Cam Bốt, người Hoa được tuyển dụng vào việc trồng và cạo mủ cao su ở các đồn điền. Một số đông nhân công trong các đồn điền cao su sau đó đã dời về các thành phố lớn sinh sống và hòa nhập hẳn vào cộng đồng gốc Hoa đã có từ trước.

Riêng tại Lào vì khí hậu khắc nghiệt và không có hấp lực kinh tế cao, việc khai thác gỗ quí đã do các sắc tộc thiểu số địa phương đảm nhận, người Hoa không được khuyến khích vào đây lập nghiệp. Trong khi đó một số cư dân người Hoa đã định cư trước đây tại Lào đã tái di cư xuống Cam Bốt hay vào miền Nam sinh sống.

2. Những nhóm phương ngữ gốc Hoa tại Đông Dương năm 1950

Tên nhóm phương ngữ Việt Nam Cam Bốt và Lào
Dân số % Dân số %
Quảng Đông 337.500 46,4% 50.000

21,2%

Triều Châu 225.000 30,9% 150.000 63,7%
Hạ Phương (Hẹ) 75.000 10,3% 10.000 04,2%
Phúc Kiến 60.000 08,2% 15.500 06,7%
Hải Nàm 30.000 04,2% 10.000 04,2%
Tổng số người Hoa 727.500 100,0% 235.000 100,0%
Tỷ lệ dân số gốc Hoa 75,5% 24,5%

Nguồn : Skinner C. William : Report on the Chinese in Southeast Asia, tr.80, trích lại tài liệu "L'Emigration Chinoise dans le Sud Est Asiatique", La Documentation Française, Notes et Etudes Documentaires, n° 2035, ngày 21/6/1955, tr.6.

Tại Việt Nam, có khoảng 20 nhóm ngôn ngữ gốc Hoa khác nhau nhưng tựu chung người ta chỉ đề cập đến bốn nhóm chính trên. Dân số Quảng Đông chiếm đa số, hơn 46%, nhưng tại hai nước bạn họ chỉ chiếm hơn 21% dân số gốc Hoa. Người Triều Châu đa số tại Lào và Cam Bốt (63,7%) trong khi tại Việt Nam họ chỉ chiếm gần 31%. Những nhóm thiểu số khác giữ vị trí tương đối nhỏ so với hai cộng đồng chính gốc Hoa này.

Những nhóm thiểu số gốc Hoa đa số là những di dân giữa thế kỷ 19 (sau cuộc chiến tranh nha phiến). Họ xuất phát từ các tỉnh nghèo tại Quảng Châu, Quảng Tây, Phúc Kiến, Lôi Châu và Liễu Châu. Những nhóm thiểu số tự đã là thiểu số tại chính bản quốc.

Do yếu kém về dân số, những nhóm thiểu số tự chuyên môn hóa trong một số ngành nghề nhất định để tránh bị đè bẹp. Từ đó, sự chuyên môn nghề nghiệp ngày càng tăng khiến những nhóm địa phương khác khó có thể lấn lướt họ trong một số lãnh vực kinh tế. Chính vì được chuyên môn hóa, nhiều tranh chấp nghề nghiệp đã diễn ra rất gay gắt ngay trong nội bộ của những nhóm thiểu số. Tuy nhiên những cạnh tranh nghề nghiệp nội bộ không dẫn đến phá sản mà thường được giải quyết một cách khéo léo qua trung gian của vị bang trưởng.

3 - Những nhóm phương ngữ gốc Hoa tại Sài Gòn - Chợ Lớn năm 1948

Nhóm Ngôn ngữ Dân số Tỷ lệ
Quảng Đông Quảng Đông 128.030 41,3%
Triều Châu Triều Châu 114.390 36,9%
Phúc Kiến Hạ Môn - Phúc Kiến 24.180 07,8%
Hạ Phương Hẹ 32.860 10,6%
Hải Nàm Hải Nàm - Lôi Châu 10.540 03,4%

Nguồn : Đông Dương Kinh Tế Thời Báo, Số mới, t. 44 "Sinh hoạt kinh tế tại Chợ Lớn", Sài Gòn, 1948.

Thật khó xác định sự chính xác về số người sử dụng một ngôn ngữ gốc, vì có những pha trộn nguồn gốc khi người Hoa lập gia đình với nhau. Người Quảng Đông lấy người Triều Châu, người Phúc Kiến lập gia đình với người đã mang sẵn hai, có khi ba giòng máu nguồn gốc địa phương khác nhau. Nói chung sự phân chia này dựa vào những bang của mỗi địa phương.

Tại Sài Gòn - Chợ Lớn, người Quảng Đông chiếm tỷ lệ dân số gốc Hoa đông nhất (41,3%), kế là người Triều Châu (36,9%). Sự đại diện này cũng tiêu biểu cho dân số gốc trong cả nước : khoảng 45% dân số Hoa là người Quảng, 30% người Tiều. Số còn lại tùy theo địa phương tập trung mà tăng hay giảm, nhưng nói chung con số đại diện dân số địa phương gốc Hoa cũng đúng với hiện trạng.

Tất cả những người sinh hoạt thương mại đều biết ít nhất hai thứ tiếng địa phương : hoặc Quảng với Tiều, hoặc Phúc Kiến với Quảng, hoặc Hải Nàm với Quảng, v.v...

4. Thành phần dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long năm 1926

STT Thành phố Minh Hương Trung Hoa Khmer Việt Nam Tổng số dân cư
01   Cần Thơ 6.593 11.837 26414 283.241 328.085
02 Châu Đốc 2.215 2.178 37.578 153.550 195.521
03 Hà Tiên 3.280 1.250 4.350 8.670 17.550
04 Long Xuyên 1.850 2.201 2.560 195.645 202.256
05 Mỹ Tho 661 3.645 - 330.393 334.699
06 Gò Công 366 911 - 108.739 110.016
07 Rạch Giá 3.308 5167 - 140.297 202.767
08 Sa Đéc 2.980 2.003 - 201.777 206.760
09 Sóc Trăng 16.124 10.063 51.509 110.224 187.920
10 Trà Vinh 10.970 6.862 78.096 157.816 253.744
11 Vĩnh Long 2.010 3.249 799 164.161 170.219
12 Tân An 402 683 202 117.099 118.386
13 Bến Tre 3.567 2.132 - 282.780 288.479
14 Bạc Liêu (*) 20.178 6.145 (?) (?) (?)
15 Cà Mau (*) 14.958 7.346 (?) (?) (?)
Tổng số 89.492 65.672 225.303 2.254.392 2.616.402

Nguồn : Annuaire d'Administratif đe l'Indochine (Niên Giám Hành Chánh Đông Dương), năm 1926, trang 32.

(*) Những số liệu này thiếu dân cư người Việt tại hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau.

Ghi chú : Bảng thống kê này không kể dân số Minh Hương và Hoa kiều tại các địa phương như Biên Hòa, Tây Ninh và Phước Long.

Trong thời kỳ này, chế độ thực dân phân biệt người Minh Hương với người Hoa di cư qua các bang hội trung gian và qua cách chịu thuế. Người Minh Hương không có tiếng nói trong các bang hội và chịu thuế thân nhẹ hơn Hoa kiều.

5. Dân số người Hoa hợp pháp và có kiểm soát (1951/1955)

Năm Sài Gòn - Chợ Lớn Các tỉnh khác Tổng cộng
1951 583.000 95.107 678.261
1952 541.647 115.663 657.310
1953 429.346 115.049 544.395
1954 429.094 112.393 541.488
1955 440.350 180.508 620.858

Nguồn : Nha Thống Kê Sài Gòn, năm 1958.

6. Dân số người Hoa tại miền Nam năm 1955

Phân phối theo khu vực địa dư

STT Địa phương Thành phố Làng xã Tổng số
01 Bà Rịa 500 1.200 1.700
02 Bạc Liêu 10.000 16.000 26.000
03 Bến Tre 3.500 3.000 6.500
04 Biên Hòa 4.000 4.000 8.000
05 Cần Thơ 7.500 6.500 14.000
06 Châu Đốc 5.500 5.500 11.000
07 Chợ Lớn (ngoại ô) 500 3.500 4.000
08 Gia Định 2.000 17.000 20.000
09 Hà Tiên 1.000 1.500 2.500
10 Gò Công 2.500 1.500 4.000
11 Long Xuyên 6.000 4.000 10.000
12 Mỹ Tho 6.500 5.500 12.000
13 Rạch Giá 10.000 17.000 27.000
14 Sa Đéc 4.700 1.800 6.500
15 Sóc Trăng 9.500 15.500 25.000
16 Tân An 2.500 2.500 5.000
17 Tây Ninh 2.600 2.400 5.000
18 Thủ Dầu Một 6.000 5.000 11.000
19 Trà Vinh 5.500 14.500 20.000
20 Vĩnh Long 4.000 2.500 6.500
21 Vũng Tàu 900 600 1.500
Tổng cộng dân số các tỉnh 95.700 131.500 227.200
Dân số Sài Gòn - Chợ Lớn 573.000 573.000
Tổng dân số người Hoa 668.700 131.500 800.200
Tỷ lê dân số người Hoa thị thành 84%
Tỷ lệ dân số người Hoa nông thôn 16%
Cư dân gốc Hoa tại các tỉnh sống trong thành phố 42%
Cư dân gốc Hoa tại các tỉnh sống tại nông thôn 58%

Nguồn : Tch'en K'i-tsing, Oeuvres des Immigrants Chinois au Sud Viet Nam et au Cambodge, Cholon 1956, tr. 17-20.

7. Dân số người Hoa trước và sau ngày ban hành luật quốc tịch (6/9/1956)

Địa phương 1955 1958 Số sai biệt
Sài Gòn - Chợ Lớn 440.350 106.816 333.532
Các tỉnh khác 180.508 16.820 163.688
Tổng cộng 620.858 123.636 497.220

Nguồn : Nha Thống Kê Sài Gòn, 1958.

Con số sai biệt gần nửa triệu người Hoa này có thể được giải thích như là đã gia nhập quốc tịch Việt. Nhưng trong thực tế, theo báo cáo của Bộ Nội Vụ, năm 1961, số người đã xin nhập tịch là 234.753 người (gần phân nửa của con số sai biệt). Vậy số 262.467 người kia đi đâu ?

Theo báo cáo của tòa Tống lãnh sự Trung Hoa Dân Quốc, cho đến ngày 19/7/1957 đã có 52.144 người hoàn tất hồ sơ xin hồi hương. Phía Việt Nam Cộng Hòa cho biết chỉ có khoảng 3.000 người. Vậy con số trên 200.000 kia được giải thích như được minh nhiên có quốc tịch. Vì từ ngày 7-12/1955, đạo dụ số 10 qui định tất cả người Minh Hương (gốc Hoa hay mang trong người hai dòng máu Việt - Hoa) là người Việt. Danh từ Minh Hương biến mất trên các bản khai sanh, thế vì khai sanh hay trên các thể căn cước. Các văn kiện chính thức, hồ sơ hộ tịch xóa bỏ hẳn hai chữ Minh Hương.

Vấn đề còn lại là con cái những Hoa kiều được sinh ra tại Việt Việt Nam hóa tên các trẻ em Hoa kiều trong các hồ sơ hộ tịch. Tất cả những người gốc Hoa bị cấm viết tên bằng chữ Hoa trong những văn kiện chính thức.

II. Những tổ chức đoàn thể

Tổ chức đoàn thể của người Hoa tại Việt Nam có nhiều hình thức : quần chúng, gia đình và nghề nghiệp. Thường những tổ chức đoàn thể được gọi một cách giản dị là bang hội.

A. Những tổ chức quần chúng : Bang

     

Bang là một tập hợp của nhiều người cùng một địa phương xuất phát hay nguồn gốc tổ tiên nói cùng một thổ âm hay có những phong tục tập quán của một địa phương bên Trung Hoa, nhưng sống tại hải ngoại. Mục đích của bang là duy trì sự đoàn kết, phát huy văn hóa của địa phương và giúp đỡ lẫn nhau. Tổ chức cách thức sinh hoạt nội bộ và quản lý nhân sự khác nhau. Đứng đầu mỗi bang là một bang trưởng được bầu theo uy tín hay tuổi tác và mỗi bang trưởng có một hội đồng chuyên viên cố vấn. Tầm vóc của mỗi bang tùy theo số bang chúng gia nhập.

Về mặt tổ chức, bang là một tổ chức chính trị vì có qui mô lớn và tôn ti trật tự. Chính quyền địa phương chỉ cần tiếp xúc với những người trách nhiệm của mỗi bang là có thể thông tin cho tất cả người Hoa của mỗi bang.

Những bang địa phương gốc Hoa tại Việt Nam được thành lập từ năm 1787 dưới triều đại các chúa Nguyễn. Đây là lần đầu tiên những bang địa phương gốc Hoa được thành lập ngoài lãnh thổ Trung Hoa. Ban đầu chỉ có bốn bang, về sau thành bảy bang (1814), nhưng từ năm 1885 được cải tổ thành năm bang. Bang đông người nhất hiện nay là bang Quảng Đông, kế là bang Quảng Châu nhưng mạnh về tài chánh là bang Phúc Kiến. Đến năm 1947, chính quyền thuộc địa Pháp giải tán các bang và thành lập Hội Hoa Liên trực thuộc Tòa tổng lãnh sự Trung Hoa.

Hình thức tổ chức các bang bị nhà cầm quyền Trung Hoa thời đó chỉ trích mạnh mẽ. Họ cho rằng đó là một hình thức gây chia rẽ cộng đồng người Hoa hải ngoại. Ngược lại đối với người Hoa ly hương, đó là một hình thức quản trị để tạo tình đoàn kết và tương thân tương trợ lẫn nhau, và cũng là một đơn vị hành chánh được thành lập nhằm giải quyết một cách linh động những tranh chấp nội giữa người Hoa với nhau thay vì phải qua trung gian chính quyền Trung Hoa (ở quá xa và độc đoán). Về sau dưới thời Quốc Dân Đảng, bang là một hình thức tổ chức nhân sự được chính quyền Trùng Khánh công nhận, nhưng phải nằm dưới sự kiểm soát của trung ương (chính quyền Trung Hoa Dân Quốc).

Đối với chính quyền Trung Hoa Dân Quốc, Bang người Hoa là cơ quan tiếp nhận những chỉ thị hay trung gian phổ biến những chính sách của chính quyền Quốc Dân Đảng. Bù lại bang chúng trong mỗi bang được chính quyền Trung Hoa bảo vệ hay can thiệp mỗi khi có vấn nạn tại quốc gia địa phương. Tại mỗi quốc gia định cư, tổ chức bang địa phương có thể nói đó là một loại chính phủ bỏ túi.

1. Bang Quảng Đông

Dân số Quảng Đông đông nhất tại Việt Nam, 41% dân số tại Sài Gòn và 46% trên toàn quốc. Bản chất là dân miền Nam bờ biển Trung Hoa, người Quảng Đông rất cởi mở, hăng hái nhưng nóng tính, thiếu kiên nhẫn, ít cần cù hơn người gốc Triều Châu và Hạ Phương. Đặc tính của người Quảng là xoay sở rất nhanh và lúc nào cũng tìm cách biết thêm về kỹ thuật, nhất là những kỹ thuật mới của Tây Phương.

Tại Chợ Lớn, tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ thông dụng nhất trong giới người Hoa. Nhiều danh từ Quảng Đông trở thành thông dụng trong dân gian như chữ "chạp phô" chẳng hạn. Chạp phô là nơi buôn bán đủ các loại hàng hóa. Sau này người Việt thay thế bằng chữ "tạp hóa", "bách hóa" cũng mang nội dung tương tự.

Nghề chạp phô gần như độc quyền nằm trong tay người Quảng Đông tại Việt Nam. Năm 1950 có khoảng 110 cơ sở xuất nhập khẩu về hàng tạp hóa. Người Quảng đã thành lập một nghiệp đoàn chạp phô có tên Liên Hiệp Chủ Nhân Tạp Hóa từ những năm 1940. Đến đầu thời kỳ chính phủ Ngô Đình Diệm, năm 1954-1956, có đến 433 chủ nhân tạp hóa gia nhập nghiệp đoàn. Con số cửa tiệm tạp hóa trong thực tế cao hơn nhiều vì những những chủ tiệm có vốn nhỏ không gia nhập nghiệp đoàn.

Người Quảng Đông cũng rất nổi tiếng về nghề phục vụ ăn uống. Trong những năm đầu chế độ miền Nam, tại Chợ Lớn có 26 nhà hàng lớn gồm có cả phòng tổ chức lễ lạc, phòng ăn lớn và 54 nhà hàng bậc trung (không có phòng tổ chức lễ lạc). Ngoài ra rất nhiều tiểu chủ nhân các quầy thịt quay (heo, vịt, xá xíu, phá lẩu...) buôn bán khắp địa bàn chợ lớn và các thành phố lớn khác. Nổi tiếng về thịt quay là các đường Phùng Hưng, Tản Đà (Chợ Lớn) và khu Chợ Cũ, Nguyễn Công Trứ, Hai Bà Trưng (Sài Gòn).

Người Quảng cũng gần như độc quyền về các nghề buôn bán trái cây. Trong năm 1950, có 30 nhà khai thác và 11 chủ vựa bán sĩ gốc Quảng Đông tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Họ tập trung tại những vựa trái cây lớn như Cầu Muối, Phú Nhuận, Gò Vấp, An Đông, Bình Tây, Phú Giáo, Phú Thọ Hòa... Ngoài ra, họ còn biết chế biến thức ăn khô như làm mứt (21 cơ sở), dầm muối (3 cơ sở sản xuất và 75 cửa tiệm bán hàng). Số người Quảng bán mì nước, chè ngọt rất đông, khoảng 2.000 xe. Những cơ sở chế biến đậu nành đều nằm trong tay người Quảng Đông.

Ngành may mặc cũng có rất nhiều người Quảng tham gia. Họ làm chủ hơn 200 xưởng may, 15 cửa hàng cung cấp hàng thêu, cờ xí và áo quần trong các dịp lẽ lớn. Họ còn làm chủ 13 tiệm may áo, 10 tiệm nhuộm và 85 tiệm giặt ủi.

Ngành xây cất cũng nằm trong tay người Quảng (30 xí nghiệp tại Chợ Lớn). Nhân công và cai thầu Quảng Đông rất lành nghề. Người Phúc Kiến rất khổ sở khi phải cạnh tranh với những cơ Quảng Đông trong nghề khai thác gỗ. Người Quảng làm chủ 30 xí nghiệp khai thác rừng, 62 xí nghiệp gỗ xây cất, 68 xưởng cưa, 51 xưởng mộc, 48 cửa hàng than củi, 20 cơ sở sản xuất guốc, 40 xưởng đóng thùng gỗ và 14 cơ sở đan cần xé, thúng tre mây, rổ rá.

Về dịch vụ giải trí và du lịch, người Quảng sở hữu 54 khách sạn (khoảng 600 giường), 18 rạp ci-nê, 2 rạp hát kịch (tổng cộng hơn 16.000 chỗ ngồi). Nổi tiếng nhất là rạp xi-nê Splendid (Khải Hoàn) tại Chợ Lớn. Ngoài ra họ còn làm chủ 85 thẩm mỹ viện (những phụ nữ Hoa từ 20 đến 40 tuổi thường đi cắt tóc ở tiệm).

Về cơ khí, người Quảng nổi tiếng là không máy gì không sửa được. Họ làm chủ 52 trạm bán xăng, 25 xưởng sửa xe hơi, 3 tiệm sửa xe ba bánh, 8 tiệm sửa xe đạp. Nổi bật nhất là họ mua lại những chiến xa phế thải của quân đội, rồi cải biến động cơ để trang bị cho những xà lang chở hàng trên sông. Họ còn làm chủ 160 tiệm sửa chữa cơ khí đủ loại : đóng thùng xe tải, xe đò, làm nồi niêu, xoong chảo, phụ tùng xe hơi và gia dụng. Người Quảng làm chủ 16 xí nghiệp chuyên chở chuyên nghiệp : dọn nhà cửa, đám tang, xe cưới...

Về nông nghiệp, người Quảng còn chuyên môn trong ngành chăn nuôi vịt (lấy lông, trứng và thịt). Năm 1953, họ còn phát minh ra nghề chăn nuôi chim cút. Họ làm chủ 22 xí nghiệp chăn nuôi gia cầm. Người Việt Nam rất ăn thích trứng vịt lộn do người Quảng cung cấp. Ngoài ra họ còn biết cách khai thác trứng vịt muối và bách thảo để bán trong các tiệm nhậu hay các dịp lễ lạc (Trung thu, Nguyên đán). Việc chăn nuôi thường ở ngoại thành Chợ Lớn, gần những bờ sông hay chốn sình lầy. Người Quảng không chăn nuôi gà vì sự cạnh tranh của người Khmer, nhưng độc quyền chuyên chở gà từ Nam Vang về Sài Gòn. Người Quảng Đông về mặt thủ thuật kinh doanh đã thành công trong vụ "chim cút" những năm 1966-1968 khi làm khan hiếm rồi phá giá mua trứng chim cút.

2. Bang Triều Châu

Người Triều Châu di cư nhiều nhất qua Thái Lan và Campuchia hồi đầu thế kỷ (60% dân số gốc Hoa là người Triều Châu). Là nhóm người Hoa đông thứ hai tại Việt Nam, người Triều Châu chiếm tỷ lệ gần 31% trên toàn quốc và gần 37% tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Người Triều Châu có nguồn gốc địa phương là tỉnh Quảng Châu (Trung Quốc) như người Quảng Đông nhưng ngôn ngữ của họ lại gần giống lối phát âm của vùng Hạ Môn (Amoy) tỉnh Phúc Kiến. Người Triều Châu và Phúc Kiến hiểu nhau rất dễ dàng trong giao dịch. Trong một vài quan hệ gia tộc, người Quảng Châu đôi khi có kỳ thị người Triều khi gả cưới con cái vì bị chê là nghèo (nhất là những người Tiều ở tỉnh nhỏ không có gia tộc định cư ở Sài Gòn - Chợ Lớn).

Đặc điểm của người Triều Châu là kinh doanh trà. Họ làm chủ 42 tiệm bán trà tại Chợ Lớn. Cho đến năm 1949, số trà tiêu thụ tại Việt Nam được nhập thẳng từ Trung Hoa. Khi cộng sản Trung Hoa lên nắm chính quyền, việc thương mại bị gián đoạn, người Tiều phải tìm mua trà ở các đồn điền vùng Cao Nguyên Trung phần (đặc biệt là tại Bảo Lộc và Cầu Đất - Đà Lạt). Danh từ "trà" là cách phát âm đến từ ngôn ngữ Triều Châu.

Người Triều Châu chuyên môn trong ngành chế biến hải sản. Họ làm chủ 25 xí nghiệp chế biến cá (làm mắm, cá khô). Ngư dân Việt Nam đánh cá đem về bán cho các chủ vựa cá người Triều Châu. Tại đồng bằng sông Cửu Long, 60 gia đình Triều Châu độc quyền thu mua và chế biến hải sản. Từ năm 1945, người Triều Châu bắt đầu chú ý tới nghề làm nước mắm, họ làm chủ 12 hãng nước mắm tại Phan Thiết, Phan Rang và Phan Rí và mạng lưới phân phối của họ rất hữu hiệu. Tất cả các chủ hãng sản xuất đều làm chủ những phương tiện chuyên chở nước mắm của riêng họ (ghe tàu và xe tải).

Nghề buôn bán thuốc bắc, người Triều Châu chia sẻ sự độc quyền với người Hẹ. Họ nhập các rễ thuốc ở dạng nguyên trạng sau đó chế biến lại và tung ra thị trường. Những tiệm thuốc bắc lớn tập trung ở đường Khổng Tử Chợ Lớn.

Nghành chế biến đường mía độc quyền nằm trong tay người Tiều cho đến năm 1956, sau đó người Việt thay thế. Hãng đường lớn nhất của người Triều Châu ở Tây Ninh nhưng phải bỏ vì chiến tranh.

Phần lớn phương tiện chuyên chở tại miền Nam đều nằm trong tay các gia đình người Tiều. Họ làm chủ 25 hãng xe khách liên tỉnh và Việt Nam - Cam Bốt trong tổng số 30 hãng xe đò tại Việt Nam trước 1975.

Ưu điểm của người Triều Châu là ngoại thương. Mặc dầu dân số có ít hơn người Quảng nhưng họ có quan hệ mật thiết với những gia đình tài phiệt khác ở Đông Nam Á. Đối với người Tiều, ngoại thương đôi khi là chuyện nội bộ của gia tộc. Đường dây thông tin liên lạc của nhóm người này rất hữu hiệu : những biến động của thị trường đều được loan đi nhanh chóng giữa những người trong bang hội liên quốc.

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gặp rất nhiều khó khăn trong việc kiểm soát nguồn giao lưu tư bản của họ (thường là những chuyển ngân bất hợp pháp) khiến ngoại tệ mạnh ngày càng hiếm trên thị trường. Giá ngoại tệ trên thị trường tự do đều do những nhóm tài phiệt Triều Châu quyết định, giá cả lên xuống tùy theo giá tại các thị trường hối đoái Hồng Kông, Bangkok, Singapore, đôi khi của thị trường New York hay Paris. Người Triều Châu rất lương thiện và biết giữ uy tín trong việc trao đổi ngoại tệ với đệ tam nhân một khi đã chịu giá. Cho đến nay (1991), người Triều Châu vẫn còn độc quyền trên thị trường này, nhưng rất kín đáo. Nạn chảy máu vàng và ngoại tệ cho đến nay vẫn còn tiếp tục, không có giải pháp.

     

3. Bang Phúc Kiến

Về mặt dân số, người Phúc Kiến chỉ tượng trưng gần 8% dân số gốc Hoa tại miền Nam. Vì là một nhóm thiểu số trong cộng đồng người Hoa, người Phúc Kiến thể hiện lòng nhẫn nại, tính kiên quyết, sự linh động và tình đoàn kết trong sinh hoạt. Bang Phúc Kiến nổi tiếng là một bang hòa thuận nhất tại Việt Nam.

Điểm nổi bật của người Phúc Kiến tại miền Nam l^à nắm quyền chủ động trong việc thu mua và phân phối lúa gạo. Họ nắm độc quyền về các hoạt động mua bán vật liệu kim loại tạp nham và kim khí. Đa số những thợ uốn tóc lành nghề là người Phúc Kiến.

Nhóm Phúc Kiến của tỉnh Hạ Môn tạo thành một trục kinh tế tài chánh vững chắc tại vùng Chợ Lớn. Người Phúc Kiến của tỉnh Phúc Châu chỉ tập trung tại Chợ Lớn.

Đối với dân cư bản địa, người Phúc Kiến biết cách giao thiệp để lấy lòng như thiết lập quan hệ gia đình với người địa phương (cưới gả con cái với người Việt). Do những liên hệ gia tộc đó, người Phúc Kiến nắm rõ tình hình sản xuất lúa gạo của từng hộ canh tác tại miền Nam, rồi từ đó tìm cách cung ứng những nhu cầu của các gia đình nông dân. Nông dân sản xuất lúa gạo tại đồng bằng sông Cửu Long chỉ bán lúa gạo cho những thương gia Phúc Kiến. Tín dụng của người Phúc Kiến dành cho nông dân canh tác rất dễ dàng, ngược lại nông dân cũng không được quyền bán lúa cho người khác. Nhiều ngân hàng tín dụng nông nghiệp tư được thành lập với đa số vốn của tài phiệt Phúc Kiến. Thời gian đen tối của những chủ vựa gạo Phúc kiến là trong những năm 1965-1968 khi Việt Nam cho nhập gạo Mỹ vào thị trường nội địa, nhiều thương gia đã sạt nghiệp. Năm 1964, một thương gia Phúc Kiền tên Tạ Vinh bị xử tử vì đầu cơ gạo, Tạ Vinh cho người mua hết lượng gạo của tư nhân và chính phủ (Quân Tiếp Vụ) rồi nâng giá. Bù lại, thương gia Phúc Kiến có một thị trường lúa gạo mới là cung cấp gạo cho bộ đội miền Bắc qua trung gian những tay kinh tài cộng sản đang hoạt động ở miền Nam trong những năm 1960-1975.

Trong hai cuộc chiến tranh vừa qua tại Việt Nam, thương gia kinh doanh sắt thép vụn gốc Phúc Kiến độc quyền thu mua các phương tiện chiến tranh phế thải, sau đó tân trang rồi bán lại trên thị trường hoặc xuất khẩu sang Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore. Những người mua bán ve chai, kim khí vụn, đồ phế thải trên khắp đường phố miền Nam đa số là người Phúc Kiến. Những cơ sở mua bán kim loại đều tập trung tại Sài Gòn - Chợ Lớn (Chợ Thiết quận 11, quận 6 và quận 8), Phú Giáo. Nhóm Phúc Kiến sở hữu 188 tiệm sắt thép, 57 tiệm đồng thau, 50 cửa hàng kim loại tạp nham, 121 tiệm bán đồ phụ tùng bằng kim loại, 20 tiệm bán vật dụng kim khí tân trang và rất nhiều tiệm mua bán đồ nhôm. Hiện nay, vì bị chính quyền cộng sản kiểm soát gắt gao, thương gia Phúc Kiến tập trung sản xuất hàng kim loại kiểu gia đình, tập trung đông nhất là tại quận 6, 8 và 11 Sài Gòn : phụ tùng xe đạp, xe gắn máy, máy nổ...

Vì vấn đề cạnh tranh nghề nghiệp, khuyết điểm của nhóm tài phiệt Phúc Kiến là sẵn sàng bỏ tiền mua chuộc hay hối lộ những viên chức chính quyền để được trúng thầu những lô hàng quân sự phế thải. Thương gia Nhật Bản cũng không thể cạnh tranh với người Phúc Kiến vì không biết đút lót và không có người tại chỗ nên đành phải mua lại của họ những lô hàng sắt thép vụn. Chiến tranh càng dữ dội, thương gia Phúc Kiến càng trúng mối vì nguồn hàng dồi dào và có thể mua chuộc nhân viên chính phủ, sau đó ép giá thầu để mua với giá hạ.

4. Bang Hạ Phương (Hẹ)

Người Hạ Phương trước kia ở miền Bắc Trung Hoa (Thượng Phương), di dân vào Quảng Tây, Phúc Kiến rồi sau đó định cư tại Quảng Châu ở thế kỷ thứ 13. Không có lằn ranh địa dư để phân biệt người Quảng Đông và Hạ Phương. Ngôn ngữ Hạ Phương là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất tại Quảng Châu sau tiếng Quảng Đông. Người Hạ Phương ở Quảng Châu đôi khi phải sử dụng tiếng Quảng Đông để trao đổi, do đó họ thông thạo cả hai ngôn ngữ.

Tại Việt Nam, người Hạ Phương tượng trưng khoảng 10% dân số gốc Hoa. Do phải tranh đấu hằng ngày để tồn tại, người Hạ Phương có tinh thần vượt khó và lòng độ lượng rất cao. Tính nhẫn nại của họ cao hơn những nhóm khác.

Người Hạ Phương độc quyền về nghề thuốc bắc và cung cấp bánh mì. Trong hai nghề này không có nhóm gốc Hoa hay người Việt nào cạnh tranh nổi với họ. Sự hiện diện của họ có tại khắp nơi, từ những làng xã xa xôi hẻo lánh đến chốn phồn hoa đô hội. Riêng tại Sóc Trăng vì sự tập trung dân cư gốc Triều Châu quá đông, các cửa hiệu thuốc bắc của người Hạ Phương ít hơn người Triều Châu. Nhưng sự tập trung chính của họ vẫn là Sài Gòn - Chợ Lớn. Tại đây, họ nhập cảng từ Hồng Kông, Đài Loan, Nam Hàn, đôi khi nhập gián tiếp từ Trung Quốc những loại cây lá thuốc, sau đó chế biến, đóng gói, cân đo lại rồi bán lại cho những hiệu thuốc bắc bán lẻ.

Nghiệp đoàn xuất nhập cảng Y Dược (thuốc bắc) qui tụ 81 hội viên, trong đó chỉ có vài người Quảng Đông, tuyệt đại đa số là người Hạ Phương. Trên khắp cõi miền Nam có khoảng 250 tiệm thuốc bắc tại các thành phố lớn, số tiệm ở các làng xã xa xôi thì vô số.

Nghiệp đoàn sản xuất bánh mì được thành lập từ năm 1938, qui tụ 26 thành viên. Năm 1953 tăng lên 43 nhưng sau năm 1955 còn lại 29, vì khách hàng chính là lực lượng viễn chinh Pháp đã rút hết về nước, khách hàng còn lại là người Việt Nam.

Cũng trong lãnh vực lúa mì, người Hạ Phương làm chủ rất nhiều lò xây bột mì. Từ năm 1926, nghiệp đoàn xay bột mì qui tụ được 13 chủ lò ; năm 1965, có 18 lò đang hoạt động. Người Hạ Phương chiếm đa số trong nghề làm sợi mì : 7 cơ sở sản xuất mì khô, 5 cơ sở mì tươi. Về phân phối, họ làm chủ 40 cửa hàng bán sỉ, 21 tiệm bán mì tươi và 7 tiệm sản xuất bột đậu nành.

Ngoài ra, người Hạ Phương còn chuyên môn về nghề làm da thuộc. Những tiệm thuốc bắc tại các làng xã còn có nhiệm vụ thu mua da thú vật do nông dân hay thợ săn Việt Nam, sau đó mang về Sài Gòn bán lại cho những người Hạ Phương khác làm nghề thuộc da ở Phú Thọ Hòa. Nghiệp đoàn da thuộc qui tụ 35 trong tổng số 48 tiệm thuộc da. Khách hàng của nghề này là các cơ sở sản xuất vật dụng bằng da. Nghiệp đoàn sản xuất giầy da năm 1948 có 105 xí nghiệp. Nghề sản xuất vật liệu bằng da (va-li, cặp-táp, túi xách...) qui tụ 38 nhà sản xuất nhưng không có nghiệp đoàn. Tất cả những cửa hiệu bán đồ da trên đường Đồng Khánh và quanh đó đều nằm trong tay người Hạ Phương. Những người Việt Nam từ miền Bắc di cư cũng làm nghề da thuộc nhưng không có sự cạnh tranh lẫn nhau vì cả hai đầu có thị trường riêng. Nhưng về tầm vóc và qui mô hoạt động, người Việt Nam không thể sánh bằng.

Vì không thể cạnh tranh với người Quảng Đông và Triều Châu trong dịch vụ thương mại, người Hạ Phương chuyên chú vào lãnh vực tiểu thủ công nghiệp và kỹ nghệ, đặc biệt là trong ngành dệt vải. Chỉ riêng về ngành dệt vải bông (gòn) có 580 cơ sở của người Hạ Phương sử dụng từ 1 đến 50 nhân công. Được biết đến nhiều nhất là hãng dệt tân tiến Vinatexco, hãng này bị hư hại sau vụ Mậu Thân 1968 (quân cộng sản vào ẩn nấp bị máy bay Mỹ ném bom). Năm 1970, hãng này được tân trang lại với tư bản Đài Loan.

Khi nghề da không còn ăn khách, người Hạ Phương chuyển sang nghề sản xuất vật dụng bằng nhựa dẻo PVC. Ngành này phát triển rất nhanh chóng vì thị trường Việt Nam đang thiếu. Cái bung của nghề này đánh dấu một giai đoạn kỹ nghệ hóa trong công nghiệp nhẹ. Tất cả vật dụng bằng da đều được "nhựa hóa" : văn phòng phẩm, dụng cụ học đường, đồ gia dụng, trang trí, đồ chơi trẻ em... Sự may mắn của những "kỹ nghệ gia" Hạ Phương là không cần bỏ vốn nhiều và có tỷ lệ thu lời nhanh.

Người Hạ Phương còn chuyên môn trong nghề làm đồ gốm (chén bát, tô chậu bằng sành). Đa số cơ sở ở vùng ngoại ô Sài Gòn và Đà Lạt (Trại Mát và Cầu Đất).

Sau cùng là nghề chữa răng. Nghề này do những người Thượng Phương đảm nhi_ệm, họ đa số là nha công hơn là nha sĩ vì không có bằng cấp đại học. Người Thượng Phương hành nghề chữa răng theo những cách thức cổ truyền như bắt sâu răng, nhét thuốc trừ sâu, làm răng vàng, v.v... Nha sĩ có cấp bằng đại học đa số là người Quảng Đông và Việt Nam. Tuy nhiên người Thượng Phương làm chủ trên 3.000 phòng chữa răng trên toàn cõi Đông Nam Á, trong đó có khoảng 1.000 phòng tại Đông Dương. Riêng tại Chợ Lớn họ có khoảng 100 phòng khám và chữa răng.

5. Bang Hải Nàm

Người Hải Nàm gồm những dân cư trên đảo Hải Nam và bán đảo Lôi Châu. Người Hải Nàm có tỷ lệ dân số thấp nhất (trên 3%) trong cộng đồng gốc Hoa tại Việt Nam.

Do có một dân số ít, người Hải Nàm tự chuyên môn hóa trong ngành ăn uống phục vụ các thức ăn tây phương để tránh cạnh tranh với người Quảng Đông về các món ăn Trung Hoa. Không có cạnh tranh. Tại Sài Gòn khoảng 12 nhà hàng kiểu này, được biết đến nhiều nhất là nhà hàng Chí Tài, Tháp Ngà và Sing Sing. Ngoài ra còn có hơn 50 nhà hàng nhỏ phục vụ kiểu tây phương (có dao, muỗng, nỉa). Tại các thành phố khác những nhà hàng kiểu này đều do người Hải Nàm làm chủ.

Hoạt động nổi bật nhất của họ là làm chủ những quán nước ở các góc đường phố chính tại các thành phố : quán cóc, tiệm cà-phê, quày bán rượu v.v... Đó là nơi tụ họp của những thương gia, công nhân viên, những người lao động, sinh viên học sinh đến giải khát và ăn uống. Tại Sài Gòn - Chợ Lớn có 375 quán nước loại này. Ở các tỉnh nơi nào có chừng mươi căn nhà là có một tiệm nước như vậy. Một số người Quảng Đông cũng làm chủ một vài tiệm nước kiểu này nhưng quan trọng bằng người Hải Nàm.

Nghiệp đoàn quán nước năm 1926 đã qui tụ hơn 200 chủ quán. Ngoài ra còn phải kể thêm khoảng 450 quán ăn vây quanh chỉ để phục vụ khách hàng của các quán nước. Đại để sinh hoạt của họ như thế này. Khách hàng đến quán giải khát của người Hải Nàm muốn ăn mì và chè, phô kyï (bồi bàn) quán nước kêu một chủ xe mì (có thể là người Quảng hay Tiều) gần đó mang tô mì, sau đó kêu một chủ xe bán chè cũng gần đó mang chè v.v... Khi tính tiền, phổ kyï hoặc tính chung các thức ăn và giải khát, hoặc kêu từng chủ xe tới tính tiền với khách hàng. Chủ tiệm nước chỉ bán nước giải khát. Cuối tháng hay đầu tháng, các chủ xe thức ăn chung quanh phải trả tiền thuê chỗ cho chủ quán nước. Các chủ xe bán thức ăn không cần phải trang bị bàn ghế hay phòng ăn.

Đôi khi, nếu địa thế làm ăn thuận lợi, các chủ quán Hải Nàm thuê người Quảng Đông làm bếp rồi phục vụ trực tiếp khách hàng, những chủ xe bán hàng ăn chung quanh cung cấp những món ăn khác như chè, đồ nhậu, hột vịt lộn, bột chiên, giò chéo quảy, bánh bao, bánh ngọt, v.v... Những nơi nổi tiếng nhất là tại các trung tâm thành phố, đường Tổng Đốc Phương, khu La Cai, Tản Đà, Chợ Cũ, ngã Sáu, ngã Bảy, An Đông, Nguyễn Thiện Thuật, Tân Định, Đa Kao, Bà Chiểu, v.v... Khách hàng đến những nơi này ăn uống không phải lo lắng về vấn đề an ninh cá nhân hay xe cộ. Tất cả đều được chú ý, lo lắng chu đáo.

Bên cạnh sinh hoạt vừa nói trên, người Hải Nàm còn làm chủ 79 phòng trà, 59 quán rượu bia, 86 quày giải khát, 68 tiệm bánh ngọt. Nghiệp đoàn nhập cảng rượu tây qui tụ 70 chủ xí nghiệp Hải Nàm. Họ còn làm chủ 65 lò sản xuất rượu đế, 35 tiệm bán kem và nước mía (tiệm nước mía Viễn Đông, đường Pasteur rất nổi tiếng). Ngoài ra họ còn làm chủ 10 hãng nước đá, 7 hãng làm si-rô nước trái cây và 2 xí nghiệp lớn sản xuất nước giải khát có hơi (đa số vốn của hãng SEGI là của người Hải Nàm).

Trong những năm 1960-1970, người Hải Nàm tập trung vào việc nhập cảng phim ảnh ngoại quốc (của Tây Phương, Hồng Kông và Đài Loan) rồi cho phiên âm ra tiếng Việt. Nhưng các rạp hát vẫn thuộc quyền sở hữu của người Quảng Đông. Người Hải Nàm có nhiều phần hùng trong các hãng làm phim và hãng chuyển âm phim truyện ngoại quốc ra Việt ngữ.

B. Những tổ chức chuyên biệt : Hội

Hội là một tập hợp của nhiều tổ chức, đoàn thể hữu diện hay vô diện. Hội đối với người Hoa có nghĩa là gia đình, công ty, hội họp, liên hiệp, nhóm, đảng, hội đoàn, nghiệp đoàn, hội ái hữu, ủy ban v.v... Nói chung những tập hợp không có qui mô chính trị đều gọi là Hội.

Những hội đầu tiên tại Trung Hoa là những "hội kín" hoạt động chính trị, về sau xuất hiện nhiều loại hội khác như hội văn học, võ đường. Khi nhà Minh bị đánh bại, nhiều "hội kín" tái xuất hiện, biết đến nhiều nhất là Thiên Địa hội và Hồng Môn hội. Hai hội này hoạt động rất tích cực tại hải ngoại (Thái Lan, Malaysia, Indonésia). Càng về sau, các tổ chức "hội kín" chuyển dần sang hoạt động tương tế, văn học, nghề nghiệp...

Tại Việt Nam sinh hoạt của các "hội kín" không phát triển mạnh lắm vì bị Pháp kềm chế, nhưng hoạt động của các hội phi chính trị tư nhân lại được tự do phát triển. Một dân cư gốc Hoa ở Chợ Lớn thường gia nhập trung bình từ hai hay nhiều hội. Có hai loại hội chính : hội tình cảm và hội quyền lợi.

1. Hội tình cảm

Hội tình cảm là hội của những người cùng mang một họ, cùng có quan hệ tình cảm gần (cha mẹ, anh em, họ hàng).

Nhóm gia tộc

Mục đích của những nhóm gia tộc là để tổ chức những nghi thức gia đình : cúng tế, giổ, sinh nhật... Nhóm gia tộc có thể qui tụ nhiều người khác bang nhưng cùng một họ. Những người trong gia tộc có nhiệm vụ tương thân, tương trợ lẫn nhau và chỉ vẽ cho nhau cách thức sống và làm ăn. Gia tộc càng lớn mạnh, gia hữu chia lây tiếng thơm, do đó tất cả mọi người đều phải tỏ ra xứng đáng với họ mình mang. Gia tộc gốc Hoa có tiếng ở Việt Nam là nhóm Yi Tch'ouan qui tụ các người họ Trần, Quách, Mạch, Lâm, Lưu, Vương và Trịnh.

Hội ái hữu

Hội ái hữu đầu tiên (tiền thân của bang) của người Hoa tại Việt Nam xuất hiện từ thế kỷ 17 của người Phúc Kiến mang tên Sơn Trang, sau có hội Lý Châu và Đồng Hương. Những hội này tổ chức có mục đích tín ngưỡng : lập đền thờ, đình miếu... Khi được kết nạp thành hội viên, đương sự có quyền làm quen hay giao thiệp với những người trong hội một cách chân tình.

Ngày nay tại Chợ Lớn có khoảng 30 loại hội ái hữu và rất nhiều hội phụ thuộc hoạt động không công khai. Hội viên giúp đỡ lẫn nhau những thủ tục về hành chánh (khai thuế, xin môn bài, sổ sách kế toán...), cho vay nhẹ lãi (chơi hụi). Thành viên trong hội thường trung thành đến mua hàng của người trong hội và báo cáo cho nhau lý lịch chi tiết của những người mà hội viên khác dự định giao dịch. Những bí mật nội bộ không được tiết lộ ra ngoài, nhất là cho chính quyền Việt Nam. Những tranh chấp nội bộ thường do hội viên của hội giải quyết, nếu không xong thì chuyển lên bang, nặng hơn nữa lên tòa Tổng lãnh sự của chính quyền Trung Hoa, ngày nay thì có khó hơn trước. Ít có trường hợp do công lý Việt Nam xét xử và nếu có thì hội viên đứng đơn không bao giờ có cơ hội làm ăn chung với họ nữa. Tuy nhiên cũng đã xảy ra nhiều vụ tranh chấp tài sản và cơ sở kinh doanh đã xảy ra dưới chế độ cộng sản trong những năm gần đây giữa người Hoa trong nước với Hoa kiều đầu tư lậu thuế.

2. Hội quyền lợi

Hội quyền lợi là hội của những làm chung một ngành nghề vì lợi ích nghề nghiệp có nhu cầu bảo vệ lẫn nhau. Có hai loại hội quyền lợi : tổng liên hội (Phòng Thương Mại Chợ Lớn) và nghiệp đoàn (Tổng liên đoàn).

Phòng Thương Mại Chợ Lớn

Phòng Thương Mại Chợ Lớn ngày nay đã bị chính quyền cộng sản dẹp bỏ, những người quản lý nếu còn ở lại hoặc đã bị bắt hoặc mai danh ẩn tích. Gần đây một hình thức khác của Phòng Thương Mại Chợ Lớn lấy tên là Phòng Thương Mại Quận 5, nhân sự quản lý là người Việt Nam và người Hoa làm cố vấn. Phòng này có nhiệm vụ giữ liên lạc với các thương gia người Hoa và tổ chức những cuộc triển lãm công nghệ.

Phòng Thương Mại Chợ Lớn được thành lập từ năm 1904 mang tên Tổng hội Thương gia Hoa kiều Nam Kỳ, ông Triệu Tiểu Minh là chủ tịch. Năm 1910 đổi thành Thương Hội. Phòng có nhiệm vụ ấn định giá môn bài, cấp giấy phép xuất nhập cảng, thâu thuế chợ (hoa chi)...

Phòng Thương Mại qui tụ gần 4.000 cơ sở kinh doanh có môn bài của 20 tỉnh miền Nam, gồm năm ngành nghề : nhập cảng, xuất cảng, thương nghiệp nội địa, kỹ nghệ và thủ công nghệ.

Những cơ sở này tạo thành những liên hiệp nghề nghiệp, tổng cộng có 92 liên hiệp nghiệp đoàn chủ nhân trong đó 58 về thương mại, 34 về kỹ nghệ và tiểu thủ công nghệ. Ngoài ra cũng phải kể thêm 20 liên hiệp nghiệp đoàn chủ nhân (40%) không trực thuộc Phòng Thương Mại, đa số là những cơ sở kinh doanh nhỏ. Mỗi liên hiệp phải kết hợp ít nhất 7 chủ nhân xí nghiệp. Hiện nay một vài hình thức sinh hoạt tương tự đã xuất hiện nhưng với những danh từ khác như Hội khoa học kỹ thuật Quận 5 qui tụ những kỹ thuật gia gốc Hoa trong các ngành nghề mà chính quyền Sài Gòn đang quản lý.

Những liên hiệp nghề nghiệp lâu đời nhất là liên hiệp chủ nhân xí nghiệp xay bột (1926), quán nước (1924), thuốc bắc (1931). Những liên hiệp nghề nghiệp đông hội viên nhất : dệt vải (453), thợ may (200), bán thịt (108), đóng giầy (105). Có 8 liên hiệp nhiều tài chánh nhất : Ngân Hàng Trung Hoa, Ngân Hàng Truyền Thông, Ngân Hàng Đông Á, những công ty bảo hiểm Ky Yng, Trung Hoa, Hòa Bình, Hải Ngoại và Chủ Nhân nghề in.

Tổng liên đoàn

Tổng liên đoàn là tập hợp của những nghiệp đoàn công nhân thuộc nhiều nghành nghề khác nhau. Có tất cả 31 nghiệp đoàn công nhân. Tổng liên đoàn người Hoa Chợ Lớn, được thành lập năm 1924, qui tụ 20 nghiệp đoàn, sau chỉ còn 14. Cũng có nhiều nghiệp đoàn độc lập được thành lập nhưng không gia nhập tổng liên đoàn. Tổng liên đoàn cho thành lập một trường công miễn phí cho học sinh nghèo : Trung Chánh (1946). Mục đích của các nghiệp đoàn là bảo vệ quyền lợi của những hội viên đối với chủ nhân.

Ngày nay nhiều công đoàn do đảng đoàn cộng sản quản lý trong các cơ sở sản xuất lớn nhưng không có hoạt động hay sinh hoạt giống như trước kia. Những công đoàn hoạt động chính trị, ủng hộ chính quyền cộng sản nhiều hơn là bảo vệ quyền lợi của công nhân. Không có công nhân gốc Hoa nào giữ địa vị cao trong các công đoàn. Những nghiệp đoàn tư nhân đều bị giải tán.

             Nghiệp đoàn người Hoa năm 1965

STT Tổng liên đoàn (14) STT Nghiệp đoàn độc lập (17)
01 Nhân viên khách sạn 01 Thợ in
02 Bồi bàn quán ăn và quán nước 02 Thợ làm nón
03 Thợ đóng thuyền 03 Thợ đan rổ rá, giỏ cần xé
04 Thợ mổ heo bò 04 Hớt, uốn tóc
05 Nhân viên văn phòng 05 Mua bán ve chai, sắt vụn
06 Nhân viên bán báo 06 Thợ làm chất liệu giấy
07 Khuân vác, bốc dở 07 Nhân viên bán hàng
08 Thợ giầy 08 Thợ làm bàn chải đánh răng
09 Thợ tống táng 09 Thợ điện
10 Thợ may 10 Thợ chế biến thuốc bắc
11 Thợ làm đồ gốm 11 Thợ làm đồ tre
12 Thợ hồ 12 Thợ làm nhang
13 Thợ máy 13 Nhân viên hãng nước ngọt
14 Thợ giặt ủi 14 Thợ mộc
15 Nhân viên hàng hải     
16 Thợ làm xường nhà     
17 Thợ điện lạnh

Nguồn : Tsai Maw Kuey : Les Chinois au Sud Viet Nam, Paris 1968, tr.131.

Quỹ bù trừ

     

Quỹ bù trừ được thành lập năm 1949 nhằm trả cho hội viên khoảng trợ cấp phụ sản, tai nạn nghề nghiệp, tử tuất và cho mỗi trẻ em dưới 16 tuổi. Từ năm 1960, tất cả những công nhân gốc Hoa có đóng nguyệt liễm được công ty China Insurance Company Ltd. Saigon trả. Quỹ này sau đó gia tăng nghiệp vụ trong các lãnh vực hưu liễm, bảo hiểm nhân thọ, thất nghiệp, chống lao và nhà trẻ miễn phí.

Ngày nay Quỹ Bù Trừ cũng bị giải thể, thay vào đó là Quỹ Xã Hội có mục đích nâng đỡ đời sống những cán bộ, đảng viên cộng sản hơn công nhân gốc Hoa trong các xí nghiệp quốc doanh.

III. Sinh hoạt kinh tế

Ông John Kerry King, một quản trị viên ngân hàng Bank of China tại Sài Gòn, trong quyển South-east Asia Perspective (1959), nhận định rằng : "các quốc gia vùng Đông Nam Á không những thiếu cán bộ kỹ thuật, chuyên viên quản trị mà còn thiếu hẳn một giai cấp doanh nhân có khả năng điều động nguồn tư bản vào kỹ nghệ, thương mại và nông nghiệp, những ngành mà bất cứ quốc gia mới có độc lập nào cũng cần. Đa số các quốc gia này giao phó hẳn việc kinh doanh cho những cộng đồng sắc tộc thiểu số đảm nhận như người Hoa, người Anh, người Pháp hay người Ấn. Riêng tại Việt Nam không ai phủ nhận vai trò quan trọng của người Hoa trong sinh hoạt kinh tế".

A. Một vài số liệu về kinh doanh (1951-1956)

1. Môn bài cấp năm 1951 tại miền Nam cho đủ mọi quốc tịch

Môn bài là khoảng tiền mà doanh nhân khi thành lập xí nghiệp phải đóng cho Phòng Thuế Trực Thu. Tất cả những xí nghiệp hợp pháp phải đóng thuế môn bài hàng năm. Trị giá môn bài dựa vào số vốn kê khai lúc mới thành lập hay sau khi trình đối chiếu biểu (bilan hay balance) vào cuối năm.

Thuế môn bài năm 1951 có hai phần : quyền hiện diện và quyền khuếch trương. Quyền hiện diện dựa vào số vốn kê khai và số lượng nhân công sử dụng. Quyền khuếch trương dựa vào trị giá của cơ sở (gần mặt đường, gần trung tâm thành phố, mặt tiền, lầu trệt, số m2 sử dụng...). Xí nghiệp càng lớn vốn, sử dụng nhân công nhiều, hoạt động ở những đầu mối kinh tế thuận lợi phải chịu thuế môn bài cao.

Trị giá môn bài

(tiền Đông Dương- Piastres)

Việt Nam Trung Hoa Tây phương Quốc tịch khác

1. Cơ sở lớn

 từ 3.001 đến +12.000 đồng

18 55 44 6

2. Cơ sở trung bình

 từ 501 đến 3.000 đồng

1.586 2.546 636 94

3. Cơ sở nhỏ

 từ - 50 đến 500 đồng

45.377 19.241 810 185
Tổng cộng 46.981 21.842 1.590 285
Tỷ lệ 66,4% 30,9% 03,3% 0,4%

Nguồn : Niên giám thống kê Nam Kỳ, 1952.

Ghi chú : Trong tổng số 21.842 cơ sở người Hoa là của những người thường trú "hợp pháp".

Trong thực tế, người Hoa nắm giữ tới 35.936 xí nghiệp thay vì 21.842, vì 30% xí nghiệp được gọi là Việt Nam thật ra vốn liếng và quyền quyết định là của người Hoa. Như vậy số xí nghiệp nằm trong tay người Hoa và tầm vóc quan trọng năm 1951 như sau :

Người Hoa 39.936 cơ sở 50,9%
Người Việt 32.887 cơ sở 46,4%
Người Tây Phương 1.590 cơ sở 02,3%
Người quốc tịch khác 285 cơ sở 00,4%

                                                                              

Qua tương quan mới này, người Hoa chiếm đa số các cơ sở làm ăn hợp pháp. Về qui mô kinh doanh, sức mạnh tài chánh của họ càng quan trọng hơn nữa. Tại Chợ Lớn, trong hai năm 1955-1956, 70% cơ sở kinh doanh là của người Hoa . Trên địa bàn toàn quốc, có thể nói 52% xí nghiệp thương mại, kỹ nghệ và tiểu thủ công nằm trong ta người Hoa.

2 - Môn bài được cấp tại miền Nam năm 1951

Trị giá môn bài

(tiền Đông Dương- Piastres)

Việt Nam Hoa kiều
Các tỉnh Sài Gòn Các tỉnh Sài Gòn

1. Cơ sở lớn

 từ 3.001 đến +12.000 đồng

10 8 22 33
Tỷ lệ (cơ sở Việt/Hoa) 24%  76%

2. Cơ sở trung bình

 từ 501 đến 3.000 đồng

515 1.071 389 2.058
Tỷ lệ (cơ sở Việt/Hoa) 39% 61%

3 Cơ sở nhỏ

 từ - 50 đến 500 đồng

34.116 11.261 11.763 7.478
Tỷ lệ (cơ sở Việt/Hoa) 70% 30%
Tổng cộng (Sài Gòn và các tỉnh) 34.641 12.340 12.174 9.560
Tổng cộng 46.981 21.634
Tỷ lệ 68% 32%

Nguồn : Niên giám thống kê Nam Kỳ, 1952.

Bảng thống kê này cho thấy người Việt Nam, mặc dầu chiếm đa số trong số các môn bài được cấp (68%), chỉ tập trung vào lãnh vực kinh doanh nhỏ (70%) có tính gia đình. Những cơ sở kinh doanh lớn chỉ bằng 1/4 của người Hoa, cơ sở trung bình 1/3. Những cơ sở lớn của người Việt Nam, đa số vốn là của những người có thân nhân là người Pháp hay Hoa (30%). Hoạt động chính là xuất nhập cảng.

Những cơ sở lớn của người Hoa phần lớn tập trung tại Sài Gòn Chợ Lớn và các thành phố lớn. Hoạt động chính là xuất nhập cảng, chuyên chở và xay lúa.

Doanh nhân Pháp tại Việt Nam tập trung đầu tư vào các đồn điền cao su, trà và cà phê, khai thác hầm mỏ, rừng, đánh cá, kỹ nghệ và các xí nghiệp thương mại qui mô lớn. Khác với người Pháp, người gốc Hoa tập trung đầu tư vào lãnh vực thương mại nhỏ và dịch vụ. Nhật Bản đầu tư vào kỹ nghệ chế biến gỗ, khai thác hải sản và cơ khí nhỏ. Người Anh đầu tư vào dịch vụ bảo hiểm và ngân hàng. Chỉ sau này (1960) người gốc Hoa mới gia nhập vào ngành công nghiệp nhẹ với những bước đầu còn nhút nhát nhưng vững chắc và ào ạt sau đó.

3. Môn bài cấp phát tại Sài Gòn Chợ Lớn (1951/1956)

Năm Trung Hoa Tỷ lệ Nhóm khác Tỷ lệ Tổng cộng
1951 9.569 40,6% 13.990 59,4% 23.559
1955 11.084 34,5% 20.973 66,5% 32.057
1956 (*) 13.887 37,0% 23.653 63,0% 37.540

Nguồn : Nha Thuế vụ Sài Gòn.

(*) Số liệu năm 1956 chấm dứt vào ngày 24-10/1956.

Bảng này không nói lên tầm vóc kinh doanh của những cơ sở người Hoa, nhưng cho thấy hoạt động của người Hoa vẫn gia tăng sau ngày ký Hiệp định Genève 1954, trung bình ở mức 35-40%. Sự cạnh tranh đã bắt đầu rõ ràng giữa những doanh nhân khác người Hoa.

Trong cuộc chạy đua này doanh nhân Việt nam vẫn giữ mức độ khiêm nhường về vốn mặc dù số lượng có tăng lên. Ngược sau 1954, doanh nhân ngoại quốc đầu tư nhiều, nhất là có thêm vốn của Hoa Kỳ và Nhật Bản, ngoài sự hiện diện thường xuyên của Pháp và Anh.

4. Tầm quan trọng của các xí nghiệp Trung Hoa (1955/1956)

Năm Xí nghiệp tại Sài Gòn Xí nghiệp của người Hoa Tỷ lệ (%) Xí nghiệp tại Chợ Lớn Xí nghiệp của người Hoa Tỷ lệ (%)
1955 17.698 2.672 15,10 14.359 8.412 58,60
1956 18.923 3.245 17,15 18.617 10.642 57,15

           

Qua bảng này, địa bàn kinh doanh của người Hoa tại Chợ Lớn rất quan trọng. Những con số này chỉ là số thống kê, trong thực tế rất nhiều xí nghiệp của người Việt tại Chợ Lớn có vốn do người Hoa xuất ra. Số xí nghiệp thực thụ của người Việt, không kể trọng lượng về vốn, là 30%.

5- Môn bài (MB) được cấp trước ngày ban hành luật quốc tịch

Những ngành nghề trong diện bị cấm hoạt động

Danh sách 11 nghề sẽ bị cấm Việt Nam Trung Hoa Châu Âu Khác Tổng cộng
MB % MB % MB % MB % MB
01. Bán thịt 52 8 575 90 1 - 8 1 636
02. Bách hóa 908 34 1.698 63 15 - 54 2 2.675
03. Chạp phô 165 13 1.160 85 15 1 18 1 1.358
04. Than củi 155 60 109 40 2 - - - 266
05. Bán xăng 28 56 19 38 2 4 1 2 50
06. Cầm đồ 51 74 20 26 - - - - 71
07. Vải sợi 217 35 331 48 7 1 111 16 666
08. Sắt thép 16 5 333 95 1 - - - 350
09. Lúa gạo 8 21 31 77 1 2 - - 40
10. Ngủ cốc 112 55 94 45 - - - - 206
11. Môi giới 24 15 109 66 25 5 5 3 163
Tổng cộng 1.736 4.479 69 197 6.481
Tỷ lệ 26,8% 69,1% 1,0% 3,1% 100%

MB : Số môn bài được cấp trước ngày bị cấm              

% Tầm quan trọng của mỗi nghề                               

Nguồn : Tsai Maw Kuey, Les Chinois au Sud Vietnam, Paris 1968, tr.204).

Giải thích : Nguyễn Văn Huy đối chiếu tỷ lệ (số liệu của Thái Mậu Quế)

Qua số liệu trên, trước ngày ban hành luật quốc tịch, người Hoa vẫn chiếm đa số trong các hoạt động kinh doanh. Số môn bài được cấp gấp ba lần so với tất cả những thương gia khác cộng lại. Điều này chứng tỏ người Hoa vẫn tin tưởng, sau khi chế độ thực dân đã cáo chung, chỗ đứng trong sinh hoạt kinh tế của họ không suy thoái.

B. Vốn đầu tư

Những ngành kinh doanh chính của người gốc Hoa tại Việt Nam về hàng chế biến là thực phẩm, dệt, rượu, sà bông, đèn sáp, da thuộc, thủy tinh, gạch ngói, gỗ, than củi, làm giấy, đồ chơi cho trẻ em và các đồ gia dụng bằng kim loại ; về hàng không chế biến chủ yếu là buôn sỉ bán lẻ, chuyên chở, tài chánh và dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, chữa bệnh, ấn loát, sửa chữa xe hơi...). Doanh nhân gốc Hoa chiếm lĩnh khu vực kinh tế tư nhân về số lượng cũng như về số vốn.

Những năm đầu của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, tổng số cơ sở kinh doanh của người Hoa là 17.288 công ty, xí nghiệp lớn nhỏ, tập trung đông nhất tại Sài Gòn - Chợ Lớn (9.086), kế là miền Tây (6.662) và chót hết là các tỉnh miền Trung (1.540).

1. Hàng chế biến

Đầu tư chiếm tỷ lệ vốn cao nhất vào hàng chế biến là ngành xay lúa : có 653 xí nghiệp được cấp môn bài hành nghề chính thức. Sài Gòn - Chợ Lớn có khoảng 75 nhà máy xay lúa có số vốn đầu tư lên đến vài triệu đồng (1 USD năm 1956 bằng 30 đồng Việt Nam), 72 trong số đó nằm trong tay người Hoa và 3 nhà máy xay của Pháp. Lớn nhất là hãng Vạn Thái Thành, mỗi ngày có thể xay hơn 1.000 tấn lúa ra gạo. Kế đến là những xí nghiệp chế biến thực phẩm như bún, mì, đậu nành, đậu xanh (60 xí nghiệp), xì dầu, nước mắm (13 cơ sở sản xuất), dầu ăn (10 lò), đóng cá hộp (27 cơ sở), đóng hộp trái cây (30 cơ sở)... Dầu ăn chủ yếu trích từ dừa trái, đậu phọng. Người Hoa đã thành công trong việc thỏa mãn vị giác của người Việt và chiếm lĩnh toàn bộ thị trường này. Nhiều người Hoa khác đầu tư vào sản xuất đường mía, bánh kẹo... và không có đối thủ.

Dệt là ngành quan trọng thứ hai về số vốn đầu tư, có 625 xí nghiệp do người Hoa làm chủ. Nghề dệt gồm ba loại : dệt máy (32 hội viên thành lập từ 1947), dệt tay ở ngoại ô (453 hội viên từ 1948) và dệt tay ở Chợ Lớn (100 hội viên thành lập từ 1948). Người Hạ Phương chiếm lĩnh nghề dệt thủ công, đa số xuất thân ở Fachan và Chuen Tơ, tỉnh Quảng Đông. Số cơ sở dệt còn lại là những cơ sở nhỏ, có tính gia đình được trang bị máy móc thô sơ, trừ một vài xí nghiệp lớn tại Bình Tây, Hóc Môn và Thủ Đức. Những nhà máy dệt Vimytex, Vinatexco, Vinatefilco, Donafilco... được trang bị máy móc, khuôn cửi tự động, hàng hóa sản xuất đạt tiêu chuẩn quốc tế về phẩm chất cũng như mỹ thuật. Ngoài ra còn phải kể đến 372 tiệm bán vải lớn (95 chuyên nhập cảng hàng ngoại hóa, 35 tiệm bán sỉ, 100 tiệm vừa sỉ vừa lẻ, 90 tiệm bán lẻ và 52 tiệm chuyên bán hàng tơ lụa) đa số do người Phúc Kiến nắm giữ và tập trung quanh khu vực Bưu Điện Chợ Lớn.

[Ghi chú : Riêng về nghề dệt, lúc ban đầu doanh nhân Việt Nam đi trước và phát triển mạnh hơn người Hoa nhờ được sự giúp đỡ của chính quyền và biết áp dụng khoa học kỹ thuật tân tiến.

Kỹ sư Lâm Tô Bông là kỹ sư Việt (gốc Hoa) đầu tiên về ngành dệt, ông đã đứng lắp ráp lại các máy móc mua lại từ miền Bắc sau 1954 cho Sicovina Khánh Hội, nhà máy kéo sợi bông vải đầu tiên tại miền Nam của người Việt Nam. Ngày khánh thành (1959) tổng thống Ngô Đình Diệm có đến khen.

Tiến sĩ Phạm Văn Hai là người Việt Nam đầu tiên đậu bằng kỹ sư về hóa học công nghiệp, trong đó có ngành nhuộm, đã đứng ra lắp ráp máy móc ngành hồ sợi, nhuộm do Pháp tặng, cho Sicovina An Nhơn. Sicovina An Nhơn là nhà máy đầu tiên nhuộm vải theo phương pháp khoa học.

Kỹ sư Lâm Tô Bông và tiến sĩ Phạm Văn Hai đã phải đứng ra huấn luyện chuyên viên Việt về ngành tơ sợi, cơ khí và điện vì Việt Nam lúc đó rất thiếu. Chỉ hai năm sau (1961), các loại vải sản xuất tại các xưởng Sicovina có phẩm chất tốt tương đương với vải của Nhật Bản và Đài Loan.

Riêng về loại vải màu đen, Sicovina tỏ ra hơn hẳn (không bị phai màu khi ngâm trong nước). Sicovina còn tổ chức bán chịu cho các nhà tiểu thủ công nghệ tại Gò Vấp, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, nhất là những thợ đến từ Đà Nẵng, để khuyến khích sản xuất. Ngả Tư Bảy Hiền lúc đó là một bãi sình lầy, nhưng nhờ làm ăn khấm khá, gia công cho Sicovina An Nhơn, khu sình lầy đã biến thành một khu vực sầm uất. Đến năm 1975, có hơn 5.000 máy dệt với hơn 10.000 tư nhân gia công cho Sicovina.

Kỹ sư Lâm Tô Bông và tiến sĩ Phạm Văn Hai hợp tác thành lập thêm nhà máy Sicovina Phong Phú, từ mua đất, đến thiết kế, lắp ráp máy móc, huấn luyện nhân viên, sản xuất thử v.v... Tiến sĩ Phạm Văn Hai là giám đốc Sicovina An Nhơn (Gò Vấp), Sicovina Phong Phú (Thủ Đức), Liên Phương (Lysyntex), cố vấn kỹ thuật cho Tái Thành, Hạnh Phước, huấn luyện hàng ngàn chuyên viên về ngành tơ sợi. Về sau có thêm nhà máy Sicovina Hòa Thọ (Đà Nẵng) do ông Hà Dương Bưu làm giám đốc. Ông Đinh Xáng làm tổng giám đốc các nhà máy Sicovina (1959), với tổng số vốn là 16 triệu đồng (50% tư nhân, 50% chính phủ), về sau (1974) số vốn được tăng lên đến 1,5 tỷ (chính phủ 96%, tư nhân 4%) để cạnh tranh với các cơ sở của người gốc Hoa, ông Nguyễn Văn Khoa thay ông Đinh Xáng làm tổng giám đốc.

Các hãng dệt của người gốc Hoa chỉ xuất hiện sau 1963 : Vimytex, Vinatefilco, Vinatexco, Donafitex, nhưng nhờ có nhiều vốn liếng và có chuyên viên Đài Loan đến giúp, cơ sở của họ phát triển mạnh hơn. Những hãng này chỉ dệt chứ không chịu gia công nhuộm vải cho tư nhân, Việt lẫn Hoa. Phần nhuộm vải gia công vẫn do Sicovina đảm trách. Người Việt tuy sản xuất vải nhiều hơn người Hoa nhưng chỉ phân phối được 30% tổng số hàng hóa sản xuất ra, số còn lại phải nhờ đến những thương gia gốc Hoa giúp tiêu thụ].

Những ngành chế biến khác đứng hàng thứ ba về vốn đầu tư là ngành may mặc : áo quần (250 cơ sở), thêu (15), nón (13), mùng mền (17), bao bì (51), đan lưới (36), quân trang (các hãng may gốc Hoa gần như độc quyền gia công cho quân đội), nhuộm (22) và giặt ủi (85). Ngành da thuộc chủ yếu là kỹ nghệ giầy dép (hãng Bata, Bala), túi xách, va-li, cặp-táp. Mức sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu trong nước. Năm 1955 Việt Nam nhập hơn 3,6 triệu đồng (hơn 1 triệu USD) cho nhu cầu giầy dép. Có 48 xí nghiệp thuộc da, gần như trọn bộ nằm trong tay người gốc Hoa (một số ít người Bắc di cư làm nghề thuộc da nhưng không quan trọng), họ thầu mua hết các loại da trong nước từ da heo, da bò đến da cọp, rắn, cá sấu... để thuộc lại và xuất khẩu sang Hồng Kông, Singapore hay Đài Loan.

Về sản xuất hàng công nghệ, có 180 xí nghiệp người Hoa tham gia chế biến các hàng gia dụng nhỏ và đồ phụ tùng động cơ máy nổ, máy xay lúa, xe đạp, xe hơi, tương đối đáp ứng tạm đủ nhu cầu trong nước. Ngoài ra người Hoa còn tập trung sản xuất các đồ dùng bằng nhôm và đồng cung ứng nhu cầu thị trường nội địa như cán ép tôn (67xí nghiệp), đúc (20), đinh vít (16), làm bản kẻm (10), chữ chì anémoine (7), thau chậu, thùng đựng xăng, dầu, nước (12).

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích việc sản xuất những mặt hàng gia dụng cần thiết : thứ nhất là để giải quyết nhu cầu cấp bách trong nước, thứ hai là để tiết kiệm ngoại tệ mà Việt Nam rất thiếu (chính phủ nhập cảng nhôm miếng qua trung gian các hãng Denis Frères, Descours ? Cabaud, bán ra 40 đồng/1 kg, người Phúc Kiến mua lại, chế biến thành hàng hóa và bán lại với giá trung bình khoảng 105 đồng/1 kg như nồi niêu, xoong chảo, bếp lò, đồ chơi trẻ em...). Tại Chợ Lớn trước 1975 có 8 hãng sản xuất chính : Tân Định Thành, Phiêu Ký, Hiệp Ký, Song Hùng..., mỗi tiệm sản xuất trung bình 30.000 vật dụng/tháng.

Ngoài ra họ còn phụ trách việc khai thác gỗ (30 xưởng), cưa (70), mộc (28), đóng ghe (26), làm guốc (20), thùng gỗ (40) và phân phối chất đốt chủ yếu là than củi (109). Về mỹ nghệ gỗ có 3 xí nghiệp chạm trỗ trên gỗ, có vài xí nghiệp cung cấp các vật dụng bằng gỗ nhưng không quan trọng bằng người Việt Nam (nhất là đồng bào di cư tại Hố Nai, Biên Hòa). Nghề làm tăm xỉa răng (hãng Nam Hoa) cũng rất phát đạt. Người Hoa mua thân cây bạch dương (Tây Ninh) mang về Chợ Lớn sẻ ra làm tăm. Nghề làm tăm tre cũng thịnh hành nhưng không được chuộng bằng tăm bạch dương. Nghề làm chân nhang cũng rất phát triển vì người Việt và Hoa rất sùng đạo. Người ta dùng thân cây tre chuốt nhỏ rồi trộn bột hương trầm.

Các xí nghiệp gốc Hoa khai thác và cung cấp gạch ngói cho nhu cầu trong nước. Họ cũng đảm trách việc sản xuất các mặt hàng bằng thạch cao (chén bát, ly tách, gạch tráng men) và thủy tinh (chai lọ) có chất lượng thấp. Có 35 xí nghiệp sản xuất thủy tinh tại Phú Thọ Hòa (Chợ Lớn) : Vĩnh Minh, Minh Ký, Minh Tân, Mỹ Hoa, Đại Đồng, Cự Ký, Hòa Hiệp, Hùng Sanh, Di Xương, Thành Ký, Đồng Minh, Anh Ký, Bình Ký, Minh Lợi, Việt Hoa ...) và tại Bình Thới (Nam Hưng, Quảng Hưng...). Có 32 hãng chuyên sản xuất gương soi và vẽ trên kiếng. Năm 1960, Công ty Thủy Tinh Việt Nam được thành lập, cung ứng đủ cho nhu cầu về thủy tinh trong nước. Người gốc Hoa không có đa số cổ phần trong công ty này và bị doanh nhân Pháp (hãng BGI) làm áp lực nên không được cung cấp đầy đủ nhu cầu về chai để sản xuất nước ngọt. Hãng Phương Toàn, nhãn hiệu Con Nai, phải đóng cửa.

Người Hoa còn biết chế biến giấy tái sinh (do những người mua ve chai, giấy phế thải bán lại) nhưng lượng sản xuất không quan trọng. Kỹ nghệ giấy của người Hoa cung cấp các loại giấy "tiền, hàng mã" cúng cô hồn. Có 55 xí nghiệp người Hoa tại Sài Gòn - Chợ Lớn sản xuất giấy (hàng mã, giấy bồi, giấy bao gói) và có 137 xí nghiệp hành nghề ấn loát, trong đó có 37 nhà in được trang bị khá hiện đại, có nơi đã sử dụng trên 100 công nhân. Người Hoa cũng làm chủ 32 tiệm sách Hoa ngữ, sau 1956 còn 18 tiệm. Tuy nhiên phẩm chất của giấy và ấn phẩm không thể so với những công ty Hoa kiều khác tại Hồng Kông hay Singapore. Năm 1961, người Hoa nhờ viện trợ Hoa Kỳ đã cùng với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thành lập nhà máy Cogido tại khu kỹ nghệ Biên Hòa đã cung ứng phần nào nhu cầu giấy cho 1/3 thị trường nội địa (9.000 tấn/năm).

Về thuốc lá, hóa chất và y dược sự tham gia của các công ty gốc Hoa chưa đáng kể, đa số vẫn còn nằm trong tay người Pháp. Có khoảng 50 xí nghiệp sản xuất vật liệu bằng cao su, đa số đều ở Chợ Lớn : Chánh Hưng, Hồng Hưng, Bảo Tịnh, Kim Ký. Họ sản xuất đế giầy, dép, guốc, bong bóng, da vợt và banh bóng bàn, đồ chơi trẻ em. Người Hoa làm chủ thị trường sản xuất kem đánh răng (Perlon, Hynos), sà bông, bông gòn. Hãng sà bông Trương Văn Bền là một xí nghiệp lâu đời nhất, gia đình họ Trương là người Minh Hương. Từ 1957, người Hoa làm chủ thị trường bột giặt và sà bông thơm (hãng Viso của Trương Văn Khôi). Những cơ sở sản xuất lớn đều bị quốc hữu hóa sau 1975, tất cả vẫn tiếp tục sản xuất với những nguyên liệu còn tồn trữ cho đết hết năm 1976. Rất nhiều xí nghiệp gia đình xuất hiện nhất là quanh các khu vực quận 5, 6, 8 Sài Gòn tiếp tục sản xuất những mặt hàng tiêu dùng hằng ngày cho nhu cầu nội địa.

2. Hàng không chế biến

Về hàng không chế biến, buôn sỉ bán lẻ là dịch vụ chính của người gốc Hoa. Năm 1955, có 2.123 cơ sở được cấp môn bài hoạt động. Đa số là các tiệm tạp hóa hay chạp phô, bán đủ các mặt hàng tiêu dùng từ bánh kẹo đến lương thực, thực phẩm, chất đốt, đồ dùng bằng điện... Kế là những tiệm thuốc bắc cung cấp những loại thuốc thông dụng cho người Hoa và Việt (trong giai đoạn này ngành y tế Việt Nam chưa phát triển, nghề bốc thuốc bắc rất được chuộng).

Người Hoa nắm độc quyền về phân phối lúa gạo (nguồn sản xuất chính yếu của miền Nam) và các loại thực phẩm khô khác như mì bún, các loại đậu, thịt tươi (lò heo Chánh Hưng Sài Gòn và các lò heo khác tại các tỉnh), thịt khô (lạp xưởng, vịt khô...), cá khô, mắm muối. Họ chuyên chở và phân phối hàng hóa cho các tỉnh lị, thành phố nhỏ và làng xã xa xôi tại đồng bằng Cửu Long và Cao nguyên Trung phần. Thương gia buôn sỉ bán lẻ vừa là chủ nhân vừa là công nhân, đa số là những cơ sở kinh tế gia đình.

Trong ngành bán sỉ, có 350 cơ sở được gọi là lớn (có hoạt động xuất nhập cảng) và trên 10 cơ sở thực sự lớn (có lối làm việc thực sự khoa học kiểu tây phương). Mỗi cơ sở xuất nhập cảng có số vốn ít nhất là 350.000 đồng (hơn 100.000 USD). Đây là ngành mang lại nhiều lợi tức nhất vì Việt Nam thiếu hàng tiêu dùng cao cấp mà thị trường nội địa chưa thỏa mãn nổi, nhất là để thỏa mãn nhu cầu của những thành phần có lợi tức cao (viên chức ngoại quốc, công chức cao cấp và thành phần có tiền).

Người Phúc Kiến gần như nắm độc quyền về việc xuất cảng sắt vụn và đồng (40.000 tấn đồng được xuất cảng qua Nhật năm 1955). Ngành nhập cảng vải sợi gặp nhiều khó khăn vì sự cạnh tranh của Ấn kiều. Người Triều Châu độc quyền xuất cảng đậu nành, đậu xanh, da bò, lông vịt và cá khô. Thị trường xuất cảng là Hồng Kông và Singapore.

Về dịch vụ chuyên chở, có 165 công ty do người gốc Hoa đảm nhiệm : 46 hãng vận tải, 43 hãng xe đò, 40 hãng thủy vận, 20 hãng vận chuyển bằng xà lúp, 16 hãng xe ngựa hay xe ba gác. Họ sử dụng các phương tiện chuyên chở như ghe thuyền trên sông rạch (lúa gạo, đậu, heo, bò), xe hàng và xe lửa trên các tuyến đường sắt Sài Gòn - Đà Lạt và Sài Gòn - Nha Trang (các loại hàng hóa khác). Hệ thống xa lộ được dùng để chuyên chở hàng xuất khẩu. Người Hoa gần như độc quyền chuyên chở hàng hóa trên sông rạch và làm chủ nhiều đội thương thuyền lớn, ngoài ra họ cũng sở hữu một số tàu ven duyên có trọng tải 500 tấn cho nhu cầu nội địa. Những tàu buôn của Hồng Kông và Singapore đảm trách việc vận chuyển viễn dương.

Về dịch vụ tài chánh, bảo hiểm, người gốc Hoa đảm nhận vai trò chính nhưng trong một vài lãnh vực người Ấn, Anh và Pháp tỏ ra hơn hẳn. Tư bản gốc Hoa sở hữu đa số cổ phần của các ngân hàng tư tại Việt Nam (Nam Việt Ngân Hàng, Ngân Hàng Công Thương, một số Hợp Tác Xã Nông Nghiệp, v.v...).

Người Hoa còn nổi tiếng với hệ thống cho vay kín giữa họ với nhau, rất hữu hiệu, qua trung gian các bang hội (không thể làm thống kê những số tiền cho vay kiểu này). Theo truyền thống những gia đình thành công có trách nhiệm giúp vốn cho bà con trong gia tộc làm ăn cho tới khi nào khá giả mới hoàn vốn và người này có nhiệm vụ giúp đỡ lại những người khác trong gia đình. Tư bản của họ chỉ chạy quanh trong vòng đai gia đình và thân thuộc.

Ngoài ra còn phải kể tới những người Hoa (đa số gốc Quảng Đông và Hải Nàm) hành nghề phục vụ ăn uống như nhà hàng, phòng trà, quán cóc, bán thịt tươi và thịt quay. Số vốn tối thiểu để mở một cửa tiệm ít nhất là 10.000 đồng (năm 1956). Quan trọng không kém là dịch vụ khách sạn, họ được Hoa kiều hải ngoại giúp vốn để tân trang các khách sạn cũ đạt tiêu chuẩn của Hồng Kông và Singapore. Thường thì các khách sạn lớn đều có nhà hàng riêng và được rất đông người Hoa lui tới để tổ chức tiệc tùng lễ lạc như đám cưới, sinh nhật, thôi nôi, hội họp... Số xe bán thức ăn rong trên các đường phố rất nhiều, không có số thống kê rõ ràng, đa số là cơ sở cá nhân hay gia đình.

Tại những nơi đông cư dân Hoa lưu trú, nơi đó thường có những rạp chiếu bóng và trường học nói tiếng Hoa. Giáo viên dạy tiếng Hoa thường là người Đài Loan hay những giáo viên đã từng du học tại Đài Loan, chỉ một số rất ít tốt nghiệp ở các trường đại học sư phạm Việt Nam. Nhiều cơ sở nhập cảng phim truyện sau đó phiên âm ra Việt ngữ do người Hải Nàm thực hiện.

Nghề làm răng có rất đông người Hoa tham dự, có trên 100 phòng mạch, đa số là những nha công gốc Hạ Phương. Những y sĩ hành nghề bốc thuốc bắc chỉ hoạt động tại các thành phố lớn, nguồn dược liệu của họ đến từ Đài Loan hay lục địa. Người Quảng Đông rất thiện nghệ trong ngành uốn tóc và giặt ủi.

Đặc tính sinh hoạt của những thương lái gốc Hoa (đa số là người Phúc Kiến) ở đồng bằng sông Cửu Long là có khuynh hướng mua lúa non bằng cách ứng tiền cho nông dân vay trước khi hay trong khi làm mùa. Nông dân gốc Triều Châu, Khmer và Việt Nam nhận tiền vay luôn bị lệ thuộc vào những lái buôn gốc Hoa và cách thức làm ăn này đã có từ lâu đời ở miền Tây. Thương lái Triều Châu làm chủ các phương tiện giao thông trên sông, trên bộ và trên biển để chuyên chở hàng hóa cho khắp các tỉnh thành của miền Nam.

Nông dân gốc Triều Châu chuyên chú vào việc canh tác rau xanh, củ cải trắng, hành tỏi, các loại đậu và chăn nuôi gia cầm. Một số khác trồng các loại cây công nghiệp như mía, trà và cây ăn trái. Chỉ một số rất ít gia đình còn tiếp tục trồng lúa nước. Những nông dân này có thể vừa làm nghề nông, vừa buôn bán. Người Triều Châu rất thiện nghệ trong việc chế biến thức ăn khô, sản xuất nước mắm, các loại mắm và các loại cá khô. Vai trò này càng ngày càng bị người Quảng Đông lấn lướt và vượt qua. Người Quảng Đông chuyên nuôi vịt để lấy thịt và trứng.

Đặc tính nổi bật trong sinh hoạt kinh tế của người Hoa là chữ Tín. Mất tín nhiệm trong cộng đồng người Hoa coi như mất hết cơ hội làm ăn chung với họ. Lối đặt tín nhiệm của họ rất giản dị, chỉ cần quen biết hay qua giới thiệu của người thân là họ đã tin cậy và khi vay mượn không cần phải ký giao kèo hay khế ước gì cả, lời nói đủ làm bằng chứng. Nếu thất tín hay trở mặt, người cho vay sẽ bố cáo trong khắp cộng đồng Hoa kiều về sự thất tín đó và sẽ không còn cơ hội làm ăn chung với họ, trầm trọng hơn nữa người thất tín có thể bị mất mạng hoặc bị đồng hương làm tán gia bại sản hay đi tù.

Những ân oán giang hồ xảy ra thường xuyên trong giới buôn bán bất hợp pháp tại miền Nam, trong đó không nhiều thì ít đều có những tay anh chị gốc Hoa dính dáng vào, thường do các hội kín thi hành án lệnh. Có trường hợp nhiều tay anh chị sau khi thanh toán xong nạn nhân trốn sang Hồng Kông, một thời gian sau đó về lại Việt Nam dưới một tên khác. Trước đây cũng đã có nhiều đường dây đưa thanh niên gốc Hoa sang Hồng Kông trốn quân dịch, và sau khi có giấy tờ quốc tịch Hồng Kông, họ trở về Việt Nam sinh sống bình thường.

Thêm vào đó, một số thương gia gốc Hoa muốn đi tắt để chiếm lĩnh thị trường hàng ngoại hóa bằng cách nhái theo hay làm hàng giả mạo. Nhiều hàng hóa mặc dầu có in nhãn ngoại hóa nhưng thực chất là sản xuất tại Chợ Lớn. Hàng giả tuy có phẩm chất xấu hơn hàng ngoại hóa nhưng cũng tạm chấp nhận được vì người tiêu dùng mua với giá rẻ hơn. Nhiều vụ làm hàng giả đã bị phát hiện như làm rượu, phụ tùng, vỏ xe hơi, vải vóc, áo quần may sẳn, v.v...

IV. Cơ sở văn hóa và xã hội

A. Văn hóa

Tại những nơi lập nghiệp, công việc đầu tiên của người Hoa là xây dựng chùa rồi mới tới chợ, bệnh viện, trường học và nghĩa trang. Người Hoa thích viết chữ Hán trên các bảng hiệu hay cơ sở của họ. Cơ sở càng lớn, chữ viết càng to và nhiều màu sắc với hình long phượng uốn mình trên các trụ cột.

1. Những nơi thờ phượng

Người Hoa rất sùng đạo. Tại những nơi đôn dân cư gốc Hoa, các bang hội thành lập nhiều địa điểm thờ tự công cộng. Ngoài ra tại mỗi thành phố, làng xã khác, tùy khả năng của mỗi bang, người ta thành lập rất nhiều chùa chiềng và đình miếu.

Chùa là cách gọi bình dân, thực ra đây là những ngôi đền, miếu, thờ thần linh. Thông thường chùa Hoa được xây dựng theo hình chữ Quốc hoặc chữ Khẩu (Hán tự) hay còn gọi là Trái Ấu. Trong chùa thường thờ Phật, Ngọc Hoàng, Thiên Hậu, Quan Thế êm, Quan êm Tống Tử, Quan Vân Trường, Thánh Mẫu, Tử Đế, Hiến Đế v.v...

Ngoài ra còn vô số bàn thờ, miếu am dọc các đường phố, nhất là những nơi có xảy ra tai nạn hay án mạng chết người. Tại mỗi nhà riêng, người Hoa thường thiết lập những bàn thờ lộ thiêng cúng các vị thần như thần giữ cửa, thần giữ đất, trong nhà thờ thần tài, thần Phúc Lộc Thọ, Tam Thánh (Quan Vân Trường, Trương Phi, Lưu Bị), Khổng Tử, Tào Tháo v.v...

Những chùa xưa cổ nhất của người Hoa là tại phố cổ Hội An. Chùa Phúc Kiến do Mẫn Thương hội quán, người Phúc Kiến, xây năm 1687. Chùa Ngũ Bang, do Dương Thương hội quán, 5 bang người Hoa cùng bỏ vốn xây dựng năm 1740. Chùa Quảng Triệu, do Quảng Đông hội quán, người Quảng Đông xây năm 1885. Chùa Hải Nàm do Quỳnh Phủ hội quán người Hải Nàm xây dựng năm 1881. Chùa Triều Châu do Triều Châu hội quán xây từ 1845 đến 1885 mới xong. Ngoài ra người Hoa còn xây thêm những chùa chung như chùa thờ Bắc Đế, Trấn Võ...

Riêng tại Sài Gòn - Chợ Lớn có cả thảy 24 nơi thờ phượng công cộng do các bang người Hoa bỏ tiền ra xây. Đa số vẫn còn hoạt động cho tới nay :

 

STT Tên các nơi thờ phượng Đoàn thể xây cất
01 Đền Thất Bang (bảy bang) Tất cả người Hoa
02 Chùa Thiên Hậu Quảng Đông
03 Chùa Bà Hải Nàm
04 Chfa Tịnh Phúc Phúc Kiến
05 Chùa Tam Đỉnh hay Chùa Ông Phúc Kiến, Phúc Châu
06 Chùa Quang Vân Phúc Kiến Chợ Lớn
07 Chùa Thánh Mẫu hộ phòng Quảng Đông Sài Gòn
08 Miếu Thiên Hậu Chợ Quán Quảng Đông Sài Gòn
09 Chùa Bà Sài Gòn Quảng Đông Sài Gòn
10 Vũ Miếu Thất Bang Tất cả người Hoa
11 Dình Hòa Chính Triều Châu
12 Chùa Bảo Sơn Phúc Kiến Sài Gòn - Chợ Lớn
13 Chùa Nhập Chính Phúc Kiến Sài Gòn - Chợ Lớn
14 Chùa Quang Sáng Phúc Kiến Sài Gòn - Chợ Lớn
15 Chùa Đạt Thịnh Phúc Kiến Sài Gòn - Chợ Lớn
16 Chùa Quan Âm tống tử Phúc Kiến Chợ Lớn
17 Đình Nhị Bang Phúc Kiến Chợ Lớn
18 Đền Ngọc Hoàng Đa Kao Tất cả người Hoa
19 Chùa Phượng Sơn Hội thợ sắt
20 Chùa Trúc Lâm Phật tử gốc Hoa
21 Chùa Báo Ân Tín đồ Lão giáo gốc Hoa
22 Nhà thờ Cha Tam Tín đồ Công giáo gốc Hoa
23 Nhà thờ Phúc Âm Tín đồ Tin lành gốc Hoa
24 Nhà thờ Tịnh Tâm Tín đồ Tin lanh gốc Hoa

Nguồn : Tsai Maw Kuey : Les Chinois au Sud Viet Nam, tr. 219.

                                           

Những chùa miếu cổ xưa nhất của người Hoa tại Sài gòn-Chợ Lớn gồm có : Chùa Giác Lâm do Lý Thoại Long, người Minh Hương xây năm 1744 tại Phú Thọ. Chùa Gia Thạnh do người Minh Hương xây năm 1789 tại Chợ Lớn. Chùa Giác Viên (1820), Quan Võ Miếu thờ Quan Công do người Minh Hương dựng năm 1820 tại Sài Gòn. Chùa Bà Thiên Hậu do người Phúc Kiến xây năm 1830 tại Chợ Lớn. Tam Hội Miếu thờ bà Chúa Thai Sanh được lập năm 1839. Quỳnh Phủ hội quán do người Hải Nàm xây năm 1875 tại Chợ Lớn. Ngoài ra còn rất nhiều chùa, miếu khác mang tên hội quán như Nhị Phủ hội quán (1835), Bửu Sơn hội quán, Nghĩa Nhuận hội quán (1872), Chùa Giác Hải (1887), Phước An hội quán (1900), Ôn Lăng hội quán (1901) v.v...

     

2. Trường học

Chương trình giáo dục

Cho đến đầu thế kỷ 20, tất cả cơ sở giáo dục cho trẻ em người Hoa đều do tư nhân đảm nhiệm. Chương trình học tập theo kiểu Trung Hoa : đọc và viết những chiết tự Trung Hoa (từ 4 đến 5.000 mẫu tự khác nhau), học Tứ thư, Ngũ kinh, Đại học, những lời của Khổng Tử v.v... Học sinh được học làm toán trên các bảng gỗ có khoen, học phép xã giao và nhất là giữ gìn những truyền thống của người Hoa.

Từ năm 1907, một người Phúc Kiến giàu có, ông Thái Mã Vân, bỏ tiền xây trường tư thục Minh Trang, sau đổi thành trường Phúc Kiến do bang Phúc Kiến quản lý. Năm 1910, bang Quảng Đông xây trường Quảng Đông do ông Lý Phát Đông tài trợ. Những trường của các bang khác được xây cất sau năm 1911, dạy theo chương trình tân học dựa vào các tư tưởng cách mạng của Tôn Dật Tiên (Tam Dân chủ nghĩa). Chươưng trình giáo dục chỉ đến cấp I (tiểu học), những học sinh nào muốn tiếp tục học cao hơn phải du học sang Trung Hoa. Năm 1931 có hai trường trung học cấp II (đệ nhất cấp) được thành lập : Kinan và Trùng Khánh.

Khi quân đội Nhật Bản tấn công Trung Hoa năm 1939, việc đưa học sinh đi du học bị đình chỉ. Người Hoa tại Việt Nam cất thêm nhiều trường trung học mới vì số học sinh tốt nghiệp tiểu học ngày càng tăng : trường Trí Dũng, Lĩnh Nam, Hoàng Hà. Đến năm 1948, chỉ riêng tại Sài Gòn - Chợ Lớn đã có đến 97 trường dạy tiếng Trung Hoa. Ngôn ngữ chính là tiếng "phổ thông" (tiếng Bắc Kinh). Sinh ngữ chính là tiếng Pháp, kế là tiếng Anh. Một trường song ngữ Pháp - Hoa (Viễn Đông), ba trường song ngữ Anh - Hoa (Minh Tuệ, Trung Anh và William Lin). Giáo viên đa số đến từ Trung Hoa, sau 1949 từ Đài Loan. Sách vở giáo dục cũng nhập từ hai nơi đó.

Vì học phí quá cao, chỉ những gia đình giàu có mới cho con em đi học, tỷ lệ học sinh trung bình từ 6 đến 7% trên tổng số người Hoa. Chỉ có trường Trung Chánh dạy miễn phí cho học sinh gia đình lao động. Năm 1953 có 34.932 học sinh, năm 1954 tăng lên 54.000 và năm 1955 là 62.372 học sinh. Đến năm 1956, tổng thống Ngô Đình Diệm chấm dứt các trường dạy thuần tiếng Trung Hoa vì các trẻ em tốt nghiệp không đọc và nói được tiếng Việt.

Tên trường học

Mỗi bang đặt tên trường theo địa danh của bang (Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Hải Nam, Côn Minh...) hay những tên khác do bang trưởng chọn như Sanh Huy, Nam Hải, Pháp Vân... Có trường lấy tên của những nhà cách mạng như Trung Chân (tên hiệu của Tôn Dật Tiên) hay Trung Chánh (tên hiệu của Tưởng Giới Thạch). Về sau có trường đặt tên theo ý nghĩa tôn giáo : Thánh Tâm, Sainte Thérèse, Bác Ái, Thánh Lễ. Phòng Thương Mại Chợ Lớn và các hội ái hữu thành lập nhiều lớp đêm cho những người không có thì giờ học ngày (giới lao động và chuyên viên). Một thư viện Trung Hoa do ông Trần Đôn Thanh, trưởng Phòng Thương Mại, thành lập tại Chợ Lớn năm 1953. Chi phí điều hành các trường học và cơ sở văn hóa do chính bang chúng đóng góp.

Phần lớn các trường đặt tên theo ý mà ban giám hiệu muốn đạt tới : Trí Dũng, Hướng Minh, Cầu Trí, Cương Trí, hoặc theo một lý tưởng : Hưng Hoa, Chân Trung, Trí Tường. Cũng có trường mang tên có tính chính trị : Tâm Dân, Đại Đồng, Song Thập, Tân Sanh.

B. Bệnh viện

Từ năm 1906 đến 1945, tất cả những bệnh viện của người Hoa chữa trị theo y thuật cổ truyền (thuốc bắc), sau đệ nhị thế chiến mới được trang bị dụng cụ y khoa hiện đại và chữa trị theo lối của người Tây Phương. Từ năm 1950, nguồn cung cấp dược liệu cổ truyền bị gián đoạn vì chính quyền thuộc địa Pháp không có bang giao với chính quyền mới tại Hoa lục, tất cả hoạt động chữa trị bằng thuốc bắc chuyển sang thuốc tây. Tuy nhiên vẫn có nhiều bệnh viện duy trì cả hai lối chữa trị. Sau 1975, lối chữa trị cổ truyền (còn được gọi là y dược dân tộc) rất được thịnh hành vì không còn nguồn nhập thuốc tây.

Tên bệnh viện Bang xây dựng Khả năng (giường) Phụ sản (giường)
Bệnh viện số 1 (1907) Quảng Đông 366 52
Bệnh viện số 2 (1916) Triều Châu 220 30
Bệnh viện số 3 (1909) Phúc Kiến 120 12
Bệnh viện số 4 (1920) Hạ Phương 60 --
Bệnh viện số 5 (1926) Hải Nàm 60 --
Bệnh viện Sùng Chính (1971) Tất cả người Hoa 200 --

Nguồn : Tsai Maw Kuey : Les Chinois au Sud Viet Nam, tr. 106.

1. Bệnh viện Quảng Đông

Vào cuối năm 1906, bệnh dịch hạch hoành hành trong quần chúng sống tại Sài Gòn - Chợ Lớn làm thiệt mạng rất nhiều người. Ông Hoắc Thiệu Hùng, bang trưởng bang Quảng Đông đứng ra thành lập một trạm y tế tại đường Cây Mai (Quang Trung ngày nay) để cách ly những người mắc bệnh dịch. Năm sau (1907), bang Quảng Đông quyết định xây một bệnh viện miễn phí để chữa cho người nghèo. Chi phí xây cất bệnh viện do hai bang Quảng Đông Sài Gòn (40%) và Chợ Lớn (60%) đài thọ. Lúc ban đầu là những y sĩ Hồng Kông sang chữa bệnh, về sau những sinh viên y khoa Quảng Đông tốt nghiệp đứng ra nhận lãnh trách nhiệm. Năm 1919, trận dịch đậu mùa làm thiệt mạng rất nhiều người khác. Bang chúng Quảng Đông tổ chức một phong trào qui mô gom góp tiền của để tân trang và nới rộng thêm khả năng của bệnh viện. Năm 1921, bệnh viện Quảng Đông có thêm 6 dãy nh^à mới. Năm 1928, những người quản lý mua lại những nhà chung quanh (đường Đồng Khánh) và xây thêm 25 nhà khác. Từ đó bệnh viện Quảng Đông không ngừng được canh tân và trở thành một bệnh viện tư tân tiến nhất. Người Quảng Đông rất hãnh diện được góp tiền của để duy trì sự điều hành của bệnh viện này.

2. Bệnh viện Triều Châu

Theo gương bang Quảng Đông, người Triều Châu kêu gọi đồng hương quyên góp xây dựng bệnh viện của bang mình năm 1916. Ban đầu bệnh viện có tên Lục Giáp, năm 1928 đổi thành Triều Châu. Từ 1937 đến 1940, bệnh viện bị gián đoạn hoạt động vì không có người điều hành. Năm 1952, ông Ma Kouo-suan, bang trưởng bang Triều Châu đứng quản lý và bệnh viện hoạt động mạnh trở lại.

3. Bệnh viện Phúc Kiến

Bệnh viện Phúc Kiến (trên đường Quang Trung) được xây dựng trong năm 1906, sau bệnh viện Quảng Đông. Địa điểm của bệnh viện này đẹp nhất trong tất cả bệnh viện đã có trước tại Đông Dương : có vườn cây, hồ nước nhân tạo, ao thả sen... Bệnh viện có 8 dãy nhà gạch và chuyên trị những bệnh nhân tâm thần và mắc bệnh về phổi.

4. Bệnh viện Hạ Phương

Bệnh viện này được biết đến nhiều dưới tên bệnh viện Sùng Chính (đường Trần Hưng Đạo). Được xây cất từ năm 1920 và hoàn tất năm 1926 do hai người Hạ Phương giàu có đứng ra tài trợ. Ông Từ Tri Quyền tài trợ tiền xây cất, ông Dư Nam Hi cung cấp đất (trên Kinh Đôi). Sự điều hành của bệnh viện này hữu hiệu ngang hàng với bệnh viện Phúc Kiến.

5. Bệnh viện Hải Nàm

Bệnh viện này lúc ban đầu ở Bà Chiểu nhưng vì thiếu thốn tiện nghi, bang chúng Hải Nàm quyết định kêu gọi sự ủng hộ tài chánh trong suốt những năm 1942/1946. Bệnh viện được khánh thành vào cuối năm 1926 (đường Hùng Vương), nhưng sự điều hành rất chật vật vì nhóm Hải Nàm quá ít và không mấy giàu có.

6. Bệnh viện Sùng Chính

Bệnh viện này là niềm hành diện chung của tất cả người Hoa sinh sống tại Việt Nam. Nó là biểu tượng của sự đoàn kết của cộng đồng gốc Hoa. Thêm vào đó, lối chữa trị theo tây học đã làm khâm phục và đi đến quyết định xây cất một bệnh viện hoàn toàn theo kiểu tây phương với những bác sĩ tây học.

Được thành lập năm 1945 với những số tiền khổng lồ do dân chúng gốc Hoa tự nguyện tranh nhau đóng góp. Từ anh bán hàng rong đến cô ca sĩ, anh tài xế taxi, từ người lao động nghèo đến những ông tài phiệt, ai ai cũng hăng hái gom góp tiền của cho bệnh viện dưới sự điều động của ông Vương Phong Tạo, tổng lãnh sự Trung Hoa Dân Quốc tại Sài Gòn. Nhiều buổi tổ chức gây quỹ làm nhộn nhịp hẳn đời sống dân chúng Sài Gòn - Chợ Lớn sau ngày quân Nhật đầu hàng. Hãng dầu Nhị Thiên Đường đứng ra xây cất phần cơ bản về nhà cửa, đặc biệt là khu phẩu thuật. Bệnh viện Phúc Kiến tặng đất và tài trợ việc xây cất những khu nhà khác. Những người trúng số từ chối nhận tiền, những ca sĩ nổi tiếng, những chiêu đãi viên phòng trà ca nhạc không nhận cát-sê và chuyển tất cả tiền vào việc xây cất bệnh viện.

C. Nghĩa trang

Gần như bang nào cũng có một hay nhiều nghĩa trang riêng trong vùng Sài Gòn - Chợ Lớn. Bang Phúc Kiến có ba nghĩa trang : Phú Thọ Hòa (1883), Phú Nhuận (1919) và Tân Sơn Nhì (do ông Từ Tri Quyền tặng năm 1942). Bang Quảng Đông có hai nghĩa trang : Bình Thới (do ông Lương Châu Trường tặng) và Phú Nhuận. Bang Triều Châu sở hữu hai mảnh đất chôn cất tại Tân Sơn Nhất và Phú Thọ Hòa. Bang Hải Nàm sở hữu hai nghĩa trang tại Bà Chiểu và Phú Thọ. Bang Hạ Phương có một nghĩa trang tại Tân Sơn Nhất. Tại các tỉnh khác, mỗi bang đều mua một miếng đất riêng để làm nghĩa trang cho bang chúng của mình.

Vì đất đai ngày càng chật hẹp và đắt, năm 1958 một lò hỏa thiêu được thành lập tại Phú Thọ Hòa (gần xa cảng miền Tây) do người Hoa quản lý. Nơi này nhận hỏa thiêu tất cả người vừa chết (Việt và Hoa) với một chi phí rẻ hơn là đem chôn cất. Hài cốt người chết được cất vào trong một bình khằng kín rồi giao lại cho thân nhân.

******************************


Phụ lục 5 : Nội dung một số văn kiện về quan hệ Việt-Trung năm 1978

I. Về phía Việt Nam

Năm 1955, hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc cùng ký kết đặt những người Hoa sống tại miền Bắc Việt Nam dước sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và được khuyến khích trở thành công dân Việt Nam. Năm 1956, Chu ên Lai trong chuyến công du tại Hà Nội cũng tái xác nhận điều đó.

Tháng 2/1957, Tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội đã thỏa thuận với Việt Nam những điều kiện sau : Người Ngái ở Quảng Ninh được coi là người Việt Nam. Người Hoa sống ở miền Bắc Việt Nam được khuyến khích để trở thành công dân Việt Nam. Tất cả những sinh hoạt mang tính chính trị và xã hội của người Hoa miền Bắc đều trực thuộc chính quyền Việt Nam. Sau thỏa ước này, tất cả người Hoa chưa có quốc tịch Việt trực thuộc và chịu sự kiểm soát của Tổng Hội Hoa Liên, đa số là dân cư thành thị. Những người này được Tòa đại sứ Trung Quốc cấp chiếu khán (visa) để di chuyển qua lại biên giới và trong nội địa miền Bắc Việt Nam. Chính quyền Việt Nam cấp giấy lưu trú theo qui chế ngoại kiều. Tòa đại sứ Trung Quốc thôi cấp chiếu khán cho người Hoa sống tại nông thôn, đa số đều lấy quốc tịch Việt trực thuộc nhà nước Việt Nam và được cấp giấy chứng minh nhân dân Việt Nam.

Tháng 1/1961, Bộ Ngoại Giao Việt Nam ra thông cáo chấp thuận đề nghị của Tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội về việc cho phép người gốc Hoa về thăm quê hương. Trước khi về, cư dân gốc Hoa phải đến những cơ quan chuyên ngành của Việt Nam (Bộ Nội Vụ và Bộ Ngoại Giao) làm thủ tục xin cấp giấy xuất cảnh, mục đích là để kiểm soát những thành phần bất hảo (hình sự và phản động). Chính quyền Việt Nam lập một danh sách những người được cấp giấy xuất cảnh gởi đến Tòa đại sứ để duyệt và cấp giấy nhập cảnh.

Xung đột dân tộc đầu tiên có liên quan đến người Hoa tại miền Bắc sau 1975 có lẽ là việc cho đem xét xử tại Quảng Ninh, trong 6 ngày liên tiếp (từ 15 đến 20/10/1975), 9 người Hoa có liên quan đến đường giây mua bán hơn 40 phụ nữ Việt Nam. Những phụ nữ này được chuyển lén sang Đông Hưng (Quảng Tây) trong những năm 1973-1975 để bán lại cho những đàn ông Trung Quốc mua về làm vợ (giá một phụ nữ bằng giá một con trâu). Sau vụ án, một người bị kết án tử hình, một người khác bị án chung thân, những người còn lại đều bị án tù từ một đến ba năm. Ba năm sau, một số trong những người này được thấy trong đoàn người chạy về Trung Quốc. Sự qua lại vùng biên giới từ sau 1976 gặp nhiều khó khăn vì công an biên phòng Việt Nam kiểm soát gắt gao.

Năm 1978, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc trở nên xấu đi. Tại miền Nam, chính quyền cộng sản thi hành chiến dịch cải tạo công thương nghiệp, trong đó tư sản người Hoa là đối tượng chính, và tổ chức nhiều buổi học tập trong cơ quan và quần chúng về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và Kampuchea. Khmer đỏ, được Trung Quốc đỡ đầu, đã tổ chức nhiều đợt tấn công xâm phạm biên giới Tây Nam từ cuối năm 1977. Việt Nam chuẩn bị trả đủa.

Từ tháng 3/1978, người Hoa miền Bắc, lo sợ chiến tranh Việt- Trung có thể xảy ra bất cứ lúc nào, đã bắt đầu di tản về các vùng biên giới chuẩn bị vượt biên, nhất là người Hoa sống tại tỉnh Quảnh Ninh (Uông Bí, Yên Hưng, Hoành Bồ, Hòn Gai, Cẩm Phả, Ba Chè, Tiên Yên, Móng Cái) liên tục qua cầu Bắc Luân chạy về Đông Hưng.

Quảng Ninh là một tỉnh ven giáp ranh với phía nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Dân cư tại Quảng Ninh năm 1978 có khoảng 720.000 người, trong đó có hơn 160.000 người Hoa, tỷ lệ 22% dân số. Đây là tỉnh đông cư dân gốc Hoa sau Sài Gòn-Chợ Lớn tại Việt Nam. Quảng Ninh có bốn thành phố đông người gốc Hoa nhất : Cẩm Phả, Tiên Yên, Quang Hạ và Móng Cái. Riêng thành phố Móng Cái, 80% dân số là người gốc Hoa. Có nhiều sắc tộc khác sống giữa hai vùng biên giới : người Dao và Sán Dìu. Quảng Ninh có 120 cây số dọc địa giới Trung Quốc, sự qua lại biên giới của người Hoa rất là thường xuyên. Năm 1978, 70% dân số gốc Hoa đã đi về Trung Quốc.

Những người Hoa khác đi bằng xe lửa từ Hà Nội lên Lạng Sơn và từ Lạng Sơn qua cửa Hữu Nghị, vượt Hồ Kiều về Băng Tường (Quảng Tây, Trung Quốc) tị nạn. Người Hoa tại Sài Gòn tìm cách ra miền Bắc bằng máy bay, xe đò và xe lửa. Nhiều phái đoàn cao cấp của Trung Quốc và phóng viên ngoại quốc ra tận những cửa khẩu đón và quay phim những người Hoa vượt biên giới. Phần lớn được đưa về các trại tị nạn nằm sâu trong nội địa (Ninh Minh, Long Châu).

Ngày 23/3/1978, đảng cộng sản Việt Nam áp dụng chính sách cải tạo công thương nghiệp gắt gao, cải tạo tư sản mại bản, bắt giữ và tịch thu tài sản của nhiều người gốc Hoa giàu có, với tội danh "đầu cơ, lũng đoạn thị trường". Tất cả những nhà tư bản gốc Hoa đều bị bắt hay bị tịch thu tài sản, một số phải mai danh ẩn tích, một số khác phải vượt biên bằng tàu thuyền. Những cơ sở kinh doanh thương mại hay sản xuất lớn của người Hoa đều bị quốc hữu hóa. Cũng có một số bị bắt giữ sau đó về tội "xúi dục, tay sai của Bắc Kinh".

Ngày 25/4/1978 Phạm Văn Đồng, thủ tướng, ban hành quyết định số 122-CP : chính sách ngoại kiều của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nội dung quyết định này nhắm đến tất cả những ai không có quốc tịch Việt sống tại Việt Nam, đặc biệt là cư dân Hoa kiều. Quyết định này qui định chỗ ở và tính chất lưu trú của ngoại kiều. Ngoại kiều không được hành nghề thương mại, dịch vụ và sản xuất và chỉ được làm nghề đánh cá, khai thác rừng, sửa chữa máy móc điện tử, lái xe buýt, ghe chở khách, in khắc chữ, đúc chữ và nghề đánh máy chữ, tất cả phải đăng ký và được cấp giấy phép mới được hành nghề.

Ngày 8/5/1978, Bộ Ngoại Giao Việt Nam phổ biến thông cáo gởi cho Trung Quốc tái xác nhận giữ nguyên những nguyên tắc xét duyệt người Hoa về quê thăm gia đình đã có từ trước vì Trung Quốc đề nghị những người Hoa nào muốn về nước đến đăng ký tại sứ quán không phải thông qua chính quyền Việt Nam. Cho đến lúc này, hơn 150.000 người đã chính thức vượt biên sang Trung Quốc. Hà Nội tố cáo Bắc Kinh xúi dục những sắc tộc Tày, Nùng, Giấy, Dao, Mèo vượt biên về Trung Quốc.

Ngày 18/5/1978, chính quyền Việt Nam gởi một thông cáo cho chính quyền Trung Quốc phản đối việc đình chỉ chương trình viện trợ và ngưng 21 công trình xây dựng tại Việt Nam. Việt Nam cũng tố cáo Trung Quốc ngưng viện trợ bất hồi hoán từ cuối 1975, và từ 1977 ngưng cho vay không lấy lãi. Thông cáo cũng tố cáo Trung Quốc đang tìm cách rút hết chuyên gia về nước. Viện cớ một chuyên gia tên Xie Wei Tang ngày 4/5/1978 đã tự tử vì bị Việt Nam phân biệt đối xử, Trung Quốc ra lệnh rút tất cả chuyên gia đang phục vụ trong nhà máy dệt Vĩnh Phú về nước.

Ngày 27/5/1978, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam phổ biến một tuyên bố về vấn đề người Hoa tại Việt Nam, nhân việc Tân Hoa Xã, ngày 24/5/1978, phổ biến lời tố cáo của Ủy Ban Kiều Vận Trung Quốc cho rằng Việt Nam "phân biệt đối xử, thù ghét, bách hại và xua đuổi người Hoa". Tuyến bố nhắc lại những thủ tục hành chánh áp dụng đối với người Hoa đã có từ năm 1955 được sự đồng ý của chính quyền Trung Quốc, kể lại quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, giải thích công tác cải tạo công thương nghiệp tại miền Nam. Phần hai tố cáo những hành vi gây hấn dọc biên giới Tây-Nam của Khmer đỏ và lời kêu gọi người Hoa về nước của Trung Quốc. Phần ba nhắc lại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của Việt Nam, việc đất nước đã được thống nhất dưới sự chỉ đạo của đảng cộng sản Việt Nam và việc Việt Nam đã cưu mang hàng trăm ngàn Hoa kiều từ Kampuchea chạy sang Việt Nam tị nạn sau 1975 dưới thời Khmer đỏ. Phần bốn kêu gọi Trung Quốc vì tình nghĩa hai nước cộng sản anh em nên thương lượng và chấm dứt chiến dịch đả kích Việt Nam.

Ngày 28/5/1978, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đề nghị một cuộc họp giữa hai đảng cộng sản, Trung Quốc và Việt Nam, để giải quyết vấn đề "nạn kiều", trong đó có cả việc cho tàu cập bến Hải Phòng và cảng Sài Gòn đón người về nước và việc tái lập những cuộc thương thảo trong tháng 6/1978 tại Bắc Kinh.

Ngày 5/6/1978, Bộ Ngoại Giao Việt Nam ra một tuyên bố về vấn đề người Hoa tại Việt Nam. Tuyên bố kêu gọi người Hoa hãy ở lại xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những người Hoa nào muốn xuất ngoại thì phải đăng ký tại những nơi đã được qui định. Tàu thuyền của Trung Quốc có quyền vào các bến cảng Việt Nam chở người đi. Tàu đến chở người đầu tiên sẽ được cập bến kể từ ngày 20/6/1978.

Ngày 7/6/1978, chính quyền cộng sản Việt Nam cho phổ biến trên báo Nhân Dân vụ án Trần Hoạt, một người Hoa gốc Quảng Đông 38 tuổi, cư ngụ tại phố Hàng Buồm, Hà Nội, về tội "tuyên truyền, kích động người Hoa về nước và nói xấu chế độ". Trong vụ này, nhiều người Hoa khác cư ngụ tại Hà Nội và Sài Gòn cũng bị liên cang : Lý Nghiệp Phu, La Giang Đông, Lê Thiếu Quang, Hoàng Dương, Diệp Tùng Hưng, Lý Nghiệp Chi, Lý Bích Hợp, Lý Dao Lê, Tô Minh Nguyên, Quan Gia Nghĩa, v.v...

Ngày 17/6/1978, Bộ Ngoại Giao Việt Nam ra một thông tư, nhân việc Trung Quốc đơn phương chấm dứt những chương trình viện trợ, công bố sự thật về quan hệ Việt-Trung. Cùng ngày, chính quyền Việt Nam gởi đến chính quyền Trung Quốc một thông báo về vấn đề này : trách cứ Trung Quốc cố tình làm xấu quan hệ hữu nghị đã có từ lâu đời giữa hai nước và đề nghị tiếp tục giữ quan hệ tốt trong tình anh em xã hội chủ nghĩa giữa hai nước.

Ngày 19/6/1978, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gởi đến Bộ Ngoại Giao Trung Quốc một thông tư nhân việc Trung Quốc đóng cửa ba tòa lãnh sự Việt Nam tại Côn Minh, Nam Ninh (có từ 1955) và Quảng Đông (1956) và yêu cầu Việt Nam rút hết nhân viên sứ quán về nước, viện cớ là Việt Nam không cho nhân viên Trung Quốc vào Sài Gòn làm việc. Thông tư này nhắc lại việc Việt Nam đã chấp thuận cho Trung Quốc thiết đặt tòa tổng lãnh sự tại Hải Phòng và Sài Gòn từ năm 1976, riêng tại Đà Nẵng thì còn đang nghiên cứu. Nhưng từ đó đến nay, Trung Quốc không tiến hành việc thiết đặt các tòa tổng lãnh sự tại Hải Phòng và Sài Gòn (kể từ cuối năm 1978).

Bộ Ngoại Giao Việt Nam cũng gởi đến Tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội ngày 19/6/1978 một thông tư nhắc lại việc đã gởi cho Tòa đại sứ 6 đề nghị cụ thể cho phép các tàu bè Trung Quốc sau khi đã làm đầy đủ những thủ tục hải quan có quyền cập bến Việt Nam và ngày 20/6/1978 có quyền cập vào những bến đã được chỉ định chở người từ ngày 5/6/1978. Đó là việc phải chịu sự dẫn đường của các tàu Việt Nam từ phao số 0 ở Hải Phòng và Sài Gòn vào đất liền. Sau khi cập bến, tàu không được neo bến quá 3 ngày. Tàu thuyền Trung Quốc có ba tháng để chở người Hoa ra đi. Chính quyền Việt Nam sẽ cung cấp cho Tòa đại sứ Trung Quốc danh sách những người Hoa muốn ra đi có giấy xuất cảnh, những người này phải đến tập trung tại những nơi do Việt Nam qui định. Việt Nam cho mở thêm cảng Qui Nhơn để Trung Quốc đến chở người và yêu cầu Tòa đại sứ cung cấp danh sách những cán bộ Trung Quốc làm việc trên mỗi chiếc tàu. Địa điểm các bãi đón là Chùa Ve (cảng Hải Phòng), Vũng Tàu (cảng Sài Gòn) và cảng Qui Nhơn. Thông tư trách Trung Quốc chưa trả lời để xúc tiến việc tổ chức.

Ngày 28/6/1978, Bộ Ngoại Giao Việt Nam ra thông tư gởi Tòa đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội trách cứ việc Trung Quốc đưa ra 6 điểm khác, khó chấp nhận được : danh xưng của những người ra đi ("nạn nhân bị Việt Nam cưỡng bách ra đi" thay vì những "người Hoa muốn rời Việt Nam về Trung Quốc"), thời gian bỏ neo tùy theo nhu cầu đón người (thay vì 3 ngày như phía Việt Nam đề nghị) và không cung cấp lịch trình các tàu sẽ cập bến. Trung Quốc muốn xét duyệt trực tiếp danh sách những người muốn ra đi thay vì để Việt Nam tuyển chọn, không muốn thay đổi danh xưng của những cán bộ đến làm việc và không chịu sự kiểm soát của Việt Nam.

Ngày 6/7/1978, chính quyền Việt Nam ra thông báo về việc Trung Quốc ngưng toàn bộ chương trình trợ giúp cho Việt Nam, rút hết chuyên gia về nước và tố cáo thái độ thù địch của Trung Quốc và đề nghị tái thương thảo quan hệ giữa hai nước v.v...

II. Về phía Trung Quốc

Tháng 12/1977, Ủy Ban Kiều Vận họp tại Bắc Kinh, ngày 1/1/1978 về vấn đề người Hoa tại Việt Nam. Trong chương trình phát thanh bằng Việt ngữ, đài phát thanh Bắc Kinh cho phổ biến chính sách Hoa kiều của Trung Quốc và kêu gọi con dân "trở về Tổ Quốc". Lời kêu gọi này được phát đi cùng với những tin có đụng độ võ trang dọc biên giới phía Tây-Nam (Việt-Miên), khiến nhiều người Hoa sinh sống tại Việt Nam lo sợ và càng ngày càng có nhiều người bỏ hết tài sản trở về Trung Quốc. Vào dịp cận Tết (1978), người Hoa đã đến Móng Cái chờ qua biên giới để về Đông Hưng vì có tin đồn sẽ xảy ra chiến tranh trong ngày Tết.

Ngày 5/5/1978, Bắc Kinh gởi đến Bộ Ngoại Giao Việt Nam một thông cáo cho biết những người Hoa sinh sống tại Việt Nam muốn về nước trước hết phải đến tòa đại sứ xin giấy nhập cảnh thay vì phải qua các cơ quan của Việt Nam.

Ngày 12/5/1978, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc gởi cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam một thông báo sẽ giảm viện trợ cho Việt Nam với lý do : "Việt Nam bắt người và xua đuổi hàng loạt người Hoa về nước, gây khó khăn và làm thiệt hại vật chất và tài chánh trong việc tái định cư những người này. Trung Quốc buộc phải đình chỉ cung cấp một số trang thiết bị và tài trợ tài chánh cho Việt Nam trong khuôn khổ hiệp ước hữu nghị ký giữa hai nước để trang trải những chi phí tiếp cư những người Hoa bị xua đuổi". Bắc Kinh đình chỉ ban đầu 21 dự án giúp đỡ, và sau đó 51 dự án còn lại và sẽ rút hết chuyên gia về nước. Trung Quốc cho đóng cửa ba tòa lãnh sự Việt Nam tại Côn Minh, Nam Ninh và Quảng Đông và tố cáo Việt Nam bắt người Hoa trái phép tại Sài Gòn, đánh đập và làm nhiều người thiệt mạng.

Trung Quốc tố cáo Việt Nam xua đuổi những người Hoa sinh sống tại vùng biên giới từ đầu năm 1977, và từ tháng 11/1977 đuổi những người Hoa tại Hoàng Liên Sơn, Lai Châu và Sơn La về Trung Quốc. Và từ tháng 4/1978, làn sóng xua đuổi người Hoa hung bạo hơn tại các thành phố Hà Nội và Hải Phòng, kế là tại các tỉnh Hà Nam Ninh, Thanh Hóa... Số người Hoa bị đuổi về ngày càng gia tăng, từ 35.000 tháng trước đã tăng trên 40.000, con số này còn gia tăng thêm trong những ngày sắp tới. Trung Quốc còn tố cáo Việt Nam đã áp dụng từ lâu chính sách phân biệt đối xử, thù ghét và bài Hoa như chế độ lý lịch, hộ khẩu trong các trường học, khẩu phần lương thực... Bắc Kinh cho biết Việt Nam đã chở người Hoa tới Hoàng Liên Sơn bằng xe lửa sau đó để họ đi bộ qua biên giới.

Ngày 24/5/1978, phát ngôn viên của Ủy Ban Kiều Vận thuộc Bộ Ngoại Giao Trung Quốc qua cơ quan phát tin Tân Hoa Xã, tố cáo Việt Nam "phân biệt đối xử, thù ghét, bài Hoa và xua đuổi người Hoa" và yêu cầu chấm dứt những hành động thù nghịch. Tuyên bố cho biết đầu năm 1977 Việt Nam đã áp dụng chính sách thanh lọc người Hoa tại biên giới, sau đó đuổi họ ra khỏi biên giới. Những người Hoa bị đuổi về đã bị Việt Nam hành hạ và đánh đập, có người đã chết trên đường trở về. Những người ở lại bị áp lực tâm lý, nhiều người bị bắt giam, có người đã chết trong tù. Tuyên bố nhắc lại việc hai nước đã đồng lòng chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm về chính sách quốc tịch cưỡng bách ban hành ngày 29/8/1956, và báo Nhân Dân đăng lại nguyên văn tuyên bố chung ngày 24/5/1957. Ngày 24/5/1965, Mặt Trận Giải Phóng Việt Nam đã tuyên bố "người Hoa sống tại Việt Nam có quyền chọn lựa quốc tịch". Sau cùng tuyên bố cho biết quyết định sẽ cho tàu cập bến các bến cảng Việt Nam để đưa con dân của họ về nước.

Ngày 30/5/1978, chính quyền Trung Quốc ra tuyên cáo về việc Việt Nam xua đuổi người Hoa về nước. Đến nay số người Hoa về Trung Quốc đã trên 100.000 người. Những người này đến từ các cửa khẩu Lào Cai, Đồng Đăng, Móng Cái, có ngày có tới 5.000 người qua biên giới. Trong 20 ngày, số người vượt biên đã trên 50.000 người. Điều này chứng tỏ Việt Nam vẫn không ngừng gia tăng thái độ thù nghịch đối với người Hoa và ra những lời tuyên bố trái sự thật. Trung Quốc xác nhận là hiện có 1 triệu vài trăm ngàn công dân Trung Quốc đang sinh sống tại Việt Nam.

Trung Quốc xác nhận có thỏa thuận với Việt Nam về vấn đề quốc tịch của những người Hoa sinh sống tại Việt Nam nhưng không bao hàm những người Hoa bất đồng chính kiến với chính quyền Việt Nam. Số phận của họ phải được thảo luận trên một căn bản khác. Đằng này Việt Nam đơn phương áp dụng chính sách bài Hoa tại miền Bắc và bách hại người Hoa tại miền Nam, áp dụng chính sách khẩu phần đối với tất cả người Hoa. Trung Quốc nhắc lại sự viện trợ bất hồi hoán từ nhiều năm qua và tố cáo Việt Nam vô ơn. Nhân danh tình hữu nghị đã có từ lâu đời, Trung Quốc yêu cầu Việt Nam chấm dứt những thái độ thù nghịch và cảnh cáo những người lãnh đạo Việt Nam hãy ý thức hậu quả về những hành động của họ.

Ngày 2 và 9/6/1978, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ra thông cáo bác bỏ lời đề nghị của Bộ Ngoại Giao Việt Nam về một cuộc họp để giải quyết vấn đề người Hoa. Chính quyền Trung Quốc thông báo cho Việt Nam biết là họ sẽ đưa tàu vào hai cảng Hải Phòng và Sài Gòn để đón người về nước và yêu cầu Việt Nam tôn trọng những nguyên tắc về ngoại giao và hàng hải quốc tế. Những chiếc tàu đầu tiên sẽ nhổ neo ngày 8/6/1978 từ Trung Quốc để cập vào hai bến cảng của Việt Nam.

Trung Quốc nhắc lại là 90% Hoa kiều đang sinh sống ở miền Nam và từ năm 1955 hai đảng đã thỏa thuận về một lịch trình hội nhập người Hoa vào đời sống Việt Nam. Tại miền Bắc, người Hoa qua từng giai đoạn sẽ làm thủ tục để nhập tịch Việt Nam trên nguyên tắc tự do chọn lựa. Tại miền Nam, sau ngày giải phóng, hai đảng sẽ họp lại để xét duyệt qui chế của người Hoa tại đây. Như vậy không bên nào được quyền tiến hành đơn phương những thủ tục hợp thức hóa tình trạng quốc tịch người Hoa tại miền Nam. Trung Quốc nhắc lại việc chế độ Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh về quốc tịch cưỡng bách đối với người Hoa ngày 29/8/1956, nhắc lại tuyên cáo chung giữa hai chính phủ ngày 20/5/1957 về người Hoa sinh sống tại Việt Nam.

Trong những năm 1960, 1964, 1965 và 1968, khi nhận tiếp liệu quân sự của Trung Quốc, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã đồng ý bãi bỏ những sắc lệnh của chính quyền Mỹ Ngụy trước kia về người Hoa và chấp nhận "kiều dân Trung Hoa có quyền tự do lựa chọn quốc tịch". Sau 1975, Việt Nam đã không tôn trọng những điều đã cam kết. Tháng 2/1976, Việt Nam đã bắt buộc những công dân Trung Quốc mang quốc tịch Việt Nam dưới thời Ngô Đình Diệm bỏ phiếu bầu quốc hội thống nhất với tư cách là công dân Việt Nam.

Trung Quốc trách chính quyền cộng sản Việt Nam tuyên bố, từ sau 1956, phần lớn những người Hoa bất đồng chính kiến đều đã mang quốc tịch Việt Nam, như vậy là tước quyền công dân Trung Quốc của hơn một triệu mấy trăm ngàn người. Trung Quốc tố cáo Việt Nam tung tin đồn Trung Quốc sẽ tấn công Việt Nam vì Việt Nam sẽ tiến công Kampuchea và chiến tranh sẽ không tránh khỏi giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trung Quốc tố cáo Việt Nam từ đầu năm 1977 đã thanh lọc cư dân người Hoa tại các vùng biên giới và, viện cớ kiểm tra dân số, đã buộc cư dân người Hoa phải nhận có quốc tịch Việt. Những người Hoa bất đồng chính kiến đã bị Việt Nam cô lập và phân biệt đối xử (bị loại ra khỏi những cơ quan công quyền và trường học), những người này bị ép buộc phải điền vào những tờ "đơn tự nguyện xin về Trung Quốc" và nhiều gia đình đã bị kiểm kê, khám xét nhà cửa.

Tháng 10/1978, Việt Nam bắt đầu trục xuất cư dân gốc Hoa tại Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Sơn La và những vùng phía Tây Bắc về Trung Quốc. Đến cuối tháng 5/1978, số người Hoa từ Việt Nam về Trung Quốc đã trên 100.000 người. Vấn đề này mặc dầu có gây cho Trung Quốc rất nhiều khó khăn về tài chánh, của cải vật chất nhưng Trung Quốc vẫn trung thành với lý tưởng của mình là "bảo vệ quyền lợi của công dân hải ngoại và giúp đỡ những người Hoa bị phân biệt đối xử trở về tổ quốc". Chính vì thế mà Trung Quốc có toàn quyền ngưng và hủy bỏ mọi dự án cung cấp trang thiết bị cho Việt Nam để lấy tiền giúp cho con dân bị đuổi về. Trong suốt ba thập niên qua, Trung Quốc buộc công dân trong nước thắt lưng buộc bụng, chia cơm xẻ áo với nhân dân Việt Nam trong công cuộc chống đế quốc Mỹ giải phóng đất nước trong nhiệm vụ quốc tế xây dựng quốc tế vô sản.

Thông cáo kể tiếp : sau 1975, Trung Quốc gặp nhiều khó khăn do nhóm Tứ Nhân Bang phá hoại, cộng thêm thiên tai, động đất, Trung Quốc vẫn tiếp tục viện trợ cho Việt Nam tuy có giảm đi so với thời kỳ chiến tranh nhưng vẫn liên tục. Giờ đây phía chính quyền Việt Nam trở mặt, vong ân khiến nhân dân Trung Quốc rất phẫn nộ. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam thôi phân biệt đối xử và bài Hoa, nối lại những thương thảo để tăng cường tình hữu nghị đã có từ lâu đời giữa hai nước. Trung Quốc nêu lên vấn đề người Việt sinh sống trong nội địa của Trung Quốc được tôn trọng và được bảo vệ, họ vui hưởng đầy đủ quyền lợi như một công dân Trung Quốc.

Ngày 16/6/1978, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc gởi một thông báo cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam về việc đóng cửa toà tổng lãnh sự tại ba tỉnh Côn Minh, Nam Kinh và Quảng Đông. Trung Quốc xác nhận là Việt Nam có cho Trung Quốc mở thêm hai tòa tổng lãnh sự tại Hải Phòng và Sài Gòn từ tháng 12/1976, tòa tổng lãnh tại Đà Nẵng đang được cứu xét. Tháng 11/1977, phái đoàn Trung Quốc đại diện qua ông Wang Bu Yn và nhiều viên chức ngoại giao đã đến Hà Nội để chuẩn bị vào Sài Gòn nhậm chức nhưng bị Bộ Ngoại Giao Việt Nam chần chờ giữ chân từ hơn ba tháng qua. Chính vì lý do đó, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ra lệnh rút ông Wang cùng hai phụ tá khác, các ông Zhu Hui Min và Zhong Jing Kun, về nước. Trung Quốc yêu cầu Việt Nam nên hành động tương tự đối với ba tòa tổng lãnh sự đặt tại Trung Quốc.

Ngày 3/7/1978, Trung Quốc thông báo cho Việt Nam biết chương trình viện trợ kinh tế và kỹ thuật bị hủy bỏ và kêu gọi tất cả chuyên viên về nước.

Paris, 31/12/1992 

Nguyễn Văn Huy 

Published in Tư liệu

hoa1

Người Hoa trong nước có thể chia rẽ, đàn áp ức chế lẫn nhau, nhưng khi ra ngoài nước họ bảo vệ dân tộc tính một cách triệt để : người Hoa rất đoàn kết khi giữ gìn bản thể.

Phần Ba : ...để hiểu và thông cảm lẫn nhau trong tiến trình xây dựng một tương lai chung

Từ trước đến nay, mỗi khi nhắc đến cộng đồng người Hoa tại Việt Nam người ta thường liên tưởng đến huyền thoại "Chú Hỏa", một người Hoa di cư nghèo khó về sau đã trở thành giàu có nhờ may mắn và chịu khó làm việc. Người ta còn thêu dệt thêm nhiều chuyện kinh hồn khác quanh sinh hoạt của người Hoa như chuyện các thầy bùa, thầy ngải chuyên bắt cóc trinh nữ làm thần giữ của cho những gia đình Hoa giàu có, chuyện bắt cóc trẻ con làm xíu mại, chuyện tráo thịt chuột thay thịt heo, ăn óc khỉ v.v... Người bình dân thì truyền tai nhau những tin đồn về truyền thống sinh hoạt bí mật của người Hoa, cách thức làm giàu không lương thiện, làm hàng giả v.v... Tất cả những lập luận "dễ dàng" trên cho thấy một sự thiếu sót thông tin và thiếu thông cảm giữa người Hoa và người Việt.

Người Việt bản chất thật thà và kém hiểu biết trong nghề kinh doanh rất dễ tin theo những tin đồn bịa đặt đó. Người ta thường lấy bụng ta suy ra bụng người. Đối với người bình dân làm giàu là một việc làm khó khăn, vì cuộc sống gắn liền với nghề nông, nghề thủ công hay nghề làm công, sinh hoạt gia đình không bao giờ được sung túc. Nhiều người chỉ mơ đào được lu vàng hay trúng số độc đắc để vượt lên sự nghèo khó chứ không hề nghĩ rằng nếu biết suy luận và chịu khó họ có thể có một đời sống khá hơn bằng cách tham gia trực tiếp vào sinh hoạt kinh doanh. Nếu như vậy thì quá dễ ai làm chẳng được, nhưng muốn làm kinh doanh phải nắm vững một số qui luật sơ đẳng : thích kinh doanh và tôn trọng lời hứa. Vốn liếng tuy quan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định, người làm kinh doanh phải biết rõ khả năng của mình, nhạy cảm với nhu cầu của thị trường và biết thích ứng với những biến chuyển của thị trường. Người Hoa tại Việt Nam là một thí dụ về khả năng biết thích nghi đó.

Sinh hoạt của cộng đồng người Hoa không có gì bí hiểm. Sở dĩ người Hoa thành công là nhờ biết khai thác một số đặc tính trong của thị trường Việt Nam và thế giới. Những đặc tính đó đã góp phần tạo nên huyền thoại về sự giàu có của người Hoa. Tìm hiểu sinh hoạt của người Hoa là bước đầu của tiến trình thông cảm. Thông cảm là nền tảng của mọi cố gắng xây dựng một tương lai chung, tương lai của một nước Việt Nam có chỗ đứng và có tiếng nói cho mọi người.

hoa2

Cộng đồng người Hoa nổi tiếng với phương châm : muốn làm kinh doanh phải thích kinh doanh và tôn trọng lời hứa

I. Tìm hiểu những đặc tính của cộng đồng người Hoa

A. Giữ gìn bản thể trong mọi hoàn cảnh

Từ nhiều ngàn năm trước người Hoa đã tự xưng là Con Trời, Trung Hoa là nước ở giữa, trung tâm của hoàn vũ. Có một nhận định như vậy, người Hoa không thể nào chịu để mất bản thể, chấp nhận bị đồng hóa, vì họ là một dân tộc lớn.

Từ khi lập quốc đến thế kỷ thứ 13, đất nước Trung Hoa chỉ có loạn lạc nội chiến, người Hoa chỉ đi xâm lấn các lân bang và chưa bao giờ bị xâm lấn. Nhân vật đã đánh bại đế quốc Trung Hoa là Thành Cát Tư Hãn, người Mông Cổ, nhưng sau đó dân tộc Mông cũng đã bị dân tộc Hoa đồng hóa cả về văn hóa lẫn chính trị. Từ mốc thời gian đó, đế quốc Trung Hoa suy yếu hẳn, những cuộc xâm lấn về sau chỉ là một chuổi dài những thất bại. Những quốc gia nhỏ như Việt Nam đã đẩy lùi tất cả những cuộc tiến công, tệ hơn nữa Trung Hoa không những bị phương Tây và Nhật Bản đánh bại mà còn bị bảo hộ. Mặc dù vậy bản chất của một dân tộc lớn vẫn tồn tại, Trung Hoa là một thế giới hơn là một quốc gia.

Ngày nay tuy Trung Quốc không phải là một quốc gia giàu có, nhưng trong những cuộc đàm phán quốc tế sự tham dự của phái đoàn Trung Quốc lúc nào cũng giữ một tầm quan trọng quyết định. Những tranh chấp trong vùng Đông Nam Á, nếu Trung Quốc bất đồng ý kiến vấn đề coi như chưa được giải quyết. Một thí dụ điển hình là vấn đề tái lập hòa bình tại Campuchia, nếu không có sự chấp thuận của Trung Quốc cho dù Liên Hiệp Quốc có trực tiếp đứng ra bảo trợ tình hình bất ổn vẫn luôn tồn tại.

Người Hoa trong nước có thể chia rẽ, đàn áp ức chế lẫn nhau, nhưng khi ra ngoài nước họ bảo vệ dân tộc tính một cách triệt để : người Hoa rất đoàn kết khi giữ gìn bản thể. Phong trào di dân xa khỏi lục địa chỉ bộc phát mạnh từ thế kỷ 13 khi một số gia đình quyền quí trốn chạy quân Nguyên (Mông Cổ). Nhiều đợt di cư quan trọng khác đã xảy ra khi nhà Minh bị nhà Mãn Thanh đánh bại (thế kỷ 16), nhất là khi triều đình Mãn Thanh bị các cường quốc phương Tây, Nhật Bản xâu xé và chiếm đóng (thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 20). Thành phần di tản là những gia đình quan quyền, binh lính, thương gia, dân chúng không chấp nhận sự cai trị của đối phương. Đó là những người tị nạn chính trị. Họ là dân cư các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Đông và Triều Châu vượt biển chạy ra phía đông (Đài Loan, Hoa Kỳ và Châu Âu) hay xuống phía nam (ASEAN, Đông Dương và Úc Đại Lợi). Đợt tị nạn chính trị quan trọng nhất là sau năm 1949 khi chế độ cộng sản được áp đặt trên toàn lãnh thổ Trung Hoa, hàng chục triệu người đã đổ bộ lên đảo Đài Loan, hàng triệu người khác chạy tản mát trên khắp thế giới, đông nhất là tại Đông Nam Á.

Do ảnh hưởng của những xáo động kinh tế và chính trị từ thế kỷ thứ 19, dân nghèo các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hạ Môn, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nàm v.v... di cư sang các quốc gia lân cận trong vùng Biển Đông. Họ rời quê hương nghèo khổ với hy vọng tìm những vùng đất mới để xây dựng một đời sống khá hơn. Đây là những người tị nạn kinh tế. Ý thức được thân phận hèn mọn của mình, những người này sẵn sàng làm bất cứ việc gì có thể làm được để sinh sống : tạp dịch, bồi bàn, mua bán ve chai, cày thuê, cuốc mướn, nội dịch, khuân vác, cu-li, v.v... Với thời gian những người này, sau khi vượt lên những khó khăn ban đầu, đều dấn thân vào nghề kinh doanh và cho con cái ăn học thành tài để có một chỗ đứng danh dự nơi đất khách quê người.

Tuy phải sống xa quê hương, người Hoa di tản vẫn giữ nguyên bản chất của một dân tộc lớn : tự hào về nguồn gốc xuất thân và nền văn minh đã hấp thụ. Văn minh của người Hoa nền văn minh chữ Hán. Bất cứ nơi nào người Hoa cũng muốn phổ biến chữ viết của mình. Hán tự là gạch nối liền quan hệ người Hoa hải ngoại với nhau. Bất kỳ xuất thân từ nguồn gốc ngữ phương nào, người Hoa hải ngoại nhận diện lẫn nhau một cách dễ dàng qua chữ Hán. Chữ Hán là ký hiệu, là mẫu số chung của tất cả người Hoa hải ngoại. Cơ sở nào càng viết nhiều chữ Hán, nơi đó sẽ được đông đảo người Hoa ly hương chiếu cố. Lâu dần chữ Hán đồng nghĩa với bản thể Trung Hoa. Trung thành với chữ Hán là trung thành với bản thể Trung Hoa. Càng muốn duy trì bản thể Trung Hoa thì càng phải phổ biến rộng rãi văn minh chữ Hán. Người Hoa nào không nói, không đọc hay viết được chữ Hán, người đó không còn là người Hoa thuần túy.

Trẻ em Trung Hoa tại bất cứ quốc gia nào, chung đụng với bất cứ nền văn hóa nào, khi đến tuổi đi học đều phải học tập chữ Hán song song với nền giáo dục của quốc gia địa phương. Bang hội nào cũng dành ưu tiên cho việc dạy chữ Hán, đây là lãnh vực văn hóa để trẻ em Trung Hoa tìm hiểu bản thể. Tại nhiều nơi, thành phần trẻ thấy việc dạy kinh điển thánh hiền xưa đã lỗi thời nhưng không vì thế mà bỏ bê chữ Hán, những người lãnh đạo cộng đồng vẫn kiên chí duy trì việc phổ biến chữ Hán. Sách báo, lịch tam tông miếu thường được phát không cho người Hoa với những lời thánh hiền ghi trên từng trang giấy để mọi người không quên chữ Hán.

Tại những nơi định cư mới, người Hoa ngoài việc phổ biến rộng rãi nền văn minh chữ Hán : văn học, nghệ thuật, kinh sử, tín ngưỡng, kỹ thuật cầm quân luyện tướng, cách thức chế biến vật dụng, dệt vải và nhất là nghề buôn bán, họ còn làm nảy sinh một phong thái làm việc mới : cần cù, nhẫn nại, chịu khó làm việc trong những điều kiện khó khăn lúc ban đầu, chấp nhận rủi ro. Người Hoa còn thể hiện tinh thần đùm bọc trong tình gia tộc, nghĩa đồng hương với hy vọng có chung một mức sống xứng đáng và một cộng đồng mạnh.

Niềm tự hào về bản thể phần nào cũng do quá khứ để lại. Người Việt xưa kia bị liệt kê vào hạng Man Di thấp kém cùng với các giống dân Mông, Mán, Tạng, Hàn. Hơn nữa lịch sử xa xưa của Trung Hoa vẫn ghi miền Bắc Việt Nam là phần đất phía Nam của họ (Giao Chỉ bộ, Giao Châu hay An Nam phủ). Chính vì niềm tự hào đó mà những Hoa kiều này không muốn bị đồng hóa với các dân tộc bản địa thấp kém hơn. Cũng chính vì không muốn bị đồng hóa với bản thể Trung Hoa mà các quốc gia thuộc văn minh Trung Hoa đã sáng chế ra chữ viết riêng mặc dù vẫn lấy Hán tự làm căn bản. Nhật Bản, Triều Tiên,Việt Nam là những quốc gia thuộc ảnh hưởng của văn minh văn hóa Trung Hoa nhưng không muốn sử dụng chữ viết Trung Hoa.

Trong thực tế có rất nhiều người Hoa, ân sâu nghĩa nặng với các triều chính Việt Nam, quan niệm rằng Việt Nam là một quốc gia có chung nền văn hóa với Trung Hoa, khi hội nhập vào xã hội Việt Nam đó cũng chỉ là một hình thức hội nhập vào chính xã hội Trung Hoa. Vấn đề đặt ra là xã hội đó có chấp nhận cho người Hoa hội nhập bình thường vào đời sống hay không. Nhật Bản, Đại Hàn và Việt Nam, mặc dù có chung nền văn minh và văn hóa với Trung Hoa, nhưng vì có nhiều kinh nghiệm không hay với Trung Hoa đã không tạo nhiều điều kiện để cộng đồng người Hoa phát triển.

Dưới thời nhà Nguyễn, Hoa kiều nhà Thanh bị chỉ định cư trú và chịu nhiều khoản thuế đặc biệt. Đến thời Pháp thuộc số phận người Hoa có phần cải tiến nhưng vẫn không có một chính sách hội nhập bình thường, người Hoa là Hoa kiều. Sau đó vì những lý do kinh tế, chính trị dưới thời đệ nhất Cộng Hòa và chế độ cộng sản, người Hoa là đối tượng bị phân biệt đối xử. Nhưng tại nhiều quốc gia khác trong vùng như Campuchia, Malaysia và Thái Lan (các quốc gia này chịu ảnh hưởng của nền văn minh, văn hóa Ấn Độ), người Hoa di tản gặp nhiều dễ dàng trong đời sống và trong kinh doanh. Khi ổn định được cuộc sống, họ tham gia sinh hoạt thương mại và làm phát triển luôn nền kinh tế địa phương (thường rất yếu kém). Có nơi cộng đồng người Hoa lập thành một quốc gia như Đài Loan, Hồng Kông, Singapore.

Những nghi kỵ, dè dặt chẳng qua là những biện pháp đề phòng, vì thật ra cả hai dân tộc, Hoa và Việt, trong thâm tâm bên nào cũng muốn đồng hóa bên kia. Dưới thời Bắc thuộc người Hoa nhà Hán, sau đó là nhà Minh, bộc lộ ý đồ muốn đồng hóa dân Việt bằng cách xóa bỏ mọi căn bản tổ chức xã hội từ phong tục, ngôn ngữ đến nghi lễ thờ phượng để áp đặt văn minh, văn hóa, phong tục tập quán Trung Hoa. Ngược lại, người Hoa di cư trước thế kỷ thứ 17 tại miền Bắc không có điều kiện để phát triển đã phần nào tan biến vào xã hội Việt Nam, một số khác sống riêng lẽ trong những khu vực riêng biệt (Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội) và vẫn giữ quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc. Khi có biến động hay gặp khó khăn, những người này sẵn sàng trở về quê cha đất tổ. Người Hoa đi theo Trần Thượng Xuyên và Mạc Cửu, vì ơn vì nghĩa quyết định chọn miền Nam làm quê hương thứ hai, đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội Việt Nam, họ là người Việt Nam. Nhiều nhân vật đã để lại tên tuổi trong văn học và lịch sử Việt Nam , đã bảo vệ và xây dựng đất nước, tranh thủ được nhiều cảm tình của quần chúng (xem Phụ lục 2). Con cháu của họ sau này sinh hoạt tự do về chính trị và kinh tế, nắm những địa vị cao trong triều đình, bản thể Trung Hoa vẫn được gìn giữ nguyên vẹn.

Nhiều người Việt Nam thường lầm tưởng người Hoa kỳ thị, không muốn giao thiệp với dân bản xứ. Thật ra họ biết rất rõ khi lập gia đình với các dân tộc địa phương họ sẽ không còn giữ nổi bản thể. Giữ gìn bản thể đối với người Hoa quí báu như giữ gìn một gia tài, mất gia tài đó người Hoa sẽ không còn là người Hoa nữa. Bản thể Trung Hoa là tài sản tinh thần cuối cùng khi rời bỏ quê cha đất tổ sống kiếp ly hương, do đó một số gia đình quyền quý, giàu có khuyến cáo con em họ không nên có những cuộc hôn nhân dị chủng. Cũng có một số gia đình Trung Hoa, còn giữ tinh thần gia tộc cực đoan, cho rằng hội nhập vào xã hội Việt Nam là không vinh quang vì Việt Nam là một dân tộc thấp kém đã từng bị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm. Trong những gia tộc lớn, trưởng nam phải làm gương cho em út, phải lấy người đồng chủng. Thiếu nữ gốc Hoa cũng được khuyến cáo chỉ nên lấy người chồng Hoa nếu không sẽ bị mất gốc, mất họ. Có nhiều trường hợp thiếu nữ gốc Hoa cãi lệnh cha mẹ lấy trai Việt bị cả gia đình, bang hội đồng tộc từ bỏ.

Bản thể Trung Hoa được nun nấu cho trẻ em từ khi vừa chào đời. Các bậc trưởng thượng (cha mẹ, phụ huynh, thân hào, nhân sĩ) dùng tiếng Hoa để dạy con cái trong các điệu ru, khi tập nói, lúc tập viết. Trong gia đình người Hoa, nhiều thế hệ sống chung dưới một mái nhà, sự dạy dỗ trẻ em càng thêm chặt chẽ từ cách suy nghĩ đến lối cư xử. Khi lớn lên trẻ em được hướng dẫn tham gia sinh hoạt trong các hội đoàn, bang hội để khóa chặt vòng đai đồng tộc : chỉ kết giao thân mật với những người trong cùng tổ chức, theo châm ngôn "Tiên vi tộc, hậu vi sơ" (gia tộc trước nhất, kế mới đến người ngoài).

Bản thể Trung Hoa được gắn liền với truyền thống Nho giáo. Nho giáo là nền tảng căn bản giáo dục Trung Hoa, theo đó mỗi người đều có một bổn phận phải thi hành : con phải sống theo đúng đạo làm con, cha mẹ phải sống đúng cương vị làm cha làm mẹ, gia trưởng phải xử sự đúng theo vai trò gia trưởng, bang chúng cư xử đúng cương vị bang chúng. Đối với cộng đồng người Hoa, bổn phận của mỗi thành viên là phát huy bản thể Trung Hoa, hay đúng hơn tôn ti trật tự Nho giáo kiểu Trung Hoa. Nho giáo là bản thể tinh thần của cộng đồng người Hoa ly hương phải gìn giữ.

Thêm vào đó, triết lý Nho giáo luôn đề cao những gương Hiếu Để, Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, triết lý này được truyền tụng từ đời này sang đời nọ đã trở thành một đặc tính : truyền thống bảo vệ văn hóa Trung Hoa. Một người muốn trở thành lãnh tụ, muốn được mọi người quí trọng phải thể hiện truyền thống này trong cuộc sống : bảo vệ bản thể Trung Hoa.

Giữ gìn bản thể là một hình thức chứng tỏ sự trung thành đối với tổ tiên. Trung thành với tổ tiên, các đấng sinh thành là trung thành với nền văn hóa đã hấp thụ, do đó giữ gìn bản thể là duy trì niềm tự hào trong mỗi người Hoa. Giữ gìn bản thể cũng là một hình thức để nhận diện lẫn nhau nơi đất khách quê người. Là người Hoa tức phải để lộ bản thể Trung Hoa ra ngoài đời sống : nói đọc được chữ Hán, duy trì văn hóa Trung Hoa và phải sinh hoạt trong khuôn khổ của các bang hội Trung Hoa.

Nhưng trong cuộc sống, điều kiện sinh hoạt xã hội không diễn tiến đúng theo ý của những người có trách nhiệm. Những gia đình gốc Hoa đã sống chung chạ với người Việt, trẻ em gốc Hoa khi học chung với trẻ Việt, không nhiều thì ít mất dần bản thể. Đàn ông Hoa khi lấy vợ Việt, vài thế hệ sau con cháu không còn giữ gìn bản thể Trung Hoa Chỉ những nơi tập trung đông đảo người Hoa kiểu ốc đảo (oasis) nơi đó còn duy trì được truyền thống sinh hoạt cổ truyền. Tại Chợ Lớn, người Hoa còn giữ một vài sắc thái sinh hoạt của nếp sống cổ truyền Trung Hoa trong các quan hệ xã hội, nhất là trong các nghi thức về hôn nhân, tang chế.

Bản thể Trung Hoa đôi khi trùng lấp với bản thể Việt Nam. Văn hóa và tập quán của hai dân tộc không có nhiều khác biệt : các dịp lễ lạc (tết Nguyên Đán, tết Trung Thu, Vu Lan...) người Việt và người Hoa cử hành lễ giống nhau. Tại nhiều nơi dân chúng thường tổ chức những lễ lạc chung như lễ khánh thành các cơ sở hay phương tiện kinh doanh, lễ tất niên, lễ tân niên v.v... Những chùa, đền miếu của người Hoa được rất đông tín đồ Việt Nam đến chiêm bái, cầu tự, nhất là vào những dịp rằm hay lễ lớn. Phật Bà Quan êm, Thánh Mẫu, Quan Ông (Quan Vân Trường) là những bậc thánh mà các tín đồ Việt-Hoa cùng thờ phượng. Các tuồng hát cổ (Hồ Quảng, Hát Bội...) được rất đông dân chúng Việt Nam ưa chuộng, ngược lại nhiều điệu nhạc Vọng Cổ hay Tân Nhạc cũng được rất nhiều người Hoa ưa thích. Làng tân nhạc Việt Nam có nhiều nghệ sĩ gốc Hoa tài danh (La Hối, Kim Anh). Về tín ngưỡng, Phật giáo đại thừa, đạo Nho, đạo Lão là đạo chung của rất đông tín đồ Việt và Hoa. Thờ cúng Ông Bà, Thần Tài là phong tục của rất đông người Việt và Hoa.

Về mặt xã hội, tâm lý lo sợ mất bản thể nói lên nỗi lo âu bị lạc loài, bị bỏ rơi nơi đất khách quê người, nhất là tại những quốc gia có nền văn minh tiến bộ và phát triển hơn (phương Tây). Tại những quốc gia Châu Á khác, gìn giữ bản thể là gìn giữ sự đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Những bậc trưởng thượng - trước kia là giai cấp quyền quí, sĩ phu không chuyên việc đồng án, thủ công, hay là thành phần binh lính, nông dân - lo âu tuổi già không nơi nương tựa thường dạy con cháu phải thương yêu đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau phòng khi sa cơ thất thế. Nhiều thế hệ phải sống chung với nhau trong một mái nhà để tìm sự bao che, sự đùm bọc.

Gần đây, cộng đồng người Việt hải ngoại cũng để lộ ra nhiều dấu hiệu gìn giữ bản thể Việt Nam giống người Hoa, nhưng vì thiếu yếu tố là một dân tộc lớn và chưa có nhiều kinh nghiệm ly hương, vấn đề gìn giữ bản thể gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó triết lý Nho giáo không phải là những giá trị tuyệt đối của một số gia đình Việt Nam, bản thể Việt Nam được thể hiện theo cách riêng của từng gia đình. Chỉ những gia đình Việt Nam đã từng có kinh nghiệm ly hương đều có truyền thống giữ gìn bản thể như người Hoa, đặc biệt là cộng đồng Việt Nam tại Lào và Campuchia.

B. Truyền thống tương thân tương trợ cao

Sau nhiều thế hệ ly hương, cộng đồng người Hoa ngày nay được biết đến như là một cộng đồng của sự đoàn kết, của tinh thần tương thân tương trợ. Sự đoàn kết của người Hoa có thể làm trường hợp mẫu cho những cộng đồng ly hương khác noi theo.

Thứ nhất, tinh thần tương thân tương trợ thể hiện qua lối sống tập trung kiểu làng xã. Nhất cử nhất động của mỗi gia đình, mỗi người trong khu phố được tất cả hàng xóm, láng giềng hay biết. Mỗi tập hợp dân cư đều có một người đại diện hay một bang hội riêng để quản trị tất cả những công việc có liên quan đến cộng đồng đó.

Những người thành công giàu có, hay có kiến thức, đều được mọi người quí trọng và cầu cạnh xin giúp đỡ. Những người yếu kém được sự giúp đỡ của gia đình, bà con, hàng xóm láng giềng hay của bang hội trực thuộc. Sự giúp đỡ cũng rất đặc biệt, ban đầu là ủng hộ tinh thần sau là cho vay những món tiền nhỏ để thoát khỏi cảnh sống khó khăn. Về sau nữa, nếu người vay mượn có khả năng vượt qua, bang hội chủ quản hay những người giàu có khác cho vay những món tiền lớn hơn để khuếch trương thêm công việc kinh doanh. Công việc kinh doanh của mỗi người được cả cộng đồng liên thuộc quan sát và theo dõi rất kỹ để tiếp tay khi cần.

Những nơi đông dân cư gốc Hoa cư ngụ, các bang hội xây cất những đình làng, nhà hội để mọi người có nơi họp mặt và sinh hoạt. Trong những công viên người già thường đến để hàn huyên hay luyện tập thể dục. Thanh thiếu niên sinh hoạt trong những lớp học Hoa ngữ, lớp võ thuật, các đội múa hát, văn nghệ, thể thao. Người trưởng thành thường họp mặt tại những tửu lầu của đồng hương để ủng hộ và khi có biến chuyển quan trọng họ được triệu tập đông đủ để lấy một thái độ hay một quyết định chung. Thông thường người lớn chỉ cần gặp nhau tại các quán ăn để tán gẩu, thoả thuận giá cả hay chỉ vẻ cho nhau những cơ hội làm ăn. Mỗi lần có dịp đình đám, kỵ giổ, những gia đình gốc Hoa cố gắng phô trương khả năng tài chánh của mình qua cách chi tiêu trong các nhà hàng, thuê bao những đoàn ca múa nhạc có tiếng để được đồng hương nhắc đến.

Quan hệ trao đổi kinh tế của người Hoa trước hết trông cậy vào chính cộng đồng của họ. Người Hoa mua bán trước tiên giữa họ nhau, sau mới đến người ngoài. Vòng đai kinh tế của họ có mục đích bảo vệ và tương trợ lẫn nhau do đó rất khép kín. Người ta thường chú ý tới mặt nổi những hoạt động kinh doanh của người gốc Hoa nhưng ít ai để ý đến mặt chìm của những cố gắng của họ.

Trong đời sống gia đình, người Hoa rất tằn tiện kể cả những gia đình giàu có. Cách phối trí trong mỗi gia đình bình dân gốc Hoa rất bề bộn, chật vật và tối tăm. Họ không thích khoe tiền của, ham chưng diện nhưng khi cần họ có thể chi tiêu rất hào phóng để lo cho cộng đồng hay cho công việc kinh doanh. Chỉ họ với nhau mới biết ai là người có tiền của hay nghèo khó, nhìn thoáng qua bề ngoài khó có thể quyết đoán ai là người có đời sống thực sự sung túc.

Những chi tiêu có tính phô trương thường nhằm dễ dàng hóa công việc làm ăn hay tranh thủ lòng nể phục và kính yêu của bang chúng. Những nhân vật giàu có thường làm việc nghĩa cho chính bang ngữ phương của họ như xây trường học, cất đình, lập chùa, xây bệnh viện, cô nhi viện, nghĩa trang... để lấy tiếng thơm. Sự tiêu xài của họ cũng có mục đích tương trợ lẫn nhau : chi tiêu của người này sẽ làm tăng doanh thu của người khác, số tiền thu về sau đó được chi tiêu cho những nhu cầu khác như mua sản phẩm của đồng hương khác sản xuất ra. Vòng đai chi tiêu của người Hoa rất khép kín, tiền của người Hoa này bỏ ra, người Hoa khác thu vào, nói chung đồng tiền chỉ luân chuyển quanh quẩn trong cộng đồng người Hoa với nhau.

Thứ hai là ước muốn bảo vệ truyền thống cá biệt của từng địa phương xuất thân. Không cộng đồng người Hoa nào chịu thua kém cộng đồng người Hoa nào. Bang Quảng Châu không chịu lép vế bang Phúc Kiến, bang Hạ Phương không chịu nhường bang Triều Châu. Mỗi bang đều có niềm tự hào riêng và mọi người trong bang đều cố gắng gìn giữ, phát huy niềm tự hào đó.

Chính nhờ tinh thần ganh đua đó, mỗi bang ngữ phương không ngừng cải tiến phương thức quản trị nội bộ, tạo điều kiện để cho bang của mình phát triển mạnh hơn. Tinh thần ganh đua đôi khi dẫn đến nạn bè phái, bang chúng trở thành con tin của mỗi bang (người Triều Châu chỉ đi khám bệnh tại những bệnh viện Triều Châu, người Phúc Kiến chỉ đi chùa Phúc Kiến...). Nhưng trong mua bán họ không bao giờ hãm hại lẫn nhau, nếu có tranh chấp, các bang trưởng họp nhau dàn xếp ổn thỏa để không ai bị thiệt thòi hay mất mát. Người Hoa rất đoàn kết khi bảo vệ nguồn lợi kinh tế hay đời sống của tập thể. Sống khép kín, co cụm cũng là một hình thức phản kháng chính trị để tránh sự hội nhập.

Mỗi bang hội xây cất những đình, chùa, trường học, bệnh viện, võ đường, lập các đội lân, dàn nhạc đình đám riêng, tranh tiếng tăm với các bang hội khác. Khi hữu sự họ không ngần ngại làm cho sinh hoạt của bang hội của họ nổi bật hẳn lên : các lớp học có đông học sinh, đãi cơm chùa thật ngon, ban nhạc chơi thật ồn ào, mời những võ sư danh tiếng đến dạy võ thuật hay biểu diễn, tổ chức các đội múa lân thật độc đáo v.v... để mọi người hãnh diện về bang của mình.

Thứ ba, do phải chung đụng hằng ngày với những cộng đồng dân tộc bản xứ, tinh thần tương thân tương trợ thể hiện sự phản kháng thụ động trước các sức ép của xã hội địa phương. Sự phản kháng thụ động của người Hoa là tinh thần đoàn kết và cách sử dụng đồng tiền.

Đoàn kết để sinh tồn, để bảo vệ sắc thái sinh hoạt, bảo vệ niềm tự hào của một dân tộc lớn. Biết chắc không thể giữ những vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị tại các quốc gia định cư, vì là thiểu số, cộng đồng người Hoa chuyên chú vào dịch vụ thương mại, một lãnh vực mà các quốc gia địa phương rất cần nhưng yếu kém. Chính quyền của các quốc gia địa phương rất muốn loại trừ thế lực kinh tế của người Hoa, nhưng không thể một sớm một chiều loại hẳn ra khỏi địa bàn sinh hoạt quốc gia. Các công ty Hoa kiều biết rất rõ điều này nên thường tập trung đầu tư vào những ngành nghề nào có khả năng thu lợi nhanh mà không phải bỏ nhiều vốn.

Sức mạnh kinh tế của người Hoa là sự sung túc, sự giàu có. Đối với họ có tiền là có tất cả, không cần phải tham chính mới có. Để bảo vệ tiềm năng và sức mạnh kinh tế, cộng đồng người Hoa rất khép kín trong việc phổ biến những kỹ thuật cũng như mánh lới nghề nghiệp. Tất cả bí mật nghề nghiệp của người Hoa tập trung vào cách sử dụng đồng tiền. Kiếm tiền ai cũng có thể kiếm được, nhưng sử dụng như thế nào chỉ những người bản lãnh mới chủ động được. Một người Hoa thành công là người nắm vững kỹ thuật sử dụng đồng tiền.

Bên cạnh hai yếu tố đó, người Hoa còn nổi tiếng về bảo vệ bí mật nhà nghề. Những bí mật nghề nghiệp, đúng hơn là những kỹ thuật gia truyền, chỉ truyền dạy cho phái nam, nhất là con trai trưởng. Trưởng nam trong gia đình có nhiệm vụ gìn giữ, bảo vệ bí quyết gia truyền và chỉ truyền lại cho con trai và dòng dõi. Anh em trai trong gia đình có nhiệm vụ tương thân, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau để duy trì thế lực của gia tộc. Những người thành công trong gia đình phải giúp cho thân nhân, bà con thân thuộc trước tiên, kế mới đến người ngoài.

Trên qui mô lớn hơn, bảo vệ bí mật nghề nghiệp là bảo vệ độc quyền. Người Hoa có thể rất hiền hòa, vui vẻ với mọi người trong giao tế hằng ngày nhưng khi quyền lợi bị đụng chạm họ sẽ phản ứng rất phủ phàng để tự bảo vệ và sẽ vận dụng mọi khả năng để bảo vệ độc quyền đó. Hợp pháp họ có thể sẽ huy động những số vốn lớn hơn vay mượn của đồng hương, bất hợp pháp họ sẽ mua chuộc, đút lót những viên chức có thẩm quyền để giữ độc quyền.

Người phụ nữ trong gia đình Trung Hoa chỉ giữ vai trò phụ thuộc, nhất là đối với những gia đình còn nặng óc phong kiến Nho giáo. Người phụ nữ ngoài chuyện sinh con đẻ cái, làm bếp núc còn có nhiệm vụ phụ giúp chồng, con trai và anh em trai của cha, của chồng trong việc làm ăn. Có nhiều trường hợp khi chồng là con trai trưởng mất sớm, người vợ phải lấy em chồng để bảo tồn nòi giống và sản nghiệp. Tuy nhiên cũng có nhiều phụ nử đã tỏ ra rất quáng xuyến trong việc kinh doanh của chồng con như trường hợp bà Trần Thị, vợ của Tổng đốc Đỗ Hữu Phương, người được xếp hạng giàu có thứ nhì thời Pháp thuộc (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ ích).

Thứ tư là bao che, tuy là một yếu tố tiêu cực nhưng là một biểu hiện của tinh thần tương thân tương trợ. Người gốc Hoa ý thức rất rõ thân phận tại quốc gia địa phương, do đó sẵn sàng chia sẻ với nhau những vinh nhục của kiếp sống ly hương. Cho dù là người Quảng Đông, Triều Châu hay Phúc Kiến, họ đều bênh vực lẫn nhau mỗi khi hữu sự. Người Hoa quan niệm khi một người Triều Châu hay Quảng Đông mang tiếng xấu, cả cộng đồng người Hoa mang tiếng xấu theo, do đó họ rất cẩn trọng trong việc giao tiếp với các cộng đồng bản xứ.

Người Hoa cũng có nhiều thói hư, tật xấu như bao sắc dân khác nhưng những sự xấu xa này ít khi tiết lộ ra ngoài, những tranh chấp nội tộc, gia đình đều được giải quyết "kín đáo". Đây là bí ẩn của người Hoa mà rất nhiều chính quyền địa phương muốn biết nhưng không thể biết. Giữa người Hoa với nhau, những thu xếp và thanh toán nội bộ chỉ người liên hệ trực tiếp mới rõ, nhiều khi cả gia đình hay bà con thân thuộc không hay biết, và sẽ không ai biết gì cả khi người ngoài muốn tìm hiểu. Một số "hội kín" đã tỏ ra rất tàn bạo đối với những hội viên làm sai lời cam kết. Cách giải quyết những tranh chấp nội bộ của các bang hội làm nhiều người liên tưởng tới các nhóm mafia : nội bộ rất khắt khe, bên ngoài rất nhũn nhặn.

Quốc Dân Đảng Trung Hoa đã tỏ ra rất hữu hiệu khi vận dụng Hoa kiều hải ngoại góp tiền về giúp nước. Những ai chống đối thường bị xử kín (thủ tiêu hay làm tan gia bại sản) bởi những hội kín qua những hình thức tai nạn có vẻ bình thường như đụng xe, đứt gân máu, nghẽn mạch tim, trúng thực hay làm ăn thua lỗ phải tự vẫn.

Tố cáo đồng hương là một hành vi đồi bại khó được các hội kín và đồng hương tha thứ. Những bất đồng nội bộ nếu có, bang chúng trình bày rõ mọi chi tiết cho bang trưởng và người này trực tiếp giải quyết giữa hai bang chúng, hay tiếp xúc với bang trưởng có liên quan nếu là sự tranh chấp giữa bang chúng của hai bang. Điều này vừa là ưu điểm và cũng là khuyết điểm của họ. Ưu điểm vì ít khi người ngoài thấy được những bất đồng hay bí mật nội bộ. Khuyết điểm vì không hiểu rõ sinh hoạt của cộng đồng người Hoa, người bản xứ xem họ như những người xa lạ, không sẵn sàng thông cảm mỗi khi có biến động bất lợi cho họ.

Các chính quyền bản xứ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xét duyệt thương vụ của cộng đồng người Hoa. Sổ sách kinh doanh của họ không bao giờ rõ ràng, và khi khai thuế họ có đủ mánh lới lòn lách để chịu phần nhẹ nhất. Nhân viên gốc Hoa thường không biết hoặc không muốn nói rõ những hoạt động của chủ nhân, nhờ đó họ trở thành người thân tín của chủ nhân. Một hình thức rất phổ biến khác là khi công ty, xí nghiệp hay cơ sở kinh doanh sắp hết hạn được miễn thuế trong thời gian đầu, các chủ cơ sở kinh doanh thường sang nhượng cho thân nhân hay tuyên bố khánh tận để tránh thuế. Những công ty lớn luôn có một đội ngũ kế toán, thu ngân viên thân tín, nắm vững luật lệ về tài chánh và thuế khóa để bao che và bảo vệ quyền lợi cho chủ nhân.

Thái độ tiêu cực này đã khiến một số người Hoa có tiền ỷ lại vào sức lôi cuốn của đồng tiền và tỏ ra thờ ơ trước những nỗi đau hay ưu tư của phần còn lại của quốc gia địa phương. Trong thời kỳ chiến tranh, một số không ít thanh niên gốc Hoa tìm cách trốn lánh thi hành nghĩa vụ công dân, họ từ chối tham gia vào quân đội để bảo vệ phần đất mà gia đình họ đang được yên ổn sinh sống. Nhiều khu vực đông dân cư gốc Hoa trước kia là những an toàn khu của sự làm ăn phi pháp, trốn quân dịch, chứa chấp những cán bộ cộng sản nằm vùng.

Dân chúng bao che tất cả các hoạt động bất chính vì sợ báo thù hay mang tiếng phản bội. Tâm lý người Hoa có thể là không xen vào công việc của người khác, nhưng sự im lặng của họ chứng tỏ mạng lưới khủng bố tinh thần rất hiệu lực. Khủng bố đầu tiên là sợ bị đồng hương khinh rẻ.

Thứ năm, tinh thần tương trợ được duy trì bền chặt cũng nhờ sự điều động khéo léo của các bang hội. Bang trưởng là một người giàu có, nhiều uy tín hay đức độ cao được bang chúng trong khu vực mặc nhiên công nhận hay được đề cử giữa những vị trưởng thượng với nhau. Thường thì những vị trưởng gia tộc lớn hay chủ kinh doanh giàu có được những Hoa trong bang bầu lên giữ chức vị bang trưởng. Bang trưởng hành xử như một chủ gia, chăm sóc cộng đồng dưới tay như chăm sóc con cái trong nhà, bang chúng nghe lời bang trưởng một cách tuyệt đối.

Bang trưởng có nhiệm vụ giúp đỡ công ăn việc làm, kêu gọi vốn, hòa giải những mối bất đồng nội bộ và khuyến khích bang chúng yêu thương đùm bọc lẫn nhau ("lá lành đùm lá rách") và rất khắt khe với những kẻ đi sai đường lạc lối. Bang trưởng còn có nhiệm vụ bênh vực bang chúng trước những áp lực hay cạnh tranh của những người khác. Bang trưởng thường xuất tiền riêng để xây cất những cơ sở vật chất có tính lợi ích tập thể như trường học, bệnh viện, chùa chiền, cô nhi viện, nghĩa trang, cấp học bổng cho những học sinh nghèo, tổ chức những hội chợ từ thiện hay giúp vốn cho những người có chí làm ăn đang gặp khó khăn v.v...

Có nhiều trường hợp một bang chúng không nghe lời gia đình nhưng khi được bang trưởng khuyến cáo, chỉ dạy người đó chấp hành ngay. Hình phạt nặng nhất của lối sống bang hội là bị khai trừ ra khỏi cộng đồng, sự gắn bó do đó chỉ càng thắt chặt. Tinh thần kỷ luật và ý thức tôn ti trật tự rất được tôn trọng trong mỗi bang, ai giữ vững nguyên tắc này ắt được sự tin tưởng và giúp đỡ của người khác. Nếu vị bang trưởng khu vực bất đồng ý kiến với ai thì cả cộng đồng đó bất đồng ý kiến theo. Tranh thủ sự hợp tác của bang trưởng khu vực là điều cần thiết khi muốn kêu gọi sự ủng hộ của tập thể cộng đồng người Hoa.

Thứ sáu, tinh thần tương thân tương trợ thể hiện tính đa quốc. Tinh thần này chỉ bắt đầu có khi những gia đình người Hoa giàu có ra đi khỏi nước. Ban đầu các sinh hoạt thương mại chỉ mang tính địa phương, khi phát triển nó vượt không gian địa phương sang các cộng đồng người Hoa tại những nước khác để sau đó kết hợp thành những tập đoàn kinh tế tài chánh lớn. Tại Đông Nam Á, nhất là tại ASEAN, người Hoa hải ngoại liên kết chặt chẽ với nhau trong tất cả mọi lãnh vực : văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế. Khi có một biến động liên quan đến một cộng đồng người Hoa địa phương nào đó trên thế giới, cả thế giới người Hoa lên tiếng bênh vực.

Để hỗ trợ lẫn nhau trên khắp nơi trên thế giới, cộng đồng người Hoa hải ngoại dành nhiều dễ dãi và nâng đỡ lẫn nhau trong việc kinh doanh. Sản phẩm của người Hoa xứ này được chấp nhận dễ dàng tại xứ kia. Các nhóm tài phiệt Hoa kiều liên quốc tận tình chỉ bảo cho nhau lãnh vực nào nên khai thác, lãnh vực nào nên thôi, phương tiện sản xuất nào nên bỏ, cần trang bị loại máy móc nào nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế và luôn giữ địa vị dẫn đầu. Khi có cạnh tranh giữa hai nhóm kinh doanh người Hoa, những người có trách nhiệm tìm cách dàn xếp ổn thỏa mọi bất đồng để không ai bị thiệt thòi. Nguyên tắc của những nhà kinh doanh người Hoa là mỗi người một chợ, không ai được quyền xâm phạm đất sống của nhau. Trường hợp bang hội đã xử mà người trong cuộc vẫn tiếp tục vi phạm lời cam kết, cộng đồng người Hoa địa phương làm áp lực tẩy chay, và người đó khó có hy vọng trông cậy vào sự hỗ trợ của chính cộng đồng cuœa mình.

Bang đồng hương địa phương tận tình giúp đỡ bang đồng hương hải ngoại đầu tư tại quốc gia cư ngụ. Người Hoa địa phương cố vấn, chỉ vẻ cho các tập đoàn kinh doanh Hoa kiều quốc tế về phong tục, tập quán và luật pháp nơi cư ngụ. Những tin tức bí mật liên quan đến tình hình chính trị, kinh tế tài chánh tại mỗi quốc gia chỉ người trong bang mới được biết. Doanh nhân Hoa kiều luôn có những chấn chỉnh kịp thời để thích nghi với sự biến động liên tục của thị trường quốc tế qua trung gian các bang hội địa phương. Hệ thống thông tin liên lạc của người Hoa rất hữu hiệu và họ có nhiều phương tiện để hiện đại hóa hệ thống thông tin, nhất là thông tin về sinh hoạt kinh tế của các "quốc gia-thị trường" của họ. Quốc Dân Đảng Đài Loan xây dựng một mạng lưới kinh tế tài chánh to lớn và hùng mạnh nhất Đông Nam Á để bảo vệ quyền lợi kinh tế của cộng đồng người Hoa trong vùng.

Vai trò của các bang hội liên quốc rất quan trọng. Bang trưởng là người có uy tín, đại diện cho một sinh hoạt kinh doanh lớn của cộng đồng, thường là một người đứng đầu một ngân hàng lớn hay một tập đoàn kinh doanh lớn, có khả năng vận dụng nguồn nhân lực và tài chánh cao. Bang trưởng bang liên quốc đại diện các bang địa phương trong các cuộc thương nghị quốc tế hay khu vực về khả năng đầu tư và bảo vệ đời sống cư dân gốc Hoa. Đây là bộ phận đầu não lãnh đạo giới tài phiệt Hoa kiều hải ngoại thuộc hệ thống tư nhân, bên cạnh đó là hệ thống tài phiệt Quốc Dân Đảng của Đài Loan cũng rất hùng mạnh, chi phối luôn các bang trưởng liên quốc. Tại Đông Nam Á, không một vận động đầu tư lớn nào không có sự tham dự của ngân hàng China Trade ? Development Corporation (Quốc Dân Đảng), ngân hàng OCBC (Overseas Chinese Banking Corporation), UOB (United Overseas Bank), AIC Development và các Liên Phòng Thương Mại ASEAN. Chủ tịch các tổ chức kinh tế tài chánh này thường là bang trưởng các bang ngữ phương, chủ tịch của các ngành từ nhiều quốc gia họp lại thường là bang trưởng bang ngữ phương liên quốc.

Doanh nhân Việt kiều đồn rằng khi nào thấy người Hoa di tản về lại Việt Nam làm ăn, người Việt có thể theo họ mà về. Người Hoa chỉ chịu bỏ vốn làm ăn khi biết chắc lợi tức thu về sẽ cao hơn số vốn bỏ ra. Tại hải ngoại nơi nào tập trung đông sinh hoạt của người Hoa nơi đó có phát triển. Sự nhạy bén doanh lợi của người Hoa cho thấy họ nắm rất vững tương lai kinh tế trong từng quốc gia hay từng địa phương. Tại Châu Âu, Bắc Mỹ hay Úc Đại Lợi, người Hoa chỉ tập trung vào