Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

dimanche, 17 février 2019 12:21

Sử ta, sao phải hỏi ý kiến Tàu ?

Dư luận đang sôi sùng sục bởi ý kiến của Giáo sư Phạm Hồng Tung xung quanh vấn đề "Chiến tranh biên giới 1979 được dạy trong chương trình phổ thông mới ra sao" đăng ở Vietnamnet.

suta1

Hình minh họa. Những người lính ở đơn vị pháo của Việt Nam trong trận chiến chống quân xâm lược Trung Quốc ở biên giới tại tỉnh Lạng Sơn hôm 23/2/1979 - AFP

Theo giới thiệu thì ông Phạm Hồng Tung là giáo sư sử học đang giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), là Chủ biên chương trình Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Với những vị trí ấy thì ông có ảnh hưởng nhiều đến việc giảng dạy lịch sử.

Khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc mấy chục năm nay bị giấu biến thì nói chung, nhiều ý kiến của ông chấp nhận được, trúng suy nghĩ của nhiều người. Ví dụ ông cho rằng cần tránh che giấu sự thật trong giảng dạy... về sự kiện lịch sử này. Ông Tung cũng thừa nhận những người đã hy sinh trong cuộc chiến tranh này rất ít được nhắc đến hoặc ông chỉ ra trong nhà trường, việc giáo dục về nội dung lịch sử này rất sơ sài, chỉ được đề cập đến với 4 câu, 11 dòng tại sách giáo khoa Lịch sử lớp 12... Ông cho biết Trung Quốc vẫn đang được dạy một chiều về cuộc chiến tranh này và xuyên tạc về nó. Không chỉ thế mà tất cả các cuộc chiến tranh trong quá khứ, lịch sử hai bên dạy rất khác nhau.

Tuy nhiên, ông Tung lại cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm nên cần phải cẩn thận. Và cái sự cẩn thận quá đáng của ông ta đã dẫn đến phản ứng của dư luận.

Tất nhiên, những vấn đề ông Tung nói ra là phải có chủ trương chứ không phải nghĩ thế nào, ông cứ tuồn tuột nói ra như thế. Vì không phải đến bây giờ ông mới dạy sử và không phải cuộc chiến tranh này vừa mới diễn ra mà từ 40 năm nay rồi. Nói thế để thấy rằng, ông nói gì thì cũng phải được phép và bây giờ ông được phép nói ra như thế. Chính tư duy "được phép" mới dẫn đến ý kiến gây bão trên mạng xã hội : Bây giờ (40 năm đã qua) "chính là lúc giới sử học của hai nước nên ngồi lại, thảo luận những nguyên tắc cơ bản để dạy về những vấn đề liên quan đến lịch sử hai nước".

Ý kiến này của ông Tung có vẻ mâu thuẫn với các ý kiến khác của ông như "cần phải dạy về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc năm 1979 một cách khoa học, đúng đắn", hay "không nên lảng tránh việc trình bày và đánh giá về quá trình lịch sử này", vì nếu đã có thái độ khoa học và đúng đắn, không lảng tránh thì việc gì còn phải "ngồi lại" với kẻ đã xâm lược nước mình, đã giết chóc, tàn sát nhân dân mình.

suta2

Bài viết trên Vietnamnet với ý kiến của Giáo sự Phạm Hồng Tung về chiến tranh biên giới Việt Trung Courtesy Vietnamnet

Để tăng tính thuyết phục cho ý kiến này, ông Tung dẫn ra chuyện Pháp và Đức từng xảy ra chiến tranh và đã ngồi lại với nhau. Nhưng Pháp và Đức khác hẳn Việt Nam, Trung Quốc về dân trí, dân chủ, về tính văn minh của chế độ chính trị. Quan hệ giữa hai nước ấy là quan hệ bình đẳng, ngang hàng, khác hẳn quan hệ Việt Trung.

Ý kiến của ông Tung có thể hiểu rằng, viết về cuộc chiến tranh này như thế nào là phải hỏi ý kiến Trung Quốc. Viết về một cuộc chiến tranh, phải đề cập đến bối cảnh, nguyên nhân, diễn biến và hậu quả. Hai phía là kẻ thù, là đối phương, là đối tượng tác chiến của nhau nên quan điểm mỗi bên nhất định phải khác nhau, trái ngược nhau. Khi đã rụt rè không dám viết khác với ý kiến kẻ thù, hay được kẻ thù đồng ý thì còn gì là lịch sử nữa mà nó trở thành một sự kiện đã được gọt giũa, cắt xén, giấu giếm cho vừa lòng kẻ đã phát động chiến tranh xâm lược và để có lợi cho "đại cục".

Trước ý kiến không thể chấp nhận được của ông Tung, facebooker Phuc Dinh Kim vặn, khó mà bắt bẻ : "Nếu chấp nhận lời đề nghị của Phạm Hồng Tung, tôi yêu cầu đến dịp kỷ niệm 45 năm ngày chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước 30/4/1975-30/4/2020, giới Sử học Việt Nam nên mời các Sử gia của Mỹ và VNCH đang định cư trên khắp thế giới ngồi lại để thống nhất nội dung lịch sử nước nhà giai đoạn 1954-1975".

Fbker Phuc Dinh Kim đánh trúng tâm lý nô lệ, nhược tiểu trước thiên triều. Ông Tung trả lời sao đây về ý kiến này ?

Lịch sử không xu nịnh ai

Thái độ của người viết sử là phải trung thực với lịch sử, chứ không phải theo nghị quyết, chủ trương, đường lối của một đảng phái nào đó, càng không phải theo ý muốn của kẻ thù.

Việc ông Tung đặt ra vấn đề viết về cuộc chiến tranh xâm lược của TC phải hỏi ý kiến Trung Quốc có lẽ xuất phát từ thói quen, viết gì, dạy như thế nào phải được phép, phải theo định hướng. Từ chỗ các nhà viết sử đã quen với chỉ thị, định hướng của đảng và ông Tung vì theo thói quen nên mới nâng lên khuôn phép mới là hỏi ý kiến kẻ thù.

Xin nhắc lại câu chuyện xưa nói về phẩm chất, khí tiết của người chép sử :

Thôi Trữ là công thần nước Tề, giết vua Tề là Tề Trang Công (tên thật là Khương Quang). Quan Thái sử chép rằng : "Mùa Hạ, tháng 5, ngày Ất Hợi, Thôi Trữ giết vua của nó là Quang". Trữ sợ, bảo ghi khác đi thì Thái sử không chịu nên bị Trữ giết. Em của quan Thái sử tiếp tục công việc của anh, chép y câu trên, lại bị giết. Cho đến người em thứ ba vẫn chép nguyên câu ấy, sẵn sàng chịu chết nhưng Thôi Trữ không dám giết nữa.

Khi người em thứ ba được toàn mạng lui ra, thì gặp Nam Sử thị là một viên sử quan khác đứng chực sẵn. Thì ra Nam Sử thị sợ cả ba anh em Thái sử bị giết hết sẽ không có ai ghi lại sự thật lịch sử, nên đã viết sẵn trên thẻ, vẫn là : "Mùa Hạ, tháng 5, ngày Ất Hợi, Thôi Trữ giết vua của nó là Quang".

suta3

Hình minh họa. Hình chụp hôm 25/8/1978 : một người lính gác Việt Nam bị thiệt mạng trong một trận tấn công của Trung Quốc vào Đồng Đăng, Lạng Sơn AFP

Nhắc lại câu chuyện này để thấy khí tiết của người viết sử xưa, thà chết chứ không thể viết khác sự thật lịch sử.

Nhớ lại có lần một diễn giả đến trường tôi nói chuyện về ông Hồ Chí Minh, kiểu như ông Hoàng Chí Bảo sau này. Trong buổi nói chuyện chừng ba giờ, nhiều lần ông nhắc đến cụm từ "những người làm sử chúng tôi". Lần đầu, tôi nghe đến chữ "làm sử" thấy hay hay, là lạ và thán phục lắm. Sau nghĩ lại thấy không ổn. Sao lại "làm sử" ? Người ta có thể nói "làm văn", "làm thơ" vì văn học là sáng tác, được tưởng tượng, hư cấu. Còn sử thì làm ra sao được ? Điều đó có thể hiểu rằng trong tư duy của họ, viết sử là phải nhào nặn, phải theo chỉ đạo. Lịch sử VN đương đại mà chúng ta vẫn học đã nói lên điều đó. Vì thế mới có Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu mới có "ngụy quân ngụy quyền" Sài Gòn, tay sai của đế quốc Mỹ... Đó là sản phẩm của "làm sử". Do "làm sử" mà lúc thì Trung Quốc là kẻ thù, lúc thì là bạn vàng và cuộc chiến tranh năm Trung - Việt 1979 lúc thì biến mất, lúc thì lác đác nhắc lại. Thế thì còn gì là sử. Phải trở lại với chữ của người xưa là "chép sử", "sử ký" (ký : ghi chép) chứ không phải "làm sử" thì lịch sử mới khách quan.

Lịch sử hiểu ngắn gọn là những gì đã diễn ra trong quá khứ. Vì vậy, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc xảy ra như thế nào cứ thế mà viết, hà tất phải hỏi ý kiến "bố con đứa nào".

Nguyễn Tường Thụy

Nguồn : RFA, 17/02/2019

Published in Diễn đàn
mercredi, 08 août 2018 20:38

Nhìn Lại Sử Việt

Nhìn Lại Sử Việt

 

Bộ sử này, tổng cộng khoảng 2.500 trang, gồm năm quyển :

 

LMH NLSV 1 (1)

Quyển 1. Từ tiền sử đến tự chủ (khi Ngô Quyền mở ra kỷ nguyên độc lập)

LMH NLSV 2

Quyển 2. Từ Ngô Quyền đến thuộc Minh (939 – 1407)

LMH NLSV 3

Quyển 3. Từ thuộc Minh đến thống nhất (1407 – 1802)

LMH NLSV 4 (2)

Quyển 4. Từ Gia Long đến Cách Mạng Tháng 8/1945 (1802 – 1945)

LMH NLSV 5

Quyển 5. Thời cận hiện đại (1945 – 1975)

*******************

Đặt và mua sách

1. Đặt mua sách :

Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ và Cành Nam Publishers

2607 Military Road

Arlington, VA 22207, USA

Điện thoại và Fax : (703) 525-4538

Email : Cette adresse e-mail est protégée contre les robots spammeurs. Vous devez activer le JavaScript pour la visualiser.

2. Thể thức mua :

Ngân phiếu xin đề (libellé) : "TO HOP CANH NAM"

và gởi về địa chỉ như trên

Trong Hoa Kỳ, xin gởi cước phí hạng Book-Rate

Càng mua nhiều càng đỡ cước phí

Mua trên 100 USD khỏi trả cước phí

Để tiện việc liên lạc, xin dùng Email hay gọi điện thoại.

Đa tạ.

***************

Quyển 1

Từ Thượng cổ cho đến hết Bắc thuộc

 

Mục Lục

Chương 1 : Những dữ liệu

      1.1 Những khám phá về khảo cổ học

      1.2 Những sử liệu Trung Quốc

      1.3 Những sử liệu Việt Nam

      1.4 Sử liệu của các nước khác

Chương 2 : Tổng quan về lịch sử Việt Nam

Chương 3 : Nguồn gốc dân tộc Việt Nam : thời kỳ thần thoại

      3.1 Kinh Dương vương và Lạc Long quân

            Những bằng chứng sử liệu

            Những bằng chứng khảo cổ

      3.2 Lạc hay Việt

            Những bằng chứng sử liệu

            Những bằng chứng về ngôn ngữ và phong tục

      3.3 Hùng vương và nước Văn Lang

            Xã hội dân Lạc dưới triều Hùng vương

            Sự suy tàn của triều đại Hùng vương

      3.4 An Dương vương và cuộc chiến Hùng-Thục

            Nguồn gốc An Dương vương        

Cuộc chiến Hùng-Thục

Truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh và những dấu tích của một sử thi Việt Nam

Xã hội Việt Nam dưới triều An Dương vương

Thành Cổ Loa

Chiếc vuốt rùa và cây nỏ thần của An Dương vương

Chương 4 Bắc thuộc lần thứ nhất : Từ Triệu Đà đến cuộc chinh phục của Mã Viện

      4.1 Triệu Đà khởi nghiệp

            Cuộc chiến giữa Ấu Lạc và Triệu Đà

            Chế độ cai trị của nhà Triệu và xã hội Ấu Lạc

            Nhà Triệu diệt vong

            Vài nhận xét về nhà Triệu và Triệu Đà

      4.2 Chính sách cai trị dưới thời Lưỡng Hán

            Sự suy tàn của nhà Tây Hán và ảnh hưởng của nó tới đất Giao Chỉ

            Chích sách cai trị của nhà Đông Hán

      4.3 Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

            Xã hội Giao Chỉ vào lúc Hai Bà Trưng khởi nghĩa

            Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

      4.4 Từ Lạc chuyển sang Việt : Cuộc chinh phục của Mã Viện

      4.5 Sự tan rã của xã hội Lạc và mầm mống hình thành xã hội Lạc Việt

            Lạc, "Yueh" và Việt

            Vài nhận xét về từ Giao Chỉ

Chương 5 Giai đoạn Bắc thuộc lần thứ 2 : Từ Mã Viện cho đến cuộc khởi nghĩa của Lý Bí

      5.1 Tình hình kinh tế xã hội Giao Chỉ sau cuộc chinh phục của Mã Viện

            Chế độ môn phiệt tại Giao Chỉ

            Các cuộc nổi dậy và chính sách "nhu viễn"

      5.2 Sỹ Nhiếp và sự hình thành tầng lớp môn phiệt Lạc Việt

            Xã hội Giao Chỉ dưới thời Sỹ Nhiếp

            Đế quốc Kushana và sự phát triển Phật Giáo tại Việt Nam

            Tổng hợp Nho-Phật : sự xuất hiện của văn hóa Lạc Việt

      5.3 Từ Lạc đến Việt : sự chuyển mình của dân tộc Việt Nam

            Họ Sỹ diệt vong

            Bà Triệu khởi nghĩa : sự vùng dậy cuối cùng của xã hội Lạc

      5.4 Việt và Chàm : Hai di duệ của xã hội Lạc

            Cương vực nước Lâm Âp

            Quận Nhật Nam dưới thời Lưỡng Hán

            Sự thành lập nước Lâm Ấp

      5.5 Hán hay Việt ? Các cuộc tranh chấp trong tầng lớp môn phiệt Giao Châu dưới thời Lưỡng Tấn và Lục triều

            Xã hội Giao Châu dưới thời Lưỡng Tấn và Lục triều

            Đào Hoàng và cuộc chiến tại Giao Châu cuối thời Tam Quốc

            Giao Châu dưới thời Lưỡng Tấn : Lương Thạc

            Giao Châu vào cuối thời Đông Tấn

      5.6 Đỗ Tuệ Độ và Lý Trường Nhân

            Đỗ Tuệ Độ và con đường trung thành với đế chế

            Lý Trường Nhân và nền tự chủ dưới thời Lưu Tống

      5.7 Tình hình kinh tế xã hội Giao Châu dưới thời Lương

            Giao Châu dưới thời Lương

            Thuế khóa và cống phẩm

Chương 6 Lý Bí và nhà nước Vạn Xuân

      6.1 Lý Bí và bước đầu trong tiến trình dành độc lập

            Lý Bí và Tinh Thiều

            Triệu Túc

            Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí

            Sự thành lập nhà nước Vạn Xuân

      6.2 Cuộc chinh phục của Trần Bá Tiên

      6.3 Triệu Quang Phục và Lý Phật tử

            Cuộc kháng chiến của Triệu Quang Phục và triều đại Lý Phật tử theo sử liệu Việt Nam

            Triệu Quang Phục và Lý Phật tử theo sử Trung Quốc

      6.4 Cuộc chinh phục của nhà Tùy : đất Việt rơi trở lại tình trạng nội thuộc

      6.5 Thế kỷ thứ 6 và sự thành hình của dân tộc tính Việt Nam

Chương 7 Giai đoạn Bắc thuộc lần thứ ba : Từ sự sụp đổ của nhà Tiền Lý cho đến cuối đời Đường

      7.1 Việt Nam dưới triều Tùy và Đường

      7.2 Cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Mai Thúc Loan

            Cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên

            Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan

      7.3 Cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng

            An Nam đô hộ phủ và cuộc khủng hoảng thời Trung Đường

            Giặc Chà Và

            Bố Cái đại vương Phùng Hưng

      7.4 Dương Thanh và Vô Ngôn thông

      7.5 Cao Biền và cuộc chiến chống Nam Chiếu

            An Nam đô hộ phủ vào giữa thế kỷ thứ 9

            Cuộc xâm lược của Nam Chiếu

            Cao Biền phá quân Nam Chiếu

            An Nam đô hộ phủ sau cuộc xâm lược của Nam Chiếu - Tăng Cổn

Chương 8 Độc lập : Họ Khúc và Ngô Quyền

      8.1 Sự sụp đổ của nhà Đường

            Nam Hán cát cứ Quảng Châu

            Họ Khúc dấy nghiệp

            Khúc Thừa Mỹ và cuộc xâm lược của Nam Hán

      8.2 Dương Diên Nghệ và Ngô Quyền

      8.3 Ngô Quyền phá quân Nam Hán

Chương 9 Nhìn lại một ngàn năm Bắc thuộc : tại sao dân Việt không bị đồng hóa ?

Niên biểu các triều đại và sự kiện

Tài liệu tham khảo

Mục lục

**********************

 

Chương 1. Những dữ liệu

 

 

1.1. Những khám phá về khảo cổ học

Kể từ khi nhà khảo cổ học người Đan Mạch Olov Janse khám phá ra nền văn minh Đông Sơn, những cuộc khai quật tiếp sau đó, đặc biệt là trong những năm của thập niên từ 1960 tới cuối thập niên 1980 đã phát hiện rất nhiều bằng chứng về một nền văn minh tập trung trong lưu vực sông Hồng và sông Mã kéo dài hàng ngàn năm từ thời đại đồ đá giữa (mesolithic) qua thời kỳ đồ đá mới (neolithic) cho đến hết thời đại đồng thau (bronze age) và sang đến thời đại đồ sắt mới hết.

Theo các nhà khảo cổ Việt Nam, khu vực hiện nay là miền Bắc Việt Nam là một trong những nơi mà loài người xuất hiện khá sớm. Những di vật tìm được cho thấy con người đã xuất hiện tại miền Bắc Việt Nam cách đây khoảng trên 25 ngàn năm. Nền văn hóa đầu tiên được xác định dựa theo những di vật còn lại được đặt tên là văn hóa Sơn Vi có niên đại khoảng từ 15.000 cho đến 16.000 năm trước Công nguyên. Sau Sơn Vi là Hòa Bình, được ước tính có niên đại khoảng 9.000 năm trước Công nguyên ; và sau Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn. Sơn Vi được coi như là giai đoạn thuộc thời đồ đá cũ (paleolithic). Đến Hòa Bình, các cư dân tại miền Bắc Việt Nam hiện nay đã chuyển sang đến thời đồ đá giữa (mesolithic) và Bắc Sơn là giai đoạn đầu thời đồ đá mới (neolithic).

Vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên, một nền văn hóa mới xuất hiện tại đồng bằng sông Hồng được mệnh danh là văn hóa Phùng Nguyên. Các nhà khảo cổ miền Bắc Việt Nam coi đây là một nền văn hóa chuyển tiếp giữa thời đại đồ đá mới và thời đại đồ đồng. Trong các di chỉ thuộc nền văn hóa này người ta đã phát hiện được các đồ đá, đồ gốm. Đồ đá ở đây không những đạt được đỉnh cao về kỹ thuật mà còn phong phú về loại hình. Đồ gốm bao gồm loại đồ gốm mỏng, độ nung thấp, gốm mềm. Các hoa văn được dùng là loại văn thừng, văn chải, tức là lấy sợi giây thừng ép vào hoặc dùng tay chải để tạo ra những đường cong, đường tròn sinh động và phong phú. Hình dáng đồ gốm cũng có nhiều loại. Có các loại nồi, bình, bát có chân. Tại một vài nơi đã tìm thấy xỉ đồng chứng tỏ rằng vào thời của nền văn hóa này người ta đã bắt đầu biết luyện đồng tuy rằng chưa phổ biến. Văn hóa Phùng Nguyên được coi như là ở vào giai đoạn chuyển tiếp giữa thời đại đồ đá mới sang thời đại đồng thau.

Tiếp sau giai đoạn Phùng Nguyên là giai đoạn mà các nhà khảo cổ gọi là văn hóa Gò Mun. Trong giai đoạn này số lượng và các loại hình đồ đá giảm bớt, chỉ còn tồn tại một số rìu đá và đồ trang sức. Đồ gốm thời đại này được nung ở nhiệt độ cao hơn nên cứng hơn đồ gốm ở thời văn hóa Phùng Nguyên. Hình dáng đồ gốm cũng có những đặc trưng riêng, các hoa văn phần lớn là hoa văn hình học ; về kiểu dáng thì có nhiều loại nồi vò, ly cốc có chân cao, bát, vò có chân thấp hình vành khăn. Tại những địa điềm thuộc di chỉ Gò Mun người ta đã phát hiện được khá nhiều đồ đồng như mũi tên đồng, lưỡi câu, mũi lao, cùng một ít rìu. Đặc biệt trong số đồ đồng đào người ta đã đào được tượng một con gà, đây là một số hiếm hoi các tác phẩm nghệ thuật tìm được trong giai đoạn này.

Văn hóa Gò Mun được coi như là bắt đầu khoảng đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên và kéo dài đến khoảng thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên thì nhường chỗ cho một giai tầng văn hóa mới gọi là văn hóa Đông Sơn. Các di tích của nền văn hóa này được phân bố rộng rãi khắp vùng Bắc bộ và bắc Trung bộ. Trong giai đoạn này, đồ đá hầu như không còn nữa. Đồ gốm về hoa văn đã có tính đơn giản hóa, chủ yếu là văn thừng và chải. Về hình dáng có thêm loại nồi đáy lồi, đáy bằng, ngoài ra cũng bắt đầu xuất hiện loại đồ dùng có nắp đậy. Số lượng đồ đồng thì rất phong phú phổ biến nhất là các loại vũ khí, dao găm, mũi lao, mũi giáo, dụng cụ như rìu, lưỡi liềm, lưỡi hái, đồ đựng như thạp, thố, nhạc cụ như trống, chuông. Đồ đồng Đông Sơn so với thời đại Gò Mun không những khác về trình độ mà cả về phong cách. Giai đoạn Đông Sơn được hầu hết các nhà khảo cổ coi như là giai đoạn thành hình của xã hội cư dân tại vùng châu thổ sông Hồng và sông Mã.

Nguồn gốc của nền văn hóa Đông Sơn hiện vẫn còn là một đề tài tranh luận trong giới khảo cổ. Những nhà nghiên cứu đầu tiên về nền văn hóa này như Janse cho rằng đây là một nền văn hóa du nhập từ bên ngoài vào. Phần lớn coi kỹ thuật đúc đồng của Đông Sơn được du nhập từ vùng Nam Hoa. Sở dĩ họ cho như vậy là vì trong quá khứ, người ta cho rằng kỹ thuật đúc đồng xuất hiện trước tiên tại vùng Hoa Bắc sau đó mới được truyền xuống miền nam. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây của các nhà khảo cổ, nhất là tại vùng đông bắc Thái Lan cho thấy nghề đúc đồng đã xuất hiện tại Đông Nam Á còn trước khi xuất hiện tại Trung Quốc nữa. Thành ra người ta đã có thể khẳng định rằng nghệ thuật đúc đồng Đông Sơn hầu như chắc chắn không phải du nhập từ phương Bắc.

Các công trình nghiên cứu của các nhà khảo cổ Việt Nam miền Bắc cho thấy những trống đồng đầu tiên của nền văn hóa Đông Sơn còn có những quan hệ mật thiết về cơ cấu và trang trí với những đồ gốm thuộc văn hóa Phùng Nguyên đủ để thấy rằng xã hội tạo ra văn hóa Phùng Nguyên và xã hội Đông Sơn có những quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau. Cũng theo những công trình nghiên cứu này thì văn hóa Đông Sơn đã có những mối liên hệ mật thiết với các nền văn hóa Thái Miến ở Vân Nam và Lào, và đặc biệt với một nền văn hóa cổ đại Môn Khmer tại vùng Cánh Đông Chum thuộc cao nguyên Trấn Ninh bên Lào. Cao nguyên Trấn Ninh là con đường bộ tự nhiên nối liền vùng đồng bằng Bắc bộ và bắc Trung bộ với vùng đông bắc Thái Lan hiện nay.

Xã hội Đông Sơn là một xã hội đã phát triển về nông nghiệp. Ngoài ra cơ cấu xã hội cũng diễn biến trở thành phức tạp, có phân chia thành giai cấp. Những lưỡi cầy đồng tìm được chung cùng với xương nhiều trâu bò cho thấy nông nghiệp đã biết dùng sức kéo của gia súc. Những đồ dùng, nhạc khí bằng đồng cho thấy trong xã hội đã có phân hóa giầu nghèo trong khi một loạt những loại vũ khí mới cho thấy rằng xã hội thời Đông Sơn có thể đã phải đối phó với nhiều cuộc chiến tranh hoặc nội bộ hoặc từ bên ngoài.

Việc tìm thấy những quan tài hình thuyền cũng như những mô -típ trang trí trên trống đồng Đông Sơn như hình những chiếc thuyền với những người chèo và những chiến sỹ cầm vũ khí cũng như hình những con chim biển trang trí chứng tỏ rằng nền văn minh Đông Sơn có quan hệ mật thiết với biển và có thể xuất phát từ ngoài biển vào. Những di tích của nền văn hóa Đông Sơn này tồn tại cho đến đầu thiên niên kỷ thứ nhất, trùng hợp với giai đoạn nước Việt Nam của chúng ta bị nội thuộc vào Trung Quốc dưới thời Tây Hán. Tới đây, thời kỳ khuyết sử của chúng ta không còn nữa mà ta đã bắt đầu có những sử liệu thành văn, quan trọng nhất là sử liệu của Trung Quốc.

1.2. Những sử liệu Trung Quốc

Các tài liệu của Trung Quốc nói đến Việt Nam rất nhiều. Nói chung, những tài liệu này có thể được chia thành hai loại, chính sử và dã sử.

Chính sử là sử của các triều đại Trung Quốc, thường do các triều đại sau, dựa vào những tư liệu để lại, viết ra. Có tất cả hai mươi bốn bộ sử như vậy, đi từ bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên viết vào thời Hán Vũ Đế (khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên) đến bộ Thanh Sử viết vào đầu thế kỷ thứ 20. Những bộ sử này, nhất là những bộ sử của các triều đại mà Việt Nam còn là một bộ phận của đế quốc Trung Hoa là nguồn tư liệu quan trọng nhất để tìm hiểu lịch sử nước ta trong thời gian này.

Theo khuôn mẫu đầu tiên được đưa ra bởi Tư Mã Thiên, một bộ chính sử của Trung Quốc bao gồm nhiều phần. Phần thứ nhất gọi là kỷ chép lại những việc xảy ra theo từng năm một của mỗi triều vua Trung Quốc. Sau đó là phần chí cho biết những dữ kiện về hành chánh, địa lý, văn học, thiên văn, luật lệ cho đến cả y phục các quan và dân chúng, vân vân… Chiếu, chế, biểu là phần thứ ba ghi lại những bài có tính cách quan trọng của triều đại, hoặc chiếu của vua hoặc bài biểu các quan trình lên. Và sau cùng là truyện ghi lại tiểu sử của những nhân vật, hoặc trung, hoặc gian, có đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của triều đại. Đặc biệt phần truyện của các bộ sử này thường bao gồm những đoạn kể lại quan hệ giữa đế quốc Trung Hoa và các nước lân bang. Đây là một nguồn tư liệu quan trọng cho việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam và quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc. Ngoài ra có thể liệt vào chính sử những bộ từ điển Bách Khoa như bộ Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường hoặc Thái Bình Hoàn Vũ Ký của Nhạc Sử đời Tống, hoặc một số bộ sử Trung Quốc như bộ Tự Trị Thông giám của Tư Mã Quang thời Tống. Đặc biệt trong những bộ sử loại này có bộ An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng viết vào thời Minh, nhắc lại lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương cho đến hết đời Trần đã tổng hợp khá nhiều những tư liệu tản mạn trong các sách sử của Trung Quốc cho đến thời đó.

Dã sử là những hồi ký, truyện ký, văn thơ hoặc là những bộ sử viết riêng về một sự kiện xảy ra trong quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Những bộ này có thể do các quan lại Trung Quốc được cử sang cai trị Việt Nam hoặc là những người khác có quan hệ đến các sự kiện xảy ra viết lại. Những bộ dã sử này cung cấp thêm rất nhiều tài liệu quý giá mà chính sử vì nhu cầu giản lược không thể chép hết vào được.

Những tư liệu thành văn cổ nhất còn lưu truyền lại đến nay là những bài viết của những sử gia và những quan lại Trung Quốc viết sau khi nước ta trở thành một bộ phận của đế quốc người Hán. Những bộ sách này tuy hầu hết nói đến tình hình nước ta sau khi nội thuộc, nhưng một số cũng nhắc đến những sự kiện vào thời gian mà họ gọi là "đất Giao Chỉ xưa khi chưa chia thành quận huyện".

Có lẽ bộ sách của người Hán đầu tiên có nhắc đến nước ta là bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên viết vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Trong Nam Việt Úy Đà truyện, Tư Mã Thiên đã nhắc đến Âu Lạc và Tây Âu Lạc. Sang đến thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, Ban Cố viết Hán Thư mới lần đầu tiên nhắc đến người Lạc Việt trong Giả Quyên truyện. Tuy nhiên phải đến thế kỷ thứ 4 và thứ 5 sau Công nguyên, các thư tịch Trung Hoa mới nói đến giai đoạn Hùng Vương. Hùng Vương đầu tiên được ghi chép trong thư tịch Trung Quốc trong các cuốn Giao Châu Ngoại Vực KýQuảng Châu Ký. Rất tiếc các sách này sau đó đã thất truyền. Cũng cùng thời với hai cuốn trên là Hậu Hán Thư của Phạm Việp. Trong cuốn này Phạm Việp có nhắc đến Trưng Trắc là con gái Lạc tướng Mê Linh. Ngoại trừ Hậu Hán Thư, tất cả các sách trên đều đã thất truyền, chỉ còn lại một số đoạn trích dẫn trong các sách khác như Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên hoặc Cựu Đường Thư, một bộ chính sử đời Đường. Riêng về tên nước Văn Lang thì phải đợi đến đời Đường mới được nhắc đến khi chỉ định quận huyện ở Giao Châu như sách Thông Điển, một cuốn bách khoa toàn thư thời cổ, do Đỗ Hựu, ông nội của nhà thơ Đỗ Phủ, viết "Phong Châu là nước Văn Lang xưa".

Tuy nhiên khi đọc các sử liệu của Trung Quốc, ta cần phải lưu ý đến hai điều. Thứ nhất những bộ sử này được viết ra dưới nhãn quan của người Trung Quốc. Chính vì vậy những sự kiện được kể lại hầu hết có liên quan đến những hoạt động của các triều đại hoặc các quan lại Trung Quốc tại Việt Nam mà thôi, rất ít khi có những sự kiện gì thuần túy của người Việt được ghi lại trong đó. Thứ hai, những bộ sử Trung Quốc, nhất là chính sử đều được viết ra để bảo vệ cho quan điểm chính thống của các triều đại, trong đó triều vua nào cũng được coi như là có ‘mệnh trời" để cai trị muôn dân cho đến khi ‘mệnh trời" đó bị mất đi vì các triều vua sau đã không giữ được cái hòa khí với trời đất và nhân dân. Chính vì vậy, rất nhiều những sự việc không phù hợp với quan điểm đó đã bị bỏ sót hoặc chỉ được nhắc đến một cách sơ sài, trong khi những hiện tượng mà chúng ta có thể không để ý đến như những điềm lành, điềm gở lại được ghi lại rất cẩn thận. Ngoài ra, vì sử Trung Quốc chỉ ghi lại những điều liên quan đến triều đình Trung Quốc, thành ra vào những thời kỳ loạn lạc tại trung ương, mà cũng chính là những lúc có nhiều biến động nhất xảy ra tại những vùng biên duyên của đế quốc Trung Hoa như Việt Nam, thì các bộ sử này lại thường không ghi chép lại những sự việc xảy ra tại đó mà chỉ tập trung chung quanh các vùng lân cận với kinh đô mà thôi.

Một cuốn sách có thể coi như là cả Việt cả Trung Quốc là cuốn An Nam Chí Lược của Lê Tắc. Lê Tắc là gia thần của Trần Kiện. Trần Kiện đầu hàng nhà Nguyên khi quân Nguyên sang đánh Đại Việt trong thế kỷ 13. Khi Trần Kiện bị quân nhà Trần bắn chết Lê Tắc ôm xác Trần Kiện chạy về được đến Trung Quốc và ở lại Trung Quốc cho đến khi chết. Lê Tắc viết cuốn An Nam Chí Lược này khi ở Trung Quốc và ngoại trừ những sự kiện đương thời hầu hết những sự kiện lịch sử về Việt Nam kể lại trong cuốn này đều dựa vào những sử liệu Trung Quốc. Tuy nhiên vì Lê Tắc là người Việt, sinh ra và lớn lên tại Đại Việt, thành ra mặc dầu đầu hàng Nguyên, nhưng quan điểm viết sử của ông cũng không hoàn toàn là của Trung Quốc. Một số những dữ kiện ghi lại trong An Nam Chí Lược, đặc biệt là về những cuộc nổi dậy của dân Việt dưới thời Bắc thuộc tỷ như cuộc nổi dậy của bà Triệu đã được ghi lại trong Lê Tắc mà không có trong các sử liệu Trung Quốc

1.3. Những sử liệu Việt Nam

Các tài liệu về lịch sử Việt Nam bao gồm rất nhiều thành phần phức tạp mà độ tin cậy thay đổi rất nhiều. Trước hết phải kể đến hai bộ chính sử do sử quan các triều đại viết ra, bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Bộ chính sử đầu tiên còn lưu truyền lại đến nay là bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên và sau đó được nhiều thế hệ sử quan chép thêm vào cho đến cuối đời Lê. Ngô Sỹ Liên đã căn cứ vào hai bộ Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu và Đại Việt Sử Ký Tục Biên của Phan Phù Tiên, thêm phần Ngoại Kỷ viết về thời đại tiền Bắc Thuộc, thành bộ này vào năm 1427. Bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục là cuốn sử Việt Nam viết bằng chữ Hán công phu nhất do các sử quan triều Nguyễn soạn ra. Các tác giả đã tham khảo tất cả những sách xưa biên soạn về lịch sử Việt Nam từ thời Hùng Vương cho đến thời Lê Mẫn Đế (1789) để viết ra bộ này. Hai bộ sử này là những tài liệu không thể thiếu được trong việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam từ thế kỷ thứ 10 đến cuối thế kỷ thứ 18. Ngoài hai bộ chính sử vừa kể trên, bộ Đại Việt Sử Lược là bộ biên niên sử xưa nhất của Việt Nam còn lưu truyền lại đến nay. Bộ này được viết vào thời Trần và đã bị thất truyền tại Việt Nam trong thời thuộc Minh, nhưng may mắn là còn được lưu truyền tại Trung Quốc trong Tứ Khố Toàn Thư. Một số học giả Việt Nam và Trung Quốc cho rằng cuốn Đại Việt Sử Lược này là cuốn Việt Chí của Trần Phổ đầu đời Trần soạn với giai đoạn thời Trần được thêm vào sau. Cuốn Việt Chí là cuốn mà Lê Văn Hưu sử dụng để viết lên cuốn Đại Việt Sử Ký. Tuy nhiên một số học giả tây phương và Nhật Bản lại cho rằng Đại Việt Sử Lược chính là cuốn Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu rút gọn lại.

Ngoài những bộ sử nói trên còn có những bộ sử nói về một số những sự kiện mà chính sử hoặc chép lại không đầy đủ hoặc bỏ sót không nói tức là những bộ "thực lục" như Trung Hưng Thực Lục kể lại cuộc kháng chiến chống quân Nguyên của nhà Trần ; Lam Sơn Thực Lục kể lại cuộc chiến đấu chống quân Minh của Lê Lợi ; Đại Nam Thực Lục ghi lại công nghiệp các chúa Nguyễn tại miền Nam. Một trong những bộ sách có giá trị nữa là bộ Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú ghi lại cuộc đời các danh nhân Việt Nam cùng những chi tiết về tài chánh, kinh tế, luật lệ, văn học của các triều đại trước triều Nguyễn.

Trong các tài liệu về cổ sử Việt Nam có lẽ có giá trị nhất là hai quyển sách xưa, Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên viết vào năm 1329 và Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp viết vào đầu thế kỷ thứ 14 và được Vũ Qùynh và Kiều Phú biên soạn lại vào năm 1498. Tác giả Việt Điện U Linh Tập đã dựa vào những sách mà ngày nay không còn nữa như Giao Chỉ Ký (khuyết danh), Báo Cực Truyện (khuyết danh), Giao Châu Ký của Triệu Xương và của Tăng Cổn đời Đường, Sử Ký của Đỗ Thiện cùng với những chuyện linh thiêng trong dân gian để viết thành sách này. Lĩnh Nam Chích Quái bao gồm những truyện truyền khẩu trong dân gian được sưu tầm và viết lại. Nội dung các truyện trong hai quyển sách này còn có nhiều chỗ hoang đường và ước lệ nhưng cũng phản ảnh được tình hình xã hội của tổ tiên dân Việt thời xa xưa.

Cũng cùng một loại với các truyện trong Việt Điện U Linh TậpLĩnh Nam Chích Quái là những thần tích và ngọc phả các đền thờ tại các làng miền Bắc và miền Trung trong đó có cả ngọc phả đền Hùng và đền Tản Viên cùng với những chuyện cổ tích dân gian về các vị anh hùng dân tộc. Những tài liệu này đã được sưu tầm khá nhiều bởi các nhà sử học từ thời Pháp thuộc cho đến về sau này. Chúng cho những người tìm hiểu về lịch sử Việt Nam nhiều thông tin quý giá. Tuy nhiên những tài liệu đó còn chứa nhiều yếu tố hoang đường thần thoại hơn nữa. Ngoài ra, nhất là những thần tích và ngọc phả khi được viết lại bởi những nhà nho về sau thì đã bị thay đổi và biến chế theo quan điểm lễ giáo đời sau ; tỷ như ngọc phả đền Hùng ghi chép đủ 18 đời vua Hùng vương với đầy đủ duệ hiệu như các vua thời Lê là một điều chắc chắn không thể xảy ra được khi mà tập quán này chỉ mới xuất hiện tại nước ta dưới triều Lý. Hầu hết những thần tích, ngọc phả này được viết lại vào khảng thế kỷ 18 dưới triều Lê Trung Hưng vì vậy ta có thể thấy rõ yếu tố nho giáo đã ảnh hưởng vào những bản văn đó rất nhiều.

1.4. Sử liệu của các nước khác

Từ thế kỷ 16 trở đi, việc liên lạc với các nước phương tây được mở ra, ta có thêm những tài liệu của các thương gia và các nhà truyền giáo phương tây. Những tài liệu này lúc đầu còn ít nhưng càng về sau càng nhiều và ở tản mạn tại các văn khố của nhiều nước cũng như tại Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã. Sang đến thời thuộc Pháp thì những tài liệu này có thể nói là đóng vai trò chính trong việc tìm hiểu lịch sử Việt Nam. Kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt thì những tài liệu về lịch sử Việt Nam lại càng nhiều hơn nữa và trở nên phức tạp hơn vì Việt Nam là một trong những điểm nóng quan trọng nhất của cuộc chiến tranh lạnh và những sự kiện chính trị cũng như kinh tế của Việt Nam nay không còn có thể chỉ tìm ở trong nội bộ Việt Nam hoặc qua những tương tác với vài nước lân bang mà còn phải được tìm hiểu qua những quyết định từ những thủ đô của các cường quốc trên thế giới.


Chương 2. Tổng quan về lịch sử Việt Nam

"Herodotus của Halicarnassus đã viết lại dưới đây những tìm tòi của mình để giữ lại những chuyện của quá khứ, để viết lên những thành quả đáng ngạc nhiên của chính chúng ta và của những dân tộc khác, và đặc biệt để chỉ cho thấy tại sao họ và chúng ta lại đi vào con đường chiến tranh".

Đó là câu mở đầu cuốn lịch sử cuộc chiến giữa đế quốc Ba tư và thế giới Hy Lạp của Herodotus, có thể nói là cuốn lịch sử đầu tiên của nhân loại. Câu này tóm lại một đặc tính căn bản của lịch sử, tức là ghi lại những chuyện xảy ra trong quá khứ. Nhưng cũng như Herodotus đã viết ở trên, ghi lại quá khứ không, không đủ. Lịch sử còn có nhiệm vụ giải thích. Giải thích tại sao mọi chuyện lại diễn ra như vậy, nhất là trong trường hợp lịch sử một dân tộc. Không những chúng ta cần phải tìm hiểu những chuyện gì đã xảy ra cho dân tộc ta, mà ta còn phải tìm hiểu những chuyện xảy ra đó nó ảnh hưởng và đóng góp như thế nào vào sự hình thành của dân tộc.

Người sử gia tìm cách vẽ lại lịch sử vì vậy cần phải tính đến những thay đổi khả dĩ có thể làm thay đổi chiều hướng lịch sử trong mỗi sự kiện lịch sử ghi lại mà nếu không có, có thể khiến lịch sử đi về một hướng khác. Đó là những "bước ngoặc lịch sử" mà không lịch sử dân tộc nào không có.

Lịch sử Việt Nam cũng vậy. Dân tộc ta hiện nay khác hẳn với dân tộc ta cách đây trên hai ngàn năm. Trong quá trình tiến hóa của dân tộc Việt chúng ta đã trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi một bước ngoặc quan trọng mà nếu không xảy ra thì sẽ đưa dân tộc Việt Nam vào một con đường khác, biến diễn biến lịch sử của chúng ta khác hẳn đi. Những bước ngoặc đó tuy không phải ngẫu nhiên, nhưng cũng không tất yếu phải xảy ra. Chúng là một hậu quả vừa của những lực tác động lâu dài, vừa là hậu quả của một số những tình cờ lịch sử, độc nhất có thể không bao giờ xảy ra lần nữa. Mỗi bước ngoặc này mở đầu cho một giai đoạn lịch sử mới mà những diễn tiến của nó lại là tiền đề cho một bước ngoặc tới, đưa lịch sử nước Việt sang một trạng thái khác. Vậy thì những bước ngoặc trong lịch sử Việt Nam là những bước ngoặc nào ?

Nhìn lại lịch sử Việt Nam suốt từ thời lập quốc đến nay, ta có thể thấy nước ta đã trải qua sáu bước ngoặc quan trọng. Bước ngoặc thứ nhất xảy ra khi dân tộc Lạc bắt đầu tiếp xúc với sự bành trướng của Hán tộc từ phương Bắc xuống. Các tiếp xúc này có thể bắt đầu từ thời An Dương Vương nhưng chỉ trở nên chặt chẽ hơn từ khi nước Âu Lạc bị xáp nhập vào quốc gia Nam Việt của Triệu Đà. Trong một thời gian dài kể từ khi An Dương Vương mất nước cho đến cuối nhà Tây Hán, một cuộc đấu tranh âm ỷ diễn ra để xem dân tộc Lạc có thể tồn tại như một dân tộc thuộc nền văn minh Đông Nam Á hay không.

Bước ngoặc lịch sử thứ hai xảy ra khi cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, Mã Viện bắt đầu việc Hán hóa toàn diện xã hội Lạc cũ. Giai đoạn này, kéo dài gần một nghìn năm từ đầu nhà Đông Hán cho đến cuối nhà Đường khi Ngô Quyền cuối cùng đánh bại quân Nam Hán dựng nền độc lập cho dân tộc Việt.

Trong khoảng gần một ngàn năm Bắc Thuộc kể từ sau Mã Viện này, xã hội dân Lạc đã qua nhiều giai đoạn chuyển đổi để trở thành một xã hội khác, xã hội Việt, hầu như khác hẳn với xã hội cũ. Việc chuyển đổi này diễn ra qua nhiều thời kỳ, với mỗi thời kỳ đánh dấu bởi một số những bước ngoặc nhỏ. Thời kỳ đầu tiên có thể gọi là thời kỳ Hán Lạc diễn ra ngay sau cuộc chinh phục của Mã Viện. Trong thời kỳ này, tầng lớp quý tộc cũ của dân Lạc thời Hùng Vương hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn. Một số bị giết. Một số bị lưu đầy sang Trung Quốc - Mã Viện đầy 300 gia đình quý tộc dân Lạc sang Trường Sa, Hồ Nam. Một tầng lớp quý tộc mới xuất hiện bao gồm những quan lại và quân sỹ người Hán theo Mã Viện sang đất Lạc cùng với những tầng lớp quý tộc người Lạc cũ đầu hàng Hán. Đầu tiên tầng lớp quý tộc này đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ cho đất Giao Chỉ tiếp tục nằm trong đế quốc Hán, nhưng dần dà họ bị Lạc hóa và có một nhận thức về sự khác biệt giữa xã hội mà họ sống với xã hội Hán mà họ để lại ở phương Bắc. Giai đoạn này kết thúc với đỉnh cao quyền lực của nhóm này qua vai trò của Sỹ Nhiếp và gia đình họ Sỹ vào thời Tam Quốc. Nhóm này tìm cách tạo ra một sự tổng hợp giữa những giá trị Nam và Bắc, Đông Nam Á và Trung Quốc.

Nhưng việc tiêu diệt gia đình họ Sỹ dưới thời Ngô Tôn Quyền đã làm hỏng những cố gắng đó và mở đầu cho một thời kỳ mới, tạm gọi là thời kỳ Lạc Việt. Xã hội tại Giao Châu dưới thời Tôn Quyền không còn là xã hội cũ nữa mà đã bị Hán hóa rất nhiều. Từ Lạc xã hội này đã trở thành Việt. Những cố gắng cuối cùng của một số những quý tộc Lạc cũ tại những vùng xa ảnh hưởng của Trung Quốc như cuộc khởi nghĩa của bà Triệu đã thất bại. Trong giai đoạn này xã hội, đặc biệt là tầng lớp quý tộc Giao Châu bị dao động dưới hai khuynh hướng, khuynh hướng trung thành với đế quốc Hán và khuynh hướng muốn tách khỏi đế quốc Hán để tạo dựng lên một quốc gia riêng của mình. Các cuộc tranh chấp này được tiêu biểu bởi hai giòng họ, họ Lý và họ Đỗ, trong đó họ Đỗ đại biểu cho khuynh hướng trung thành với đế chế và họ Lý chủ trương tách ra thành một quốc gia riêng.

Các cuộc đấu tranh bên trong nội bộ giữa các giòng họ chung quanh việc trung thành hay không đối với đế chế đã kết thúc với cuộc khởi nghĩa của Lý Bí và việc thành lập đất nước Vạn Xuân. Khuynh hướng độc lập đã chiến thắng và chỉ còn vấn đề thời gian trước khi vùng Giao Châu trở thành một nước độc lập tách rời ra khỏi đế quốc Trung Hoa. Cũng trong giai đoạn này, một biến đổi lớn xuất hiện tại vùng đồng bằng sông Hồng. Sau mấy trăm năm dưới sự kiểm soát của đế quốc Trung Hoa, những làng mạc tại vùng này đã bắt đầu bị ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa thống trị, mở đầu cho sự phân tách dân Lạc cổ thành ra hai tộc người khác nhau, Việt và Mường. Sự phân chia này cuối cùng đã hoàn tất trong giai đoạn thuộc nhà Đường. Sự tham gia của Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục vào cuộc khởi nghĩa của Lý Bí đánh dấu sự đồng hóa hoàn toàn của những người Hán ngụ cư vào xã hội Lạc Việt.

Thời gian độc lập của Lý Bí và những người thừa kế ông như Triệu Quang Phục, Lý Phật Tử kéo dài được 60 năm, một giai đoạn kéo dài hai thế hệ và đã để lại một dấu ấn sâu rộng vào trong lòng xã hội Việt. Chính vì vậy mà ba trăm năm thuộc Đường, một đế quốc có một nền văn minh vào hàng rực rỡ nhất của nhân loại cũng không thể nào khiến cho dân Việt chấp nhận ở lại trong lòng đế chế nữa. Trong giai đoạn này, giai đoạn Đường Việt, dân Việt hấp thụ rất nhiều từ nền văn minh Đường, ngay cả trong ngôn ngữ - việc tách rời tiếng Việt khỏi tiếng Mường bắt đầu từ giai đoạn này. Chế độ cai trị thời Đường cởi mở hơn cho những người sống tại Giao Châu, có những người Việt đã thành đạt lớn tại triều đình Đường, như Khương Công Phụ trở thành tể tướng thời Đường Đức Tông. Nhưng những điều đó không đủ ngăn chặn những khát vọng độc lập của người Việt. Và khi nhà Đường suy yếu và sụp đổ, cơ hội độc lập đã đến. Sau một thời gian dài tự trị dưới thời họ Khúc, đất Việt đã hoàn toàn được giải phóng và trở thành một quốc gia độc lập dưới Ngô Quyền.

Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đánh dấu một bước ngoặt mới quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Mặc dầu còn những liên hệ mật thiết với đế quốc Trung Hoa, nhưng vận mệnh đất Việt không còn gắn liền với vận mệnh đế quốc này nữa. Người Việt đã có thể tự do vạch một con đường cho đất nước và dân tộc mình. Xã hội mà Ngô Quyền thành lập vương triều mới là một xã hội phong kiến cát cứ, có nhiều điểm tương tự với xã hội phương Tây thời Trung cổ. Sau nhiều thập niên loạn lạc vào cuối triều Đường, những hào tộc ở các địa phương đã tự thành lập những tiểu vùng dưới sự cai quản của mình và trở thành những lãnh chúa. Giống như những lãnh chúa tại phương Tây, họ chịu sự quản chế phần nào của chính quyền trung ương nhưng hầu như độc lập trong vùng lãnh thổ của họ. Tuy nhiên trái với tình trạng của phương Tây thời Trung cổ, xã hội phong kiến Đại Việt lúc đó không có những đô thị với tầng lớp thị dân làm một đối trọng đối với các lãnh chúa và triều đình trung ương. Chính vì vậy mà chế độ phong kiến Đại Việt đã không tạo ra được những sự thay đổi dẫn đến một thể chế dân chủ như tại Tây phương.

Chế độ phong kiến Đại Việt trong những năm đầu sau khi nhà nước Đại Việt mới được thành lập chịu những áp lực phân hóa địa phương rất mạnh. Tàn dư của những tinh thần địa phương đó còn tồn tại cho đến ngày nay. Sau khi Ngô Vương mất, lực ly tâm của cái tinh thần địa phương này đã tạo ra tình trạng Thập Nhị Sứ Quân. Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn Thập Nhị Sứ Quân, kiến lập ra triều Đinh, nhưng vẫn không có thay đổi gì trong xã hội. Xã hội Đại Việt dưới các triều Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần vẫn là một xã hội phong kiến, phân chia rõ rệt thành các giai cấp trong đó giai cấp quý tộc là giai cấp thống trị.

Mặc dầu dưới chế độ phong kiến này, công và thương không bị coi rẻ như ở những triều đại sau, công nghệ và thương mại đạt được nhiều bước phát triển tốt đẹp, nhưng thiếu những thành thị lớn với một tầng lớp thị dân độc lập cho nên không thể tạo ra được một giai tầng thứ ba (third estate). Cơ sở tài chánh nhà nước vẫn nằm ở trong tay nông dân tại các làng xã mà một phần đã bị chia sẻ cho các tầng lớp quý tộc qua các điền trang. Chính vì vậy khi chế độ phong kiến bắt đầu suy thoái, khi kinh tế điền trang chiếm quá nhiều các tài nguyên của nhà nước, thì một cuộc khủng hoảng xảy ra mà hầu như không có biện pháp giải quyết. Cuộc khủng hoảng vào cuối triều Lý đã không được giải quyết tận gốc mà chỉ thay thế một tầng lớp quý tộc cũ của triều Lý bằng một tầng lớp quý tộc mới của triều Trần. Những chính sách mà triều đình nhà Trần đưa ra trong những năm đầu, hạn chế bớt điền trang của các quý tộc, khuyến khích nông nghiệp đã tạo được một số những ổn định trong đời sống xã hội, nhưng ba cuộc chiến tranh chống nhà Nguyên liên tiếp trong ba mươi năm đã làm đất nước kiệt quệ. Việc phát triển thái ấp điền trang vào cuối triều Trần cũng có tác động như vào cuối triều Lý. Nó làm cho chính quyền trung ương càng ngày càng không có đủ nhân lực cũng như tài lực để đối phó với những khó khăn thời thế tạo ra. Các cải tổ của cha con Hồ Quý Ly nhằm củng cố chính quyền trung ương, hạn chế điền trang, hạn chế nô tỳ chỉ là những biện pháp nửa vời không có tác dụng bao nhiêu. Và đất nước lại một lần nữa rơi vào tay đế quốc Trung Hoa khi nhà Minh dưới triều Vĩnh Lạc trở nên cường thịnh muốn phát triển sức mạnh của họ ra ngoài biên giới truyền thống của đế chế.

Hai mươi năm cai trị của nhà Minh đã đẩy xã hội Đại Việt đi vào một bước ngoặt mới. Trong cố gắng đồng hóa dân Đại Việt, nhà Minh đã mang toàn bộ thể chế xã hội tại Trung Quốc áp dụng vào Đại Việt. Xã hội phong kiến cũ dưới thời Lý Trần có thể coi như toàn bộ bị xóa bỏ. Một xã hội mới được tạo dựng lên, trong đó giai cấp quý tộc cũ không còn quyền hành nữa. Những cố gắng "Nho hóa" của triều Minh đã được triều Lê sau đó tiếp tục, nhất là dưới triều Lê Thánh Tông. Các tầng lớp quý tộc thời Lê, những vương công đại thần nay không còn có điền trang thái ấp nữa. Họ cũng không có quyền có nô tỳ, có quân đội riêng. Quyền lực tập trung vào trong tay chính quyền trung ương. Xã hội dưới triều Hậu Lê được tổ chức rập khuôn như xã hội Trung Quốc ; thành phần sĩ phu được coi trọng trong khi công và thương nghiệp bị coi rẻ.

Tuy rằng triều Lê đã cố gắng để loại bỏ những thế lực địa phương, tập trung chính quyền vào trung ương nhưng cố gắng này không hoàn toàn thành công. Sự suy thoái của nhà hậu Lê, bắt đầu từ sau khi Hiến Tông băng, đã mở đường cho cuộc tranh chấp giữa những tập đoàn miền đồng bằng sông Hồng và những tập đoàn miền Thanh Nghệ với hậu quả là đất nước Đại Việt bị chia cắt thành hai, một bên là tập đoàn đồng bằng sông Hồng đại biểu là nhà Mạc và bên kia là tập đoàn miền Thanh Hóa đại biểu là họ Trịnh, mang tiếng phù Lê nhưng thực tế là nắm toàn bộ chính quyền trong tay mình. Cuộc nội chiến giữa họ Trịnh và nhà Mạc chưa chấm dứt thì trong nội bộ hai phe Thanh Nghệ lại có sự chia rẽ. Họ Nguyễn, một trong những tập đoàn lớn ở miền Thanh Nghệ và liên minh với họ Trịnh chống lại nhà Mạc tách ra lập một triều đại mới ở vùng Thuận Quảng. Cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn kéo dài trên 200 năm với những giai đoạn dài đình chiến cho đến khi một hậu duệ của họ Nguyễn, Nguyễn Ánh thống nhất đất nước vào năm 1800.

  • Một bước ngoặt mới trong lịch sử Đại Việt đã xuất hiện vào thế kỷ thứ 17. Với sự hiện diện của người Âu, một tôn giáo khác cũng xuất hiện và càng ngày càng đóng một địa vị quan trọng trong lịch sử nước ta : Thiên Chúa giáo.

Những người Âu đầu tiên đến Việt Nam là người Bồ Đào Nha. Ngay từ năm 1516 đã có những tầu buôn Bồ Đào Nha cập bến các hải cảng Việt Nam và Chiêm Thành để buôn bán. Cho đến khoảng giữa thế kỷ 16, một số những giáo sỹ Bồ Đào Nha cũng đã có mặt để truyền giáo. Tại Việt Nam những người này hầu hết cập bến trong vùng kiểm soát của chúa Nguyễn vốn nằm trên hải lộ đi từ Ấn Độ Dương sang Trung Quốc. Tiếp theo người Bồ Đào Nha lần lượt xuất hiện những tầu buôn của các nước Hòa Lan, Anh và Pháp với công ty hàng hải Đông Ấn Hòa Lan (VOC), Anh (EIC) và Pháp (CIO)

Sự hiện diện của các tập đoàn người Âu đó đã làm thay đổi cục diện chiến tranh giữa các nước tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Súng và nhất là đại bác đã xuất hiện từ trước khi người Âu sang đến vùng này. Ngay từ đầu thế kỷ 15, con trưởng của Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng đã biết đúc súng thần công để chống quân Minh (Hồ Nguyên Trừng sau này được quân Minh đem về Bắc và giúp nhà Minh lập ra đội Thần Cơ Doanh (pháo binh) để chống lại quân Mông Cổ). Nhưng kỹ thuật vũ khí của người Âu nhất là trên phương diện hải quân đã vượt xa khả năng kỹ thuật của các chúa Trịnh, Nguyễn của Việt Nam cũng như là các vua chúa khác trong vùng Đông Nam Á.

  • Vào lúc đó, vũ khí do người Âu làm ra được coi như là những vũ khí tốt nhất trên thế giới và cả hai bên đều muốn lợi dụng những khả năng chuyên môn của người Âu để đạt được ưu thế đối với bên kia. Trong cuộc chạy đua kiếm ngoại viện này, vùng Đàng Trong của các chúa Nguyễn có ưu thế hơn Đàng Ngoài của chúa Trịnh vì vùng biển miền Trung của chúa Nguyễn nằm ngay trên đường hàng hải quốc tế từ Âu châu sang Trung Quốc vốn là mục tiêu chính của các cuộc buôn bán của người Tây Dương. Tại Huế, các chúa Nguyễn đã thuê một người Bồ Đào Nha, Joao da Cruz lập một xưởng đúc súng để cung cấp pháo binh cho đàng trong vào cuối thế kỷ thứ 16, trước cả khi các nhà truyền giáo đến Việt Nam. Các chúa cũng thuê các pháo thủ Bồ Đào Nha để huấn luyện cho binh sỹ của mình về pháo binh. Đó là một yếu tố quan trọng giúp họ Nguyễn chiến đấu được cân bằng với họ Trịnh (G. Maybon, Histoire moderne du pays d'Annam 1592-1820). Ngoài nguồn súng tự cấp và mua của người Bồ Đào Nha, các chúa Nguyễn còn một nguồn khác về súng là do các tầu buôn nước ngoài bị đắm ở ngoài khơi bờ biển miền Trung. Các vụ đắm tầu này xảy ra rất nhiều trong nửa đầu của thế kỷ thứ 17 vì các nhà hàng hải lúc đó còn chưa am tường vị trí những hòn đảo và bãi đá ngầm chung quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tầu đắm này đều bị các chúa Nguyễn tịch thu, xung công các hàng hóa và vũ khí. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những cuộc đụng độ giữa chúa Nguyễn và các công ty Đông Ấn của Anh và Hòa Lan khiến các công ty này đi ra miền Bắc thông thương với chúa Trịnh. Công ty Đông Ấn của Hòa Lan còn đã có lần liên minh với chúa Trịnh để tấn công chúa Nguyễn, nhưng đã không thành công. Quân đội chúa Nguyễn trong thời đó được coi như là một quân đội mạnh nhất của Đông Nam Á, đặc biệt là về hải quân.
  • Tình hình thay đổi vào cuối thế kỷ thứ 18 khi triều chính của cả hai nhà Trịnh Nguyễn đều suy thoái. Cuộc khởi nghĩa nông dân của anh em nhà Tây Sơn đã quét sạch cả hai triều đại vào trong bóng tối của lịch sử mang theo cả ngai vàng vua Lê vốn đã không còn ý nghĩa gì từ gần hai trăm năm. Sau khi đánh bại đội quân xâm lược của nhà Thanh sang can thiệp theo lời khẩn cầu của vị vua cuối cùng triều Lê, Lê Chiêu Thống, đối thủ cuối cùng của nhà Tây Sơn là một di duệ của giòng họ Nguyễn, Nguyễn Ánh.
  • Quan hệ phức tạp giữa chính quyền của các chúa cũng như của Tây Sơn đối với các nước phương Tây cũng thể hiện qua chính sách của các chính quyền này với những người theo đạo Thiên Chúa. Đối với các chúa, đạo Thiên Chúa chỉ là một giáo phái dân gian, chỉ cần phải đàn áp khi tôn giáo này tỏ ra muốn thách đố quyền cai trị của họ. Nhưng vấn đề có phức tạp hơn vì những người truyền giáo là những người Âu và những người này, hay ít nhất là những đồng hương của họ, nắm trong tay bí quyết làm ra những vũ khí mà sự hiệu nghiệm cao hơn là vũ khí mà các vương triều Đại Việt có thể làm được. Chính vì vậy mà những giáo đồ Thiên Chúa giáo trở thành những con tin để cho các chúa, nhất là chúa Trịnh dùng để uy hiếp các giáo sỹ lấy vũ khí.
  • Miền Bắc ở cách khá xa đường hàng hải chính đi từ châu Âu sang Trung Quốc và Nhật Bản. So với miền Nam, miền Bắc có ít sản phẩm có thể bán được sang các nước châu Âu hơn. Chính vì vậy mà các chúa Trịnh đã dùng những biện pháp khác nhằm thu hút sự giúp đỡ của các người Tây Dương. Một trong những biện pháp được sử dụng là tôn giáo. Trong suốt thế kỷ 17 và nửa đầu thế kỷ 18, các chúa làm áp lực với Macao qua các giáo sỹ giòng Tên (Jesuit). Việc đàn áp hoặc thả lỏng cho các tín đồ công giáo cũng như là việc truyền đạo của các giáo sỹ tùy thuộc vào các đơn đặt hàng - phần lớn là những khẩu trọng pháo - có đến hay không hoặc là đến sớm hay đến muộn.
  • Cuộc chiến đấu giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn cuối cùng đã kết thúc với chiến thắng của Nguyễn Ánh được sự trợ giúp của những lính đánh thuê phương tây do một giáo sỹ Thiên chúa giáo La Mã, Bá Đa Lộc tuyển từ bên Pháp sang sau khi thỏa hiệp Versailles ký giữa đại diện của Nguyễn Ánh với vương triều Pháp của vua Louis 16 không được thi hành vì những biến động cách mạng tại Pháp. Nhưng không phải chỉ Nguyễn Ánh cầu viện sự giúp đỡ của các nước Tây Phương. Phía Tây Sơn, Nguyễn Nhạc đã từng đề nghị một liên minh với Anh và Nguyễn Huệ cũng nhiều lần ngỏ ý với Bồ Đào Nha để mua vũ khí và tuyển huấn luyện viên cho quân đội của mình nhưng không thành công.
  • Trên phương diện văn hóa văn hóa xã hội, các thế kỷ mà đất Đại Việt bị chia cắt này lại là những thế kỷ mà tiếng Việt được hoàn chỉnh. Nền văn học chữ nôm, phát xuất từ những năm đầu đời Trần đã lên đến một đỉnh cao vào cuối thế kỷ thứ 18. Trong khi đó xã hội Đại Việt, mặc dầu những cố gắng "nho hóa" của thời Lê Sơ đã dần dần tách ra khỏi lý tưởng Nho Giáo đó. Tại miền Bắc tuy rằng các kỳ thi tuyển vẫn được mở ra thường xuyên, nhưng số người được đỗ càng ngày càng ít đi. Tại miền nam, các kỳ thi hầu như không được mở ra và các chúa Nguyễn đã trở lại như những triều đại độc lập đầu tiên, dựa vào Phật Giáo để tiện việc cai trị. Việc chúa Nguyễn đứng ra lập chùa Thiên Mụ tại Huế là một bằng chứng điển hình.
  • Trên phương diện kinh tế, mặc dầu nông nghiệp vẫn là chính, và các nghề công thương bị coi rẻ, nhưng việc tiếp xúc buôn bán với phương tây cũng đã thúc đẩy việc xuất hiện một tầng lớp phú thương. Nguyễn Hữu Chỉnh là một trong những người xuất thân từ tầng lớp thương nhân này. Mặc dầu vậy, sự phân chia Đại Việt thành ra hai vương triều khác biệt trong đó mọi liên lạc và quan hệ giữa nhân dân hai miền hầu như đều bị cấm đoán đã tạo thành ra hai xã hội có nhiều đặc tính khác nhau. Sự cách ly giữa hai miền tuyệt đối đến nỗi, năm 1714, chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu muốn dò xét tình hình Đàng Ngoài đã phải nhờ h