Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Khi liên minh NATO ăn mừng sinh nhật 50 tuổi trong một hội nghị thượng đỉnh tại Washington, Tổng thống Bill Clinton tìm cách trấn an các đồng minh Châu Âu của Mỹ về sự cam kết của Mỹ đối với vùng này. Dẫn lời Tổng thống Theodore Roosevelt, ông Clinton nói chắc chắn là Mỹ sẽ còn "đóng một vai trò lớn trên thế giới. Vấn đề độc nhất là vai trò đó là tốt hay xấu…".

AFP_1FC562

Tổng Thư Ký NATO Jens Stoltenberg đánh dấu kỷ niệm 70 năm thành lập của liên minh quân sự này với một bài phát biểu hiếm hoi trước Quốc Hội Mỹ vào hôm 3 tháng Tư, 2019, khi nói : "NATO là có lợi cho Châu Âu nhưng NATO cũng luôn có lợi cho Hoa Kỳ". (Hình : Mandel Ngan/AFP/Getty Images)

Vào lúc đó, các lãnh tụ Châu Âu còn có thể mỉm cười trước câu này, nhưng vào lúc NATO chuẩn bị cho sinh nhật 70 tuổi tại Washington tuần này, cái mai mỉa trong nhận xét của ông Clinton nay mới thấy thấm thía.

Lễ kỷ niệm sinh nhật của khối liên minh này đã cho thấy một cách hiển hiện những căng thẳng trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương mà đang từ từ xé tan liên minh kể từ khi ông Donald Trump lên nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ.

Nhưng đối với một số nhà quan sát Châu Âu, những quan điểm của ông tổng thống Mỹ về Châu Âu tuy rằng đi ra ngoài mức độ lịch sự, không phải là một ngoại lệ nhưng chỉ là một phản chiếu của tình trạng mờ nhạt dần trong cam kết của Hoa Kỳ đối với Châu Âu.

Một số tại Châu Âu nay nhìn thái độ của ông Trump đối với quan hệ Mỹ Âu như là một phần của một thay đổi có tính lâu dài trong cách Washington nhìn thế giới. Họ chỉ ra một sự quan tâm càng ngày càng tăng đối với Trung Quốc và cuộc đấu tranh giữa siêu cường và một niềm tin, không phải chỉ riêng của ông Trump, rằng chỉ triển khai quân đội Mỹ một cách dè dặt và Châu Âu phải lãnh lấy thêm trách nhiệm bảo vệ cho mình tuy rằng theo các điều kiện của Washington.

"Quan hệ xuyên Đại Tây Dương đang thay đổi ; nó bắt đầu trước khi Trump lên làm tổng thống và sẽ còn tiếp tục sau Trump". Đó là nhận xét của bà Sophia Bosch, một nhà nghiên cứu tại cơ quan nghiên cứu Centre for European Reform. Bà nói thêm : "Thái độ nói rằng Hoa Kỳ không được gì từ liên minh là của riêng ông Trump. Nhưng việc chuyển sự quan tâm sang Châu Á và một sự ngần ngại không muốn dính líu về quân sự phản ảnh những kinh nghiệm uốn nắn tư duy của cả một thế hệ các lãnh tụ Mỹ tương lai".

Một dấu hiệu rõ rệt về sự chia cách giữa Washington và các thủ đô Châu Âu kể từ khi ông Trump lên làm tổng thống là lãnh tụ các nước hội viên sẽ không có mặt tại buổi lễ sinh nhật 70 tuổi của NATO khác với các cuộc lễ sinh nhật 50 và 60 tuổi trước kia. Phải đến tháng Chạp năm nay, lãnh đạo các quốc gia trong NATO mới dự trù họp tại Luân Đôn.

Đối với một số nhà quan sát Châu Âu, những khó khăn hiện nay trong quan hệ với Hoa Kỳ chỉ là một hồi chuông báo thức muộn về những thực thể chiến lược vốn đã xuất hiện từ sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt.

Bà Nathalie Tocci, giám đốc Viện Nghiên Cứu Các Vấn đề Quốc Tế (Institute of International Affairs) của Ý, nhận xét rằng "sự thất bại không nhận thức được sớm hơn" là "cái hubris lớn của chúng ta". Bà nói : "Chúng ta cảm thấy rằng không cần thiết. Nó là lúc lịch sử kết thúc, đối với chúng ta cũng như đối với Hoa Kỳ. Chúng ta không nhận thức bởi vì chúng ta cảm thấy không cần thiết phải nhận thức". Bà Tocci hiện đang làm cố vấn cho Liên Hiệp Châu Âu về chiến lược toàn cầu.

Rất nhiều những chỉ trích của ông Trump về quan hệ xuyên Đại Tây Dương không phải là mới. Các vị tổng thống Hoa Kỳ từ cả hai đảng đều đã đưa ra những chỉ trích tương tự nhất là việc Châu Âu cần phải chi thêm cho việc bảo vệ an ninh cho chính mình.

Năm 2011, ông Robert Gates, bộ trưởng Quốc Phòng trong chính phủ Obama, đã đưa ra một lời cảnh cáo trong bài diễn văn giã từ tại Brussels đối với những quốc gia "hưởng thụ những quyền lợi của một thành viên NATO nhưng lại không muốn chia sẻ các nguy cơ và chi phí". Nhiều người Âu cũng nhận thức thấy điểm này. Trong số 29 quốc gia thành viên chỉ có sáu quốc gia ngoại trừ Hoa Kỳ là có chi phí quốc phòng đạt chỉ tiêu 2% GDP vào năm 2018. Nhưng chi phí quân sự của Châu Âu cũng bắt đầu gia tăng ngay từ trước khi ông Trump bước vào Tòa Bạch Ốc vào tháng Giêng, 2017, một phần vì những áp lực của Hoa Kỳ nhưng một phần nữa là vì cú sốc của việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine vào đất mình.

Nhưng mặt khác Mỹ lại nhìn một cách ngờ vực những cố gắng của Liên Hiệp Châu Âu trong việc thúc đẩy hợp tác quân sự giữa các nước Châu Âu. Thành ra tuy rằng Mỹ kêu gọi Châu Âu chi thêm cho quốc phòng nhưng lại không muốn các quốc gia này có thể phát triển lực lượng quân sự của riêng họ bên ngoài khuôn khổ NATO và trở nên quá độc lập với Hoa Kỳ. Và ông Trump chỉ làm cho một cuộc tranh cãi lâu dài trở thành gay gắt hơn. Năm ngoái ông đã chỉ trích Tổng thống Pháp Emmanuel Macron về môt đề nghị "nhục mạ" (đối với Mỹ) rằng Liên Hiệp Châu Âu cần phải tổ chức quân đội cho riêng mình.

Nhưng cuối cùng thì số phận NATO tùy thuộc vào một nhận thức là cam kết của Hoa Kỳ có giá trị đến mức nào. Như ông Philip Gordon, một viên chức cao cấp trong chính quyền Obama, nhận xét : "NATO chỉ có giá trị khi mà người ta tin rằng Hoa Kỳ sẽ chấp nhận chiến tranh để bảo vệ các nước Châu Âu. Nếu ta không còn tin điều đó thì NATO không còn hiện hữu nữa".

Căng thẳng hiện nay có tính lâu dài bởi vì nó có tính cơ cấu. Và về lâu về dài Âu Châu sẽ phải chọn con đường của riêng mình. Trong khía cạnh đó, có lẽ Âu Châu nên cảm ơn những lời lẽ tàn bạo của Tổng thống Trump, vì nó làm Âu Châu cảm thấy không còn trông cậy được vào Hoa Kỳ nữa. 

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 03/04/2019

Published in Diễn đàn

Khi những tên da trắng độc tôn Mỹ tụ họp tại Charlottesville, Virginia, vào tháng Tám, 2017, hò reo "chúng sẽ không thay thế chúng ta" hoặc là "đám Do Thái sẽ không thay thế chúng ta" thì không có bao nhiêu người trong bọn họ biết những khẩu hiệu này đến từ đâu. Ngược lại, Brenton Tarrant, tên khủng bố người Úc bị tố cáo là đã bắn chết 50 người và làm bị thương hàng chục người khác tại một đền thờ Hồi giáo tại Christchurch, New Zealand, thì đã nói rõ những ý tưởng cực đoan của y đến từ đâu.

CORRECTION New Zealand Mosque Shooting

Người dân mang hoa đến tưởng niệm những nạn nhân bị sát hại gần đền thờ Hồi giáo Al Noor ở thành phố Christchurch, New Zealand. Cuộc thảm sát của một tay súng đã cướp đi sinh mạng của 50 người và hàng chục người khác bị thương vào Thứ Sáu, 15 tháng Ba. (Hình : AP Photo/Vincent Thian)

Trong một bản tuyên ngôn dài 74 trang, y đã ca tụng tên giết người hàng loạt người Na Uy Anders Breivik cũng như tỏ lòng thán phục tên lãnh tụ đảng phát xít Anh trong Thế Chiến Thứ Hai, Oswald Mosley.

Nhưng những tư tưởng của một người Pháp mới đóng vai trò chính trong đầu óc của hắn.

Bản tuyên ngôn của hắn có vẻ đã lấy từ cuốn sách của một tác giả chống di dân người Pháp có tên là Renaud Camus, và đi đến mức đã đạo luôn cả cái tên cuốn sách của Camus "Le Grand Remplacement" (Cuộc Thay Thế Lớn) làm chủ đề của mình. Chủ đề "thay thế" đã trở thành thông dụng trong các chính trị gia cực hữu của Châu Âu và thường được đưa ra trong các cuộc tranh luận về di dân.

Mặc dầu Camus, đối diện trước một loạt các chỉ trích trên Twitter, đã lên án vụ thảm sát tại New Zealand này nói rằng : "Tôi thấy hành động này là phạm tội, ngu xuẩn và đáng kinh tởm" cũng như tố cáo Tarrant là "sử dụng vô lý một câu không phải của mình mà rõ ràng là anh ta cũng không hiểu".

Nhưng nghi can giết người này trong bản tuyên ngôn của mình rõ ràng là đã lấy lại của Camus nhiều đề tài, quan trọng nhất là trong nỗi lo sợ bị xóa sổ về dân số qua việc một tập thể dân mới thay thế tập thể dân cũ trong một tiến trình mà Camus nhấn mạnh là giống như một chính sách thực dân.

Trong bài tiểu luận "Pegida, Mon Amour" Camus ca tụng tổ chức công khai chống Hồi giáo Pegida của Đức như là "hy vọng lớn nổi lên tại phương Đông" và là một "mặt trận giải phóng" vốn đang "đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân". Đối với Camus, Châu Âu đang rơi vào "trong một tiến trình bị chinh phục, trong đó chúng ta là những dân thuộc địa bản xứ" và vũ khí sử dụng là "con số khổng lồ những di dân mới được dùng để đè bẹp những người bản xứ cũ".

Tarrant đã lập lại những ý tưởng này qua bản tuyên ngôn : "Hàng triệu người đang đổ qua biên giới chúng ta… được mời bởi nhà nước và các công ty để thay thế dân tộc Da Trắng vốn đã không sinh đẻ đủ, không cung cấp được lao động rẻ tiền, những người tiêu thụ mới và cơ sở đóng thuế mà các nhà nước và doanh nghiệp cần có để phát triển".

Và kết luận : "Cuộc khủng hoảng di dân ào ạt và sinh đẻ không đủ để thay thế là một cuộc tấn công vào những dân tộc Châu Âu mà nếu không chống lại sẽ dẫn đến việc các dân tộc Châu Âu bị hoàn toàn thay thế về phương diện chủng tộc và văn hóa".

Những e sợ về sự giảm sút số dân da trắng và gia tăng mau chóng những di dân không phải da trắng, đặc biệt là những người Hồi giáo đã trở thành điểm chính trong nghị trình của các đảng dân tộc của người da trắng trên toàn thế giới. Trong thế kỷ thứ 20, nguồn gốc của nỗi lo sợ này có thể tìm thấy phát xuất đầu tiên qua viễn tượng "tận thế" của Encoh Powell, chính trị gia chống di dân của Anh, mà bài diễn văn nổi tiếng chống di dân trong thập niên 1960 nói đến một nước Anh chìm đắm trong biển máu vì di dân và một tác giả người Pháp Jean Raspail. Cả hai người đều đã được Camus ca tụng như là những "nhà tiên tri" trong cuốn "Le Grand Remplacement".

Raspail mô tả một Châu Âu trong đó những người tị nạn đến "sẽ chiếm hết tất cả những giường bệnh viện của chúng ta để cho những kẻ khốn nạn đầy ghẻ lở, dịch tả có thể chui vào nằm giữa hai tấm trải giường trắng phau sạch sẽ của chúng ta. Những kẻ khác sẽ làm tràn ngập những lớp mẫu giáo sáng sủa nhất, vui vẻ nhất của chúng ta với những trẻ em quái vật của chúng". Và Raspail đặc biệt lo sợ tình trạng giao phối hỗn chủng : "Một kẻ khác sẽ giảng dạy làm tình không giới hạn nhân danh một chủng tộc duy nhất trong tương lai".

Cuốn tiểu thuyết "Le Camp des Saints" của Raspaol xuất bản năm 1973 đã trở thành sách gối đầu giường của một loạt các nhân vật cực hữu từ Marine Le Pen của Pháp cho đến Steve Bannon, cựu cố vấn cho Tổng Thống Donald Trump của Mỹ, và dân biểu da trắng độc tôn Steve King của tiểu bang Iowa. Năm 2015, trong cuộc khủng hoảng những người tị nạn Syria tại Châu Âu, Marine Le Pen đã kêu gọi các ủng hộ viên của bà hãy đọc Raspail để ngăn chặn nuớc Pháp khỏi bị tràn ngập.

Như nhà báo Thomas Chatterton Williams viết trên tờ New Yorker một ít lâu sau vụ Chatlottesville, Camus thông thường đóng vai trò "một kẻ phản động đứng đắn bởi vì sự chống đối của y đối với đa văn hóa toàn cầu thì có thể đáng tin cậy là khách quan, chủ yếu là có tính thẩm mỹ, ngay cả lịch sự, khác hẳn với cái thô tục của đám đầu trọc và những kẻ xâm mình da trắng độc tôn vốn là những tên đưa vào hành động những ý tưởng bài ngoại diễn tả trong ‘Le Grand Remplacement.’"

Trong những ngày giờ sau vụ thảm sát tại New Zealand, Camus đã "tweet" lại một câu học được của tổ chức National Rifle Association của Mỹ : "Súng bắn chết người, không phải tư tưởng".

Nhưng nếu vì chịu ảnh hưởng của mình mà có những kẻ làm những chuyện khủng bố như Tarrant thì dù có lên án bạo động đến đâu chăng nữa, Camus cũng không thể trốn tránh được trách nhiệm. 

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 20/03/2019

Published in Diễn đàn

Trong một câu chuyện gần đây với mấy người bạn, biết rằng tôi đang viết một cuốn sách về các nền văn minh, một anh bạn bỗng hỏi, trong tình trạng hiện thời, vậy thì nguy cơ nền văn minh của chúng ta sụp đổ có nhiều khả năng đến đâu. Câu hỏi này bỗng làm tôi suy nghĩ nhiều và sau đây là môt số suy nghĩ để trình bày với quý vị độc giả.

vanminh1

Các sử gia, các nhà nhân chủng và những chuyên gia khoa học xã hội khác đưa ra giải thích các cuộc sụp đổ của các nền văn minh trong quá khứ, một trong số đó có việc hủy hoại môi sinh. Trong hình, hơn 140 con cá voi chết trên bãi biển ở miền Nam New Zealand do không được giải cứu kịp thời vào cuối tháng Mười Một, 2018. (Hình : youngzine.org)

Sử gia Arnold Toynbee trong tác phẩm khổng lồ 12 tập "A Study of History" nghiên cứu về sự nổi lên và sụp đổ của 28 nền văn minh trên thế giới đã đưa ra kết luận : "Các nền văn minh không chết vì bị giết. Chúng chỉ chết vì tự tử".

Ông Toynbeen nói rất đúng, nhưng không phải hoàn toàn đúng. Tuy rằng cái chết của các nền văn minh đều là do tự tử, nhưng việc tự tử này phần nhiều là có được giúp đỡ.

Nền văn minh La Mã chẳng hạn tuy rằng là nạn nhân của rất nhiều những bệnh mà tự mình gây ra, bành trướng quá mức, hủy hoại môi sinh, lãnh đạo hủ hóa, phân hóa xã hội và tôn giáo nhưng nó chỉ chết hẳn khi mà thành phố Rome bị rợ Visigoth đánh chiếm và cướp bóc vào năm 410 rồi sau đó bởi rợ Vandal vào năm 455.

Sự sụp đổ khi đến thì thường rất là nhanh, và những huy hoàng của quá khứ không làm cho nó được miễn nhiễm. Đế quốc La Mã chẳng hạn bao gồm một diện tích 4,4 triệu cây số vuông (1,9 triệu dặm vuông) vào năm 390. Chỉ năm năm sau nó thu lại còn 2 triệu cây số vuông (770.000 dặm vuông) và đến 470 thì không còn gì nữa.

Quá khứ của chúng ta đầy dẫy những tấm gương sụp đổ của các nền văn minh. Tại Đại học Cambridge, có một trung tâm, Centre for the Study of Existential Risk, nghiên cứu về những nguy cơ có thể làm hại cho sự hiện hữu của loài người trong đó có nguy cơ sụp đổ của nền văn minh hiện nay của nhân loại. Và người ta đã đưa ra một số tiêu chuẩn để định nghĩa thế nào là sự sụp đổ và những nguyên nhân của nó.

Một sự sụp đổ có thể được định nghĩa như là một sự giảm sút mau chóng và lâu dài dân chúng cũng như những cơ cấu kinh tế xã hội. Các dịch vụ công cộng bị sụp đổ và loạn lạc nổi lên khi nhà nước mất đi quyền kiểm soát và độc quyền dùng bạo lực. Hầu như tất cả các nền văn minh trong quá khứ đều phải đối phó với số phận này. Một số phục hồi lại được như nền văn minh cổ đại Ai Cập và Trung Quốc. Một số chết đi, nhưng trên thây ma của nó sau một thời gian nổi lên một nền văn minh mới thừa kế như nền văn minh phương Tây nổi lên với di sản của Hy Lap, La Mã và các nền văn minh khác trong quá khứ. Có khi nền văn minh này chết đi luôn tỷ như nền văn minh Maya tại Mexico với các thành thị trở thành những di chỉ điêu tàn và sau cùng trở thành những nơi cho khách du lịch thăm viếng.

Những điều xảy ra trong quá khứ giúp chúng ta đoán được gì về tương lai nền văn minh toàn cầu mà chúng ta đang sống ? Liệu những bài học rút từ những nền văn minh có cơ sở là nông nghiệp có áp dụng được cho nền văn minh tư bản kỹ thuật của chúng ta hay không ?

Vấn đề ở đây không phải là trình độ kỹ thuật mà là sự phức tạp của cơ cấu xã hội. Và các xã hội trong quá khứ cũng phức tạp không kém gì xã hội của chúng ta hiện nay. Lý thuyết toàn học về các hệ phức tạp cho thấy rằng bất kể chúng thuộc loại nào, chúng đều thường xuyên có nguy cơ bị sụp đổ.

Thành ra sụp đổ có thể là một hiện tượng bình thường cho mọi nền văn minh. Chúng ta có thể tiến bộ hơn về kỹ thuật so với quá khứ, nhưng điều đó không có thể nào làm chúng ta miễn nhiễm với những nguy cơ làm sụp đổ nền văn minh của các tổ tiên chúng ta. Không những thế những kỹ thuật mới của chúng còn có thể tạo ra những nguy cơ mới chưa từng có trước kia.

Nếu số phận của các nền văn minh trước là những chỉ dẫn cho tương lai của nền văn minh chúng ta thì những chỉ dẫn đó là gì. Dưới đây là một số những yếu tố mà các sử gia, các nhà nhân chủng và những chuyên gia khoa học xã hội khác đưa ra giải thích các cuộc sụp đổ của các nền văn minh trong quá khứ :

- Thay đổi khí hậu : Khi sự ổn định của hệ thống khí hậu thay đổi, thì hậu quả của nó có thể kinh khủng. Nó tạo ra việc thất thu liên tục trong mùa màng, nạn đói và sa mạc hóa. Sự sụp đổ của nhiều nền văn minh, từ nền văn minh đầu tiên Sumer-Akkad cho đến nền văn minh Maya tại Châu Mỹ và văn minh La Mã đều trùng hợp với những giai đoạn mà khí hậu thay đổi mạnh.

- Hủy hoại môi sinh : Sụp đổ cũng có thể xảy ra khi xã hội khai thác vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường sinh sống. Lý thuyết sụp đổ vì hủy hoại môi sinh đưa ra những lý do dẫn đến sự khủng hoảng qua việc phá hủy rừng quá mức, ô nhiễm nguồn nước, mất đa dạng sinh học như là tạo ra những biến động kinh tế xã hội.

- Bất công kinh tế xã hội và tập trung quyền lực trong tay một nhóm nhỏ : Bất công kinh tế chính trị thường là một động cơ căn bản dẫn đến sự phân hóa xã hội. Tương tư như vậy là tình trạng một nhóm nhỏ tập trung quyền lực trong tay mình. Những chuyện này không những làm gia tăng căng thẳng xã hội mà còn làm cản trở khả năng của xã hội đối phó với những vấn đề tạo ra do những nguyên nhân ngoại lai như môi sinh hoặc khí hậu. Cổ xã hội học đã xây dựng được những mô hình cho thấy các yếu tố tỷ như bất công xã hội và dân số có liên hệ trực tiếp với bạo động chính trị. Phân tích thống kê những tư liệu còn lại của các xã hội xưa cho thấy rằng đây là một hiện tượng tuần hoàn. Với dân chúng gia tăng, số lao động cung ứng vượt quá nhu cầu đẩy giá nhân công xuống thấp và bất công gia tăng. Bất công này xói mòn tinh thần đoàn kết xã hội và những xáo trộn chính trị xảy ra.

Mặc dầu có rất nhiều nghiên cứu nhưng chúng ta còn chưa có một lý thuyết nào đáng tin cậy về sự sụp đổ của những nền văn minh. Điều chúng ta biết là những yếu tố nói trên đều có thể đóng góp vào. Sụp đổ là một hiện tượng bước ngoặt xảy ra khi các yếu tố áp lực vượt quá khả năng đối phó của xã hội. Thành ra sự sụp đổ của nền văn minh chúng ta đang sống không bắt buộc phải tất yếu.

Lịch sử khuyến dụ rằng nó có triển vọng xảy ra, nhưng chúng ta có cái lợi thế là có thể học hỏi từ những tấm gương của quá khứ để tìm cách tránh. 

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 06/03/2019

Published in Diễn đàn
mercredi, 27 février 2019 20:51

Tàu cười, Mỹ khóc, Tây lo

Thường thường phiên họp thường niên về an ninh xuyên Đại Tây Dương thường được tổ chức tại Munich vốn vẫn chỉ là một cơ hội cho hai bên mặc áo thụng vái lẫn nhau mà thôi. Nhưng năm nay thì khác.

AFP_1DI51D

Trong hình, bà Angela Merkel (phải) và Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence tại Hội Nghị An Ninh Munich lần thứ 55 ở Munich, miền Nam nước Đức, vào ngày 16 tháng Hai, 2019. (Hình : Christof Stache/AFP/Getty Images)

Vào lúc kết thúc hội nghị, hôm Chủ Nhật, 17 tháng Hai, người đứng ra tổ chức, ông Wolfgang Ischinger, cựu đại sứ Đức tại Washington, đưa ra một kết luận bi quan : "Chúng ta có một vấn đề hầu như không sao giải quyết được".

Bản chất của vấn đề có thể thấy rõ trong suốt ba ngày hội nghị. Mỹ không những đụng đầu với các đối thủ Nga và Trung Quốc mà còn với cả các đồng minh tại Châu Âu và những bộ phận của hệ thống trật tự thế giới mà chính Washington bỏ công nhiều năm để xây dựng.

Quan trọng hơn nữa là sự lo sợ mà người ta có thể cảm thấy được là cái keo dán nối liền các nước phương Tây của các giá trị dân chủ đang từ từ tan rã.

Người ta có thế thấy sự chia rẽ này qua những tràng pháo tay được nổ ra hay không trong những bài diễn văn của các nhân vật. Khi Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đọc bài diển văn trong một sảnh đường đầy ắp đến 800 người tham dự bao gồm cả các vị tổng thống, thủ tướng và các bộ trưởng quốc phòng, ngoại giao các nước thì chỉ có một vài tiếng vỗ tay lẻ tẻ từ phía phái đoàn Mỹ tham dự mà thôi. Trong khi đó bài diễn văn của bà Thủ tướng Đức Angela Merkel thì được những tràng pháo tay giòn giã đón nhận mỗi khi bà dừng lại để lấy hơi.

Vì sao lại có một sự khác biệt trong cách đón nhận hai bài diễn văn như vậy ?

Bài diễn văn của ông phó tổng thống Mỹ là đánh dấu mức cao điểm của một tuần du thuyết tại các thủ đô Châu Âu, đặc biệt là cuộc hội nghị tại Warsaw trong đó Washington tìm cách ép buộc các đồng minh Châu Âu đi theo mình trong việc chế ngự chế độ thần quyền tại Iran.

Thế nhưng bài diễn văn ở Munich vượt xa hơn, bảo các đồng minh Châu Âu hãy "học sống với Trump" và các chính sách cứng rắn của Trump mà cho người ta thấy rõ quan điểm "America First" về hợp tác với chính quyền Trump : Mỹ đơn phương quyết định và các đồng minh chỉ có quyền đi theo, một chính sách mà theo bà Constqanze Stetzenmuller, một chuyên gia cao cấp của viện nghiên cứu Brooking Institution tại Washington gọi là chính sách "You’d better join us or else".

Trong bài diễn văn ông Pence đòi hỏi Châu Âu phải tích cực ủng hộ đường lối cứng rắn của Mỹ đối với Iran, Venezuela và nguy cơ xâm nhập không gian ảo của Trung Quốc bằng cách cấm công ty Huawei tham gia vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở điện thoại di động thế hệ thứ 5, tức 5G. Một trong những viên chức cao cấp Châu Âu có mặt gọi bài diễn văn này là "bẩn thỉu".

Bài diễn văn trả lời của bà Angela Merkel cũng rất thẳng thừng, nói rõ quan điểm của Châu Âu về chính sách độc đoán đế quốc của Mỹ, đặc biệt là những cố gắng của ông Trump nhằm cô lập Iran và chính sách bảo hộ mậu dịch của ông Trump.

Bà chỉ ra rằng Châu Âu mới là nơi phải gánh chịu những hậu quả của các cuộc phiêu lưu của Mỹ kể cả việc đột ngột rút quân ra khỏi Syria và Afghanistan. Người Âu, bà thủ tướng Đức nói thêm sẽ không đi theo Mỹ trong việc hủy bỏ thỏa hiệp hạch nhân với Tehran và họ sẽ tiếp tục tìm những giải pháp đa phương cho các vấn đề tỷ như thay đổi khí hậu.

Trả lời khuyến dụ của ông Trump rằng các công ty xe hơi của Đức là một nguy cơ cho an ninh Hoa Kỳ, bà chỉ ra rằng cơ sở sản xuất xe hơi lớn nhất của công ty Đức BMW là tại tiểu bang North Carolina, Hoa Kỳ, chứ không phải là Bavaria nơi công ty này có tổng hành dinh.

Có lẽ trong hội nghị này sung sướng nhất là Trung Quốc. Trung Quốc đã gởi một phái đoàn khổng lồ sang Châu Âu tham dự, do ông Dương Khiết Trì, quốc vụ khanh đặc trách ngoại vụ, dẫn đầu để tìm cách hợp tác với Châu Âu trên phương diện canh tân và kỹ thuật cao chống lại một nước Mỹ càng ngày càng thù nghịch đối với Trung Quốc.

Và quả thật, thái độ kiêu căng của chính quyền Trump đã tạo ra hậu quả tốt cho Trung Quốc. Chỉ vài ngày sau khi ông Pence đòi hỏi các nước Châu Âu phải không cho phép công ty Trung Quốc Huawei tham gia vào việc cung cấp thiết bị cho hệ thống 5G, cả Anh và Đức vốn trước đây đã ngầm ngăn chặn không cho các công ty viễn thông của mình mua thiết bị của Huawei nay đổi giọng nói rằng có thể dùng thiết bị của Huawei trong một số trường hợp. Và New Zealand vốn đã chính thức cấm không cho Huawei dự thầu cung cấp thiết bị 5G nay cũng nói rằng có thể xét lại.

Nhưng sự chia rẽ càng ngày càng sâu đậm giữa Châu Âu và Mỹ cũng là một mối lo đáng kể cho những nước Châu Âu, nhất là những nước nhỏ đứng trước sự đe dọa của Nga. Cựu Tổng thống Estonia Toomas Lives đuợc ghi lại là đã lo lắng đưa ra câu hỏi : "Những hành động của Mỹ càng ngày càng làm cho người ta lo sợ và khiến người ta phải tự hỏi ‘Chúng ta phải làm gì bây giờ ? Chúng ta có thể tự đi một mình hay không ?’"

Câu trả lời là không ; ít nhất là trong giai đoạn hiện thời. Cái dù an ninh mà Hoa Kỳ phủ cho Châu Âu quá lớn và sức hút kinh tế quá mạnh. Ngay cả những người chủ trương một Châu Âu độc lập cũng phải công nhận là không có Mỹ và sau Brexit, không có Anh, Châu Âu phải mất một thời gian dài mới có thể xây dựng được một lực lượng mạnh đủ để bảo đảm an ninh cho mình.

Đúng là Tàu cười, Mỹ khóc, Tây lo. 

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 27/02/2019

Published in Diễn đàn

Theo thường lệ, khi một vị Tổng thống Mỹ lên nắm quyền được hai năm, người ta bắt đầu lượng giá vị Tổng thống này và dự phóng xem lịch sử sẽ nhìn người đó như thế nào.

trump1

Những người Mỹ biểu tình thể hiện sự ủng hộ của họ đối với Tổng thống Donald Trump và ông Roger Stone, một người thân tín của ông Trump, hôm 29 Tháng Giêng, 2019, tại Fort Lauderdale, Florida. (Hình : Joe Raedle/Getty Images)

Trong một bài lượng định về ông Donald Trump, ký giả Nick Bryant có nhắc đến một cuộc thăm dò ý kiến 200 nhà chính trị học tại Mỹ về ông Trump, thì ông được đánh giá đứng thứ 44 trong số tất cả 44 ông Tổng thống đến nay (Mỹ có 45 đời Tổng thống nhưng chỉ có 44 ông vì ông Grover Cleveland làm Tổng thống hai lần không liên tục).

Nhưng lúc gần đây, tôi đọc được một bài khá thích thú của ký giả Gideon Rachman của nhật báo Financial Times. Ông Rachman là một trong những nhà báo hiếm hoi có một tầm nhìn lịch sử không bị những sự kiện cấp thời ảnh hưởng quá mạnh.

Trong quá khứ, ông Rachman tập trung đến những chiều hướng thay đổi lớn, tỷ như sự suy thoái tiệm tiến của phương Tây và sự nổi lên của phương Đông (đặc biệt là Trung Quốc) trong hai mươi năm qua. Cuốn sách gần đây nhất của ông, Đông Phương Hóa (Easternisation) là một cuốn sử đầy hấp dẫn về đề tài này.

Nhưng trong bài báo tôi đọc được, ông Rachman nói về ông Trump. Ông Rachman không phải là một ái mộ ông Trump. Tuy nhiên ông cho rằng vị Tổng thống thứ 45 của Mỹ sẽ được ghi nhận như là một trong những cá nhân hiếm hoi đã làm thay đổi hướng đi của lịch sử và là đại biểu cho tinh thần của thời đại. Ông Rachman viết :

"Ông Trump là kẻ nói láo mà chính quyền của ông đã lập ra một trại giam nhốt trẻ em. Ông Rex Tillerson, cựu ngoại trưởng của ông, được nói là đã gọi ông là một ‘thằng ngu’ (moron). Nhưng tất cả những điều đó không ngăn chặn ông Trump trở thành người mà triết gia Georg Hegel gọi là ‘một nhân vật lịch sử của thế giới’".

trump2

Trump nói chuyện trước những người ủng hộ ông ở New York - Ảnh minh họa

Georg Wilhelm Friedrich Hegel là một triết gia Đức của thế kỷ thứ 19 thuộc trường phái lý tưởng với một quan điểm tiến hóa về lịch sử. Lý thuyết của ông rất phức tạp, nhưng có thể rút gọn lại thành tiến trình biện chứng (mà sau này Marx học trò ông đem phổ biến rộng rãi) bao gồm ba giai đoạn : chủ đề (thesis), phản đề (antithesis) và hợp đề (synthesis). Mệnh đề đầu tiên đưa ra là chủ đề ; cái đối kháng với nó là phản đề và khi hai mệnh đề đối kháng này được dung nhập lại với nhau trở thành một mệnh đề mới, ta có một hợp đề.

Hegel coi lịch sử cũng tiến hóa qua một tiến trình như vậy. Theo Hegel, lịch sử là một tiến trình diễn biến đưa tới sự thể hiện thành hiện thật của lý tưởng lý trí (Idea of Reason) qua một loạt những biểu tượng tinh thấn của thời đại. Những biểu tượng này được thể hiện qua những hành động của các người hùng hay những nhân vật của lịch sử thế giới, những con người như Alexander Đại Đế hoặc Julius Caesar vốn thể hiện tinh thần của thời đại mình hơn tất cả mọi người khác.

trump3

Tôi trông thấy hoàng đế… Quả thật là một cảm giác thần diệu thấy một cá nhân như vậy, tại đây, tập trung vào một điểm trên lưng ngựa và làm chủ thế giới" (Georg Wilhelm Friedrich Hegel)

Trong thời Hegel, người đó là Napoleon. Tuy rằng Hegel phải tản cư ra khỏi thành phố ông ở là Jena khi quân Pháp của Napoleon chiếm thành phố này vào năm 1806, nhưng điều này không làm cho ông mất đi lòng thán phục. Trong một bức thư gởi người bạn Friedrich Immanuel Niethammer, ông viết : "Tôi trông thấy hoàng đế – cái linh hồn của thế giới (Weltseele)… Quả thật là một cảm giác thần diệu thấy một cá nhân như vậy, tại đây, tập trung vào một điểm trên lưng ngựa và làm chủ thế giới".

Nhưng ông Trump chắc chắn không phải là Caesar hay Napoleon rồi, vậy thì vì sao Rachman lại cho ông Trump cái vinh dự đó ?

Ráchman dẫn lời Hegel trong cuốn "Lectures on the Philosophy of History" :

"(Một nhân vật của lịch sử thế giới) không cần có nhận thức về cái ý tưởng mà được thể hiện qua ông ta. Ông ta chỉ nhìn thấy một ‘mục đích’ bất kể mọi thứ khác. Có thể rằng những người như vậy đối xử với những quan tâm vĩ đại khác, ngay cả linh thiêng một cách tồi tệ hoặc phi đạo đức. Và trong tiến trình đó có thể đạp nát nhiều bông hoa ngây thơ và nhiều vật quý trên con đường đi của mình".

Thành ra theo Rachman, đối thủ của ông Trump, ông Emmanuel Macron với tác phong lịch sự, khuynh hướng toàn cầu hóa là biểu tượng cuối cùng của tinh thần đang giẫy chết của những thập niên 1990 và 2000 với các nhà chính trị trung tâm. Trong khi đó ông Trump và những nhóm dân túy cánh hữu tại Châu Âu là biểu tượng của một tinh thần mới. Và ông Trump với những hành động bốc đồng và liều lĩnh có thể phù hợp với mô tả của Hegel như là một cá nhân biểu tượng cho tinh thần của thời đại, tuy rằng ông ta "không có một ý thức nào về ý tưởng mà ông ta là thể hiện".

Nhưng người hùng của Hegel không phải chỉ có thế. Hegel còn mô tả thêm rằng những "Nhân vật của lịch sử thế giới" – những người hùng của một thời đại phải là những người có viễn kiến, "các hành động của họ, lời nói của họ phải là những cái gì tốt nhất của thời đại… vì họ là những người hiểu rõ nhất tình hình, và qua họ mà những người khác học hỏi và đi theo hay ít nhất chấp nhận các đường lối chính sách của họ".

Thành ra đối với số trên 60% dân Mỹ không ủng hộ Tổng thống Trump có lẽ khó ai mà có thể tin rằng ông là người hiểu rõ vấn đề nhất và qua ông những người khác có thể học hỏi và đi theo.

Ráchman dẫn lời Hegel trong cuốn "Lectures on the Philosophy of History" :

"(Một nhân vật của lịch sử thế giới) không cần có nhận thức về cái ý tưởng mà được thể hiện qua ông ta. Ông ta chỉ nhìn thấy một ‘mục đích’ bất kể mọi thứ khác. Có thể rằng những người như vậy đối xử với những quan tâm vỹ đại khác, ngay cả linh thiêng một cách tồi tệ hoặc phi đạo đức. Và trong tiến trình đó có thể đạp nát nhiều bông hoa ngây thơ và nhiều vật quý trên con đường đi của mình".

Thành ra theo Rachman, đối thủ của ông Trump, ông Emmanuel Macron với tác phong lịch sự, khuynh hướng toàn cầu hóa là biểu tượng cuối cùng của tinh thần đang giẫy chết của những thập niên 1990 và 2000 với các nhà chính trị trung tâm. Trong khi đó ông Trump và những nhóm dân túy cánh hữu tại Châu Âu là biểu tượng của một tinh thần mới. Và ông Trump với những hành động bốc đồng và liều lĩnh có thể phù hợp với mô tả của Hegel như là một cá nhân biểu tượng cho tinh thần của thời đại, tuy rằng ông ta "không có một ý thức nào về ý tưởng mà ông ta là thể hiện".

Nhưng người hùng của Hegel không phải chỉ có thế. Hegel còn mô tả thêm rằng những "Nhân vật của lịch sử thế giới" – những người hùng của một thời đại phải là những người có viễn kiến, "các hành động của họ, lời nói của họ phải là những cái gì tốt nhất của thời đại… vì họ là những người hiểu rõ nhất tình hình, và qua họ mà những người khác học hỏi và đi theo hay ít nhất chấp nhận các đường lối chính sách của họ".

Thành ra đối với số trên 60% dân Mỹ không ủng hộ Tổng thống Trump có lẽ khó ai mà có thể tin rằng ông là người hiểu rõ vấn đề nhất và qua ông những người khác có thể học hỏi và đi theo.

Có lẽ điều tốt nhất mà ta có thể hy vọng cho ông Trump là một bước trung gian dẫn đến bước tới của lịch sử. Một khi ông Trump và những người theo ông cho chúng ta thấy chúng ta cần phải né tránh những gì, thì lúc đó người ta có thể nói đến chuyện tổng hợp hai khuynh hướng chính trị và đưa vào một giai đoạn mới vượt qua sự phân hóa giữa tả và hữu. Và đó có thể là di sản đáng quý nhất của ông Trump.

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 30/01/2019

Published in Diễn đàn

Chưa đầy hai năm sau khi Pháp, Đức và Ý gửi lên Ủy Hội Âu Châu đề nghị đưa ra một cơ cấu kiểm tra và rà soát các đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Châu Âu, cuối cùng Liên Hiệp Âu Châu đã đưa ra được một cơ chế nhằm bảo vệ cho quyền lợi của đại lục này.

lhca1

Trung Quốc mua càng ngày càng nhiều các công ty gọi là Mittelstand - công ty cỡ trung vốn là cột xương sống của công nghiệp Đức. (Hình : spiegel.de)

Khác với Ủy Ban Điều Tra Đầu Tư Nước Ngoài (CfiUS) của Hoa Kỳ, một ủy ban liên ngành có nhiệm vụ rà soát các dự án đầu tư nước ngoài vào Mỹ xem có làm thiệt hại gì đến quyền lợi và an ninh của nước Mỹ để cho phép hay không, Liên Hiệp Âu Châu chỉ có thể đưa ra một cơ chế rà soát không ràng buộc. Nhưng nó cũng đủ để có thể giúp tạo ra những quan tâm cần thiết tại nhiều nước Châu Âu mà cho đến nay còn thiếu cả một cơ cấu như vậy.

Đạo luật vừa được Nghị Viện Châu Âu thông qua sẽ thành lập một cơ cấu báo động về các đầu tư ngoại quốc vào Châu Âu trong tương lai và một ngân hàng dữ liệu trung ương cho các đầu tư hiện nay trong khi dành quyền quyết định cho phép hay không cho từng quốc gia thành viên.

Nguyên ủy của việc này phát xuất từ các đầu tư có tính cách khai thác xâm lược của Trung Quốc vào các khu vực hạ tầng cơ sở và kỹ thuật cao của Châu Âu. Một thí dụ điển hình là công ty China Ocean Shipping Company (Cosco) đã thầu lấy cảng Pireus của Athens Hy Lạp nơi họ đang xây dựng một trung tâm hải hành tại Địa Trung Hải cho các công ty của Trung Quốc vừa quốc doanh vừa tư nhân như là một phần của "con đường lụa đại dương" của chính phủ Trung Quốc.

Tại Bồ Đào Nha, Trung Quốc đã đầu tư 12 tỷ Euro vào các dự án đi từ năng luợng cho đến chuyên chở với một sự hiện diện đáng kể trong các ngành bảo hiểm, y tế, dịch vụ tài chánh và truyền thông. Quan trọng hơn nữa là Trung Quốc và Bồ Đào Nha dự trù sẽ phóng lên các vệ tinh để quan sát vùng biển chung quanh quần đảo Azores ngay chính giữa Đại Tây Dương.

Trên lãnh vực kỹ thuật cao, Trung Quốc đã đặt chỉ tiêu đạt mức dẫn đầu thế giới trên các lãnh vực như thông minh nhân tạo (AI), người máy (robotics), xe hơi sử dụng các năng lượng khác ngoài dầu hỏa, thiết bị y khoa và hàng không. Nếu không thể tự mình đạt được các mục tiêu đó thì Trung Quốc mua các công ty của các nước khác có khả năng trong các vấn đề này.

Và đó là điều đã làm các quốc gia Châu Âu báo động khi Midea, một công ty làm các đồ gia dụng của Trung Quốc mua công ty nổi tiếng nhất của Đức về robotics, Kuka với giá là $5.3 tỷ vào năm 2016. Dư luận chính trị của Đức lại càng xôn xao thêm nữa khi thấy rằng Trung Quốc mua càng ngày càng nhiều các công ty gọi là Mittelstand – công ty cỡ trung vốn là cột xương sống của công nghiệp Đức. Họ sợ rằng dưới sự quản lý của Trung Quốc những bí mật nghề nghiệp của công nghiệp Đức dần dà sẽ bị chuyền vào tay người Hoa hết. Mặc dầu phải đối phó với những điều kiện khác, giới doanh thương Pháp và chính phủ cũng trở thành quan ngại việc Trung Quốc mua lại các công ty Pháp.

Chính quyền dân túy tại Ý thì lại có môt cách tiếp cận lỏng lẻo hơn đối với việc rà soát đầu tư nước ngoài. Mặc dầu chính phủ trước ủng hộ việc bắt buộc cung cấp các thông tin trong việc đầu tư, chính phủ mới nay muốn để cho việc này thành một việc tự nguyện. Điều mỉa mai là Ý là một trong những quốc gia mà bị Trung Quốc ngắm nhiều nhất tại Châu Âu. Kể từ năm 2014, các công ty Trung Quốc đã mua lại công ty làm vỏ ruột xe Pirelli, đội banh AC Milan, mua cổ phần tại các công ty năng lượng như ENI. ENEL và CDP Reti. Trung Quốc cũng đầu tư mạnh vào các hải cảng của Ý.

Hầu hết các quốc gia Châu Âu khác không có những cuộc tranh cãi như vậy về đầu tư Trung Quốc. Trên thực tế chỉ có 12 trong số 28 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Châu Âu là có một cơ cấu rà soát đầu tư nước ngoài và ngay cả trong những quốc gia này chúng cũng khác nhau môt cách đáng kể.

Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc đều có những cơ quan rà soát đầu tư gay gắt. Châu Âu trước kia tuy rằng có những quan ngại nhưng không nói ra một cách công khai. Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump với những chính sách gay gắt chống Trung Quốc, đặc biệt là trên phương diện mậu dịch và đầu tư, đã giúp cho các nước Châu Âu cảm thấy tự do hơn trong việc lên tiếng nói.

Tuy nhiên đối với nhiều nước Châu Âu, Trung Quốc vẫn là một nguồn đầu tư hấp dẫn (kể cả nước Anh mà chẳng bao lâu nữa sẽ rút ra khỏi Liên Hiệp Châu Âu). Thế nhưng ngoại trừ Bắc Kinh bỏ chính sách lợi dụng trong lúc bảo hộ cho thị trường của mình, các nước Châu Âu đã đúng trong việc chuẩn bị bảo vệ cho chủ quyền và sự độc lập về kinh tế của mình. 

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 06/12/2018

Published in Diễn đàn

Tuần qua là tuần kỷ niệm 100 năm Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt. Nhưng một trăm năm sau khi cuộc chiến này chấm dứt, ta bỗng có một cảm giác "déjà vu" (đã thấy rồi) nào đó trong tình hình thế giới hiện nay, đặc biệt là tại Châu Á.

thechien1

Norman Angell (1872-1967), một kinh tế gia người Anh, cho rằng chiến tranh sẽ làm vỡ tan chuỗi tiếp liệu toàn cầu, sản xuất, phân phối và tiêu thụ. Tất cả mọi người đều sẽ bị ảnh hưởng. (Hình : Fred Morley/Keystone/Getty Images)

Những giai điệu tương tự giữa những năm đầu của thế kỷ thứ 20 và của thế kỷ thứ 21 bao gồm sự nổi lên của những cường quốc mới làm thay đổi cán cân sức mạnh địa chính trị có sẵn cũng như là những tranh luận về phải chăng toàn cầu hóa có thể mang lại hòa bình cho thế giới. Cả hai vấn đề này đều có giá trị quan trọng vào lúc này và không đâu quan trọng hơn là tại Châu Á với cuộc cạnh tranh chiến lược ngày một leo thang giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Trước hết là cán cân quyền lực địa lý chính trị. Thế Chiến Thứ Nhất phá tan một thế kỷ tương đối hòa bình tại Châu Âu. Sau thất bại của Napoleon, một cán cân quyền lực xuất hiện tại Châu Âu với năm cường quốc có sức mạnh xấp xỉ nhau : Anh, Pháp, Phổ, Áo và Nga. Với một số ngoại lệ nhỏ (tỷ như chiến tranh Crimea), cán cân quyền lực này giữ cho Âu Châu được hòa bình trong gần một thế kỷ từ khi Napoleon bị đánh bại tại Waterloo năm 1815.

Nhưng bắt đầu từ những năm 1860, Phổ tung ra một loạt các cuộc chiến giới hạn chống lại Đan Mạch, Áo và Pháp. Quân đội Phổ đoạt được của Áo và Đan Mạch những vùng đất cần thiết để thành lập một nước Đức thống nhất. Việc thống nhất này cuối cùng đã hình thành vào năm 1871 khi quân đội Phổ đè bẹp quân đội Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp Phổ (1870-71).

Một cường quốc mới nổi lên nhiều tham vọng và làm vỡ một cán cân quyền lực vốn có từ lâu đời chính là chuyện đang xảy ra vào lúc này. Chính giới lãnh đạo Cộng Sản tại Bắc Kinh cũng hiểu thấu điều đó. Sự tương tự giữa việc nổi lên của Trung Quốc hiện nay và Đệ Nhị đế chế Đức giống nhau đến nỗi Bắc Kinh đã đặt hàng một nhóm nhà nghiên cứu và làm phim để làm một cuộc nghiên cứu về lịch sử Đức (cùng với lịch sử các đế quốc khác của quá khứ) với kết quả là một loạt các báo cáo và một bộ phim lịch sử nhiều tập có tên "Sự Nổi Lên của các Đại Cường" chiếu trên đài Truyền Hình Trung Ương.

Tiến trình nổi lên của Trung Quốc cũng tương tự với Đế Chế Đức của thế kỷ thứ 19 trên một phương diện nữa. Lịch sử nước Đức trong khoảng thời gian từ sau khi thống nhất cho đến khi thế chiến bùng nổ có thể chia ra làm hai giai đọan. Thủ Tướng Otto von Bismarck chủ trì giai đoạn thứ nhất từ 1871 đến 1890 và Hoàng Đế Wilhelm II (đọc là Vilhem) chủ trì giai đoan thứ hai từ 1890 đến 1918. Thái độ của Berlin đối với bên ngòai khác hẳn nhau trong hai giai đoạn này.

Tuy rằng bị gọi là "thủ tướng thép" Bismarck đã rất tự kiềm chế khi điều hành chính sách ngoại giao của Đức. Ông tìm cách trấn an các nước láng giềng rằng Đức là một cuờng quốc đã "đủ no" rồi. Berlin đã có tất cả những gì mình muốn sau các cuộc chiến để thống nhất và không còn có tham vọng mở rộng thêm lãnh thổ nữa. Đế Quốc Đức là anh láng giềng tuy rằng mạnh nhưng các nước Châu Âu khác có thể tin cẩn để sống yên ổn mà không cần phải lo sợ và liên minh với nhau để ngăn ngừa. Thế nhưng khi Wilhelm trực tiếp nắm lấy quyền chủ động ngoại giao sau khi bãi chức Bismarck vào năm 1890 thì lại khác. Những huênh hoang đe dọa của ông đối với các nước Châu Âu khác làm họ lo sợ. Và việc xây dựng một hạm đội Viễn Dương nhằm thách đố hải quân Anh trên biển dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang và là một trong những nguyên nhân của cuộc chiến.

Lộ trình chính sách ngoại giao của Trung Quốc cũng đi theo một chiều hướng tương tự. Cho đến những năm gần đây, chính giới Trung Quốc tìm cách đi theo đường lối của Bismarck, trấn an các nước láng giềng, che giấu sức mạnh đang lên của mình theo đúng lời khuyên của Đặng Tiểu Bình "liễm quang, dưỡng hối" (giấu ánh sáng, nuôi bóng tối). Nhưng càng ngày chính sách của Trung Quốc càng trở nên giống như của Wilhelm với việc càng ngày càng không thèm để ý đến ý kiến của các lân bang cũng như sự cổ động cho tinh thần đại Hán ở trong nước.

Toàn cầu hóa có giữ được hòa bình hay không là điểm tương tự thứ hai. Một số người nay hy vọng rằng mậu dịch sẽ là yếu tố then chốt giữ cho Hoa Kỳ và Trung Quốc sống chung hòa bình. Cách đây vài năm sử gia Niall Ferguson đặt ra một từ mới "Chinmerica" để biểu dương sự tùy thuộc lẫn nhau giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Thế nhưng Thế Chiến Thứ Nhất đã cho thấy khuyết điểm chí mạng của yếu tố kinh tế trong việc bảo đảm hòa bình. Toàn cầu hóa có thể nói là đã đi xa hơn vào đầu thế kỷ thứ 20 so với hiện nay và kinh tế Anh với Đức tùy thuộc vào nhau còn hơn là Mỹ với Trung Quốc lúc này. Thế nhưng cơn bão của chiến tranh đã quét sạch tất cả những quan hệ kinh tế đó cũng như đánh dấu chấm dứt giai đoạn toàn cầu hóa đầu tiên.

Trong những năm trước 1914 các học giả, sử gia và kinh tế gia tranh cãi rất nhiều về ảnh hưởng của tình trạng liên lập kinh tế đối với cạnh tranh chính trị và chiến tranh. Norman Angell, một kinh tế gia người Anh, cho xuất bản một cuốn sách có tựa đề "The Great Illusion" nói rằng thật điên rồ nếu tự mình đánh nhau với bạn hàng và cũng là nhà cung cấp hàng hóa cho mình – hay là làm bất kỳ một điều gì có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng mặt biển, đuờng sắt, và các phương tiện chuyên chở khác của mậu dịch quốc tế. Chiến tranh, theo Angell sẽ làm vỡ tan chuỗi tiếp liệu toàn cầu, sản xuất, phân phối và tiêu thụ. Tất cả mọi người đều sẽ bị ảnh hưởng.

Thế nhưng Angell bị chỉ trích sai lầm là tiên đóan rằng kinh tế làm chiến tranh không thể xảy ra. Trên thực tế, Angell quả có nói rằng cái lô gich của sự liên lập kinh tế phải làm cho chiến tranh không xảy ra nếu mọi người giữ một lập trường duy lý. Nhưng không có bao nhiêu người như vậy.

Angell nhận xét rằng hầu như tất cả mọi cá nhân, từ những kẻ hiếu chiến nhất cho đến những người yêu hòa bình nhất đều có một ảo tưởng về việc sử dụng vũ lực. Và việc các chính phủ tin tuởng vào việc sử dụng vũ lực để đạt các mục tiêu chiến lược là một cái gì in sâu vào trong thế giới quan và nhân sinh quan của họ. Thành ra cái "ảo tuởng lớn" mà Angell cảnh cáo chính là việc các chính phủ và xã hội chấp nhận những hy sinh khổng lồ trong ảo tuởng đạt được quyền lực và vị trí quốc tế của mình để cuối cùng hại nhiều hơn là lợi.

Marx viết rằng lịch sử bao giờ cũng diễn lại, nhưng Marx đã lầm khi nói rằng "nếu lần đầu là một bi kịch thì lần sau chỉ là một trò hề". Lịch sử xảy ra lần sau có thể còn là một bị kịch thê thảm hơn là lần truớc nữa. 

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 21/11/2018

Published in Diễn đàn

Gián điệp quốc tế và ám sát từ xưa vẫn là những công cụ của các quốc gia. Nhưng bất chấp những gì viết trong các tiểu thuyết gián điệp hoặc những lời đồn đoán của các nhà báo, các hoạt động này bao giờ cũng bị kiểm soát chặt chẽ, với những thỏa thuận bất thành văn giữ việc giết người ở mức độ tối thiểu, đặc biệt là tại nước ngoài.

spy2

Cựu điệp viên nhị trùng Nga Sergei Skripal, 66 tuổi, và cô con gái Yulia, 33 tuổi, của ông bị Nga đầu độc ở Salisbury, Anh, hôm Chủ Nhật, 4 Tháng Ba, 2018. (Hình : stopfake.org)

Nhưng sau một tuần mà ta thấy việc bắt cóc và có thể nói hầu như là chắc chắn giết một nhà báo Saudi Arabia tại Thổ Nhĩ Kỳ, việc mất tích của một quan chức người Trung Quốc hiện đang đứng đầu tổ chức Hình Cảnh Quốc Tế (Interpol) và một bản tố cáo của phương Tây về các hoạt động của cơ quan tình báo quân sự Nga, có vẻ rằng những quy luật cũ về tình báo đang mau chóng thay đổi.

Nhưng chế độ độc tài chuyên chế – không phải chỉ có Nga mà Trung Quốc, Việt Nam, Saudi Arabia cũng như nhiều nước khác – đang siết chặt sự đàn áp của họ trong nước và triển khai các hành động gián điệp, bắt cóc và sát nhân ra nước ngoài một cách càng ngày càng công khai.

Sau một thời gian làm ngơ, các nước phương Tây nay đang tìm cách phản ứng. Tuần trước ta thấy việc công bố cùng một lúc – có vẻ đã được phối hợp trước – do các chính phủ Anh, Hòa Lan và Mỹ, các báo cáo về hoạt động tình báo và phá hoại của Nga tại phương Tây. Đặc biệt báo cáo của Hòa Lan, kể lại một cố gắng của bốn điệp viên Nga tìm cách xâm nhập Tổ Chức Chống Vũ Khí Hóa Học có rất nhiều chi tiết cụ thể kể cả việc công bố số xe họ sử dụng và các hồ sơ tên tuổi cá nhân của những người này.

Thế nhưng mục tiêu của các hoạt động gián điệp này cũng đã bị thay đổi và mở rộng ra. Theo truyền thống, mục tiêu của các hoạt động gián điệp là nắm lấy các bí mật quốc gia của đối phương. Tuy rằng đây vẫn là một nguy cơ chính đặc biệt là với thế giới mạng hiện này, các cuộc tấn công qua mạng có thể lấy được của đối phuơng những khối lượng dữ liệu khổng lồ mà trước kia khó có thể tưởng tượng đuợc, nhưng nay các cơ quan phản gián cũng càng ngày càng quan tâm đến việc làm méo mó tiến trình dân chủ qua việc tạo ra những câu chuyện chính trị giả dối có mục tiêu phá hoại. Và đối với những điệp viên của các chế độ độc tài thì không có gì quan trọng hơn là bảo đảm cho chính quyền của họ có thể đạt tới, đe dọa và đôi khi giết những kẻ chống đối họ dù có tìm cách lánh nạn tại nước ngoài.

Và chính điều chót này có vẻ là hoạt động đang gia tăng nhanh nhất. Chứng tỏ cho người ta thấy tầm mức với xa của điện Kremlin và qua đó đe dọa những người Nga sống ở nước ngoài dù là tài phiệt, bất đồng chính kiến hay là cựu điệp viên được coi như là lý do chính cho việc dùng độc chất tấn công não bộ Novichok vào cựu điệp viên nhị trùng Sergei Skripal và con gái ông tại Salisbury vào đầu năm nay.

Và vụ này theo sau một loạt các cái chết của những người Nga lưu vong mà môt số cái chết cũng bị nghi ngờ là do cơ quan tình báo Nga thực hiện. Moscow thì luôn luôn bác bỏ những tố giác này, nhưng tuy rằng ông Vladimir Putin vẫn còn là lãnh tụ bị quy trách nhiệm nhiều nhất về những cái chết hoặc mất tích đáng ngờ tại nước ngoài, những người khác cũng mau chóng đuổi cho kịp ông.

Các giới chức Thổ Nhĩ Kỳ cho biết họ tin rằng nhà báo Saudi Jamal Khashoggi bị giết vào hôm 2 Tháng Mười, 2018, bên trong tòa lãnh sự của Saudi Arabia tại Istambul do một tổ đặc nhiệm vốn bay vào Thổ trong ngày đó và có thể đã rời Thổ với thi thể của ông. Chính phủ Saudi thì phủ nhận mọi dính líu đến việc giết này nhưng những các đoạn phim thu được từ các máy quay phim theo dõi (CCTV) được các phương tiện truyền thông Thổ công bố cho thấy rõ ràng ông Khashoggi đi vào trong tòa lãnh sự và sau đó không ra nữa.

spy1

Thế giới tàn bạo mới của áp bức và đày đọa con người (The Handmaid's Tales)

Vấn đề là càng ngày các quốc gia độc tài càng bất chấp thế giới, không thèm quan tâm đến những phủ nhận của họ có được tin hay không. Trái lại họ có vẻ còn muốn truyền bá ra cho mọi người cái thông điệp của họ rằng không ai có thể thoát được tầm tay của họ, đặc biệt là các công dân nước họ.

Điều đó không bắt buộc lúc nào cũng phải giết. Đôi khi đe dọa được thực hiện dưới một hình thức tế nhị hơn. Chính quyền Trung Quốc từ lâu vẫn tìm cách bịt miệng những người bất đồng chính kiến tại nước ngoài, đặc biệt là những người Hồi Giáo Uighur thiểu số qua việc đe dọa trả đũa gia đình họ tại Hoa Lục.

Mùa Hè năm nay một số những người nước ngoài (không phải người Trung Quốc) hoạt động cho nhân quyền tại Hồng Kông cho biết gia đình họ tại Anh và nơi khác đã nhận được những thư nặc danh đe dọa. Bắc Kinh cũng tìm cách lấy sự hợp tác của chính phủ nước ngoài trong việc tịch thu tài sản tại nước ngoài của các quan chức và doanh gia bị tố cáo là tham nhũng.

Các quốc gia phương Tây hiện vẫn còn chưa dứt khoát biết mình phải làm gì để chống lại những hành động này. Nhiều biện pháp được nói là đang được xét đến, trong đó ít nhất có một biện pháp nhằm ngăn chặn việc rửa tiền của Trung Quốc, Nga và các nước độc tài khác qua các trung tâm tài chánh như Luân Đôn. Ngoài ra báo cáo về hoạt động gián điệp của Nga của các chính phủ Anh và Hòa Lan cho thấy có vẻ việc phổ biến cho mọi người biết các hoạt động bí mật của họ cũng được coi là một vũ khí lợi hại.

Liệu những biện pháp này có đủ mạnh để tạo ra một thay đổi trong cung cách hành sử của họ lại là một vấn đề khác. Vào lúc này, các quốc gia độc tài trên thế giới có vẻ biết một cách chính xác họ muốn gì : họ muốn cả thế giới biết khả năng đe dọa của họ.

Lê Mạnh Hùng

Nguồn : Người Việt, 07/11/2018

Published in Diễn đàn

Gián điệp quốc tế và ám sát từ xưa vẫn là những công cụ của các quốc gia. Nhưng bất chấp những gì viết trong các tiểu thuyết gián điệp hoặc những lời đồn đoán của các nhà báo, các hoạt động này bao giờ cũng bị kiểm soát chặt chẽ, với những thỏa thuận bất thành văn, giết người ở mức độ tối thiểu, đặc biệt là tại nước ngoài.

spy1

Ông Meng Hongwei (Mạnh Hoành Vĩ), tổng giám đốc cơ quan cảnh sát quốc tế Interpol, thứ trưởng Bộ Công An Trung Quốc, bị chính quyền Bắc Kinh bắt để điều tra điều gọi là hành vi phạm pháp. (Hình : Roslan Rahman/AFP/Getty Images)

Nhưng sau một tuần mà ta thấy việc bắt cóc và có thể nói hầu như là chắc chắn giết một nhà báo Saudi Arabia tại Thổ Nhĩ Kỳ, việc mất tích của một quan chức người Trung Quốc hiện đang đứng đầu tổ chức Hình Cảnh Quốc Tế (Interpol) và một bản tố cáo của phương Tây về các hoạt động của cơ quan tình báo quân sự Nga, có vẻ rằng những quy luật cũ về tình báo đang mau chóng thay đổi.

Nhưng chế độ độc tài chuyên chế – không phải chỉ có Nga mà Trung Quốc, Việt Nam, Saudi Arabia cũng như nhiều nước khác – đang siết chặt sự đàn áp của họ trong nước và triển khai các hành động gián điệp, bắt cóc và sát nhân ra nước ngoài một cách càng ngày càng công khai.

Sau một thời gian làm ngơ, các nước phương Tây nay đang tìm cách phản ứng. Tuần trước ta thấy việc công bố cùng một lúc – có vẻ đã được phối hợp trước – của các chính phủ Anh, Hòa Lan và Mỹ, các báo cáo về hoạt động tình báo và phá hoại của Nga tại phương Tây. Đặc biệt báo cáo của Hòa Lan, kể lại một cố gắng của bốn điệp viên Nga tìm cách xâm nhập Tổ Chức Chống Vũ Khí Hóa Học có rất nhiều chi tiết cụ thể kể cả việc công bố số xe họ sử dụng và các hồ sơ tên tuổi cá nhân của những người này.

Thế nhưng mục tiêu của các hoạt động gián điệp này cũng đã bị thay đổi và mở rộng ra. Theo truyền thống, mục tiêu của các hoạt động gián điệp là nắm lấy các bí mật quốc gia của đối phương. Tuy rằng đây vẫn là một nguy cơ chính đặc biệt là với thế giới mạng hiện này, các cuộc tấn công qua mạng có thể lấy được của đối phương những khối lượng dữ liệu khổng lồ mà trước kia khó có thể tưởng tượng được, nhưng nay các cơ quan phản gián cũng càng ngày càng quan tâm đến việc làm méo mó tiến trình dân chủ qua việc tạo ra những câu chuyện chính trị giả đối có mục tiêu phá hoại.

Và đối với những điệp viên của các chế độ độc tài thì không có gì quan trọng hơn là bảo đảm cho chính quyền của họ có thể đạt tới, đe dọa và đôi khi giết những kẻ chống đối họ dù có tìm cách lánh nạn tại nước ngoài.

Và chính điều chót này có vẻ là hoạt động đang gia tăng nhanh nhất. Chứng tỏ cho người ta thấy tầm mức với xa của điện Kremlin và qua đó đe dọa những người Nga sống ở nước ngoài dù là tài phiệt, bất đồng chính kiến hay là cựu điệp viên được coi như là lý do chính cho việc dùng độc chất tấn công não bộ Novichok vào cựu điệp viên nhị trùng Sergei Skripal và con gái ông tại Salisbury vào đầu năm nay.

Vụ này theo sau một loạt các cái chết của những người Nga lưu vong mà môt số cái chết cũng bị nghi ngờ là do cơ quan tình báo Nga thực hiện. Moscow thì luôn luôn bác bỏ những tố giác này, nhưng tuy rằng ông Vladimir Putin vẫn còn là lãnh tụ bị quy trách nhiệm nhiều nhất về những cái chết hoặc mất tích đáng ngờ tại nước ngoài, những người khác cũng mau chóng đuổi cho kịp ông.

Các giới chức Thổ Nhĩ Kỳ cho biết họ tin rằng nhà báo Saudi Jamal Khashoggi bị giết vào hôm 2 tháng Mười bên trong tòa lãnh sự của Saudi Arabia tại Istanbul do một tổ đặc nhiệm vốn bay vào Thổ trong ng