Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Donald Trump và Kim Jong-un đang gặp nhau tại Hà Nội để thương thuyết giải trừ vũ khí nguyên tử trên bán đảo Cao Ly. Tác dụng tức khắc của cuộc gặp gỡ này là khiến chính quyền cộng sản Việt Nam hãnh diện. Nó cũng được một số người Việt Nam tự coi là dân chủ nhìn như một cơ hội và một hy vọng.

ngk1

Donald Trump được Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc long trọng tiếp đón tại Hà Nội. Ảnh minh họa

Hình ảnh của chính quyền cộng sản Việt Nam chắc chắn là khá hơn trong lúc này bởi vì bất cứ một nước chủ nhà nào cũng gây được thiện cảm khi tiếp đãi một hội nghị có mục tiêu giảm bớt căng thẳng và tăng cường hòa bình. Ngành du lịch Việt Nam sẽ chỉ có thể có lợi và quan hệ thương mại với Mỹ sẽ không gặp khó khăn ít nhất trong một thời gian. Hơn nữa chính quyền cộng sản Việt Nam còn được tổng thống Mỹ ca tụng như một mẫu mực thành công hiếm có, sau khi được phát ngôn viên bộ ngoại giao Mỹ đánh giá như là như là một bạn thân, close friend.

Tuy nhiên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam sẽ rất sai lầm nếu quá hân hoan. Thiện cảm ban đầu có thể nhanh chóng qua đi nhường chỗ cho một cái nhìn chán ghét, thậm chí một sự lên án nghiêm khắc.

ngk2

Donald Trump và Kim Jong-un giả náo động Hà Nội trước khi Donald Trump và Kim Jong-un thật xuất hiện - Ảnh minh họa

Việt Nam có vinh dự gì khi tiếp đón long trọng Trump và Kim ? Kim Jong-un đang là nguyên thủ quốc gia đáng ghét nhất và cũng bị ghét nhất thế giới. Một người hung bạo đã hành quyết chú mình, đồng thời cũng là thầy và cố vấn của mình, bằng đại bác, đã ám sát anh ruột mình bằng hơi độc tại phi trường Kuala Lumpur, đã giết vô số người khác và đã đẩy dân tộc mình xuống đáy vực đói khổ. Một người vô văn hóa với tâm hồn của một con rắn độc. Phải là Donald Trump mới có thể coi Kim Jong-un là một bạn thân và một thiên tài.

Donald Trump là tổng thống Mỹ duy nhất hoàn toàn không hề có một ưu tư nào về tự do, dân chủ, nhân quyền và các giá trị đạo đức. Trump coi các nước dân chủ như đối thủ và ca tụng các chế độ độc tài. Ông ăn nói thô lỗ bộc lộ một tâm hồn nhớp nhúa. Không một nước văn minh nào mời ông thăm viếng. Ông phá mọi kỷ lục của một tổng thống Mỹ có cộng sự viên bị truy tố vì gian dối và chính bản thân ông cũng đang bị điều tra. Chưa bao giờ một tổng thống Mỹ chia rẽ nước Mỹ như Trump và cũng chưa bao giờ một tổng thống Mỹ bị khinh thường như ông.

ngk3

Kim Jong-un được Việt Nam long trọng tiếp đón khi vừa ra khỏi toa xe lửa. Ảnh AFP

Có bao nhiêu quốc gia chấp nhận trải thảm đỏ cùng một lúc dưới chân hai con người như thế ? Nhất là cuộc thương thuyết này vừa không quan trọng vừa khó có kết quả. Không quan trọng vì Triều Tiên (Bắc Cao Ly) chỉ dọa chứ không dám và cũng không thể chế tạo vũ khí nguyên tử ở mức độ thực sự nguy hiểm, bằng cớ là Nhật và Hàn Quốc (Nam Cao Ly), hai nước trên nguyên tắc bị đe dọa nhất không nhiệt tình với cuộc thương thuyết này. Khó có kết quả vì đe dọa vũ khí nguyên tử là tất cả tài sản của chế độ Triều Tiên ; bỏ đe dọa này nó không còn gì, kể cả khả năng tồn tại.

Chế độ cộng sản Việt Nam sẽ khó hy vọng được coi là đã có công đóng góp cho hòa bình trong vùng. Trái lại nhờ hội nghị Trump – Kim này từ nay thế giới sẽ chú ý nhiều hơn tới Việt Nam. Để thấy rõ chân dung của một đất nước đang quằn quại dưới một chế độ chà đạp nhân quyền một cách cực kỳ thô bạo, một chế độ có thể dựa vào những bản cáo trạng rất tùy tiện và vớ vẩn để kết án mười năm tù những phụ nữ có con thơ.

Ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã có lý khi cố gắng tách dần khỏi quỹ đạo Trung Quốc và sáp lại với Mỹ nhưng họ sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng có thể giữ quan hệ mật thiết với Mỹ mà vẫn giữ nguyên chế độ độc tài toàn trị. Điều này đúng với Donald Trump nhưng Donald Trump chỉ là một ngoặc đơn ngắn đang đóng lại trong chính trị Mỹ.

Điều đáng buồn cần được nói ra nhân cuộc gặp gỡ này là cung cách của một số trí thức Việt Nam tự nhận là dân chủ.

Có những người ủng hộ Trump một cách cuồng nhiệt và vô điều kiện. Một người dân chủ Việt Nam có lý do gì để ái mộ một người vô đạo đức, coi thường dân chủ và coi thường mọi nước nghèo như Trump ? Chân dung của người dân chủ Việt Nam phải rõ rệt. 

Cũng có những người thấy nên gửi thư thỉnh cầu Trump giúp đỡ Việt Nam có dân chủ hay để chống lại chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc. Hoàn toàn vô ích, Trump chống Trung Quốc hay thân Trung Quốc chỉ tùy theo ông ta nghĩ thế nào là có lợi cho Mỹ và cho uy tín cá nhân của ông. Cầu khẩn Trump chỉ khiến dáng đứng của mình mất thẩm mỹ.

Hiện tượng Donald Trump và hội nghị này cho thấy một sự thật đáng buồn là những người dân chủ chân chính không nhiều. Có những người tưởng lầm mình là người dân chủ và cũng có những người dân chủ chưa hiểu rằng vũ khí duy nhất nhưng vô địch của cuộc vận động dân chủ là lẽ phải và niềm tin.

Lẽ phải và niềm tin thể hiện qua chân dung và dáng đứng của những người dân chủ hôm nay. Đó cũng sẽ là chân dung và dáng đứng của đất nước ngày mai.

Nguyễn Gia Kiểng

(27/02/2019)

Published in QUAN ĐIỂM

Từ mấy năm gần đây dân chủ có vẻ bị đe dọa. Phong trào dân túy trỗi dậy khắp nơi, các chế độ độc tài lộng hành gần như vô tội vạ. Nhưng rồi sự sụp đổ của chế độ Maduro đảo ngược tất cả. Chế độ cộng sản Trung Quốc và chế độ độc tài Putin tại Nga bắt đầu giai đoạn cáo chung. Làn sóng dân chủ thứ tư, mà logic cốt lõi là dứt điểm các chế độ độc tài còn lại, sẽ mạnh lên và đạt tới cao điểm trong tương lai gần. Không phải vì Venezuela quá quan trọng mà vì một lý do nền tảng hơn nhiều. Đó là vì loài người đã tiến vào một kỷ nguyên mới trong cuộc hành trình về tự do. Mọi chế độ độc tài xét cho cùng đều là một cuộc nội chiến giữa một nhóm người cầm quyền và một xã hội. Điều mới trong lịch sử thế giới là từ nay xã hội mạnh hơn.

venezuela1

Mọi chế độ độc tài xét cho cùng đều là một cuộc nội chiến giữa một nhóm người cầm quyền và một xã hội.

Điều đáng ngạc nhiên nhất tại Venezuela là Nicolas Maduro đã không đàn áp như thường lệ mỗi khi bị chống đối, dù ông ta không thiếu thủ hạ, vũ khí và sự hung bạo. Trái lại ông ta đề nghị đối thoại và thỏa hiệp trong khi đối thủ của ông ta, một thanh niên 35 tuổi không có lực lượng vũ trang nào và mới cách đây hơn một tháng không ai biết tới, từ chối và đòi ông ta đầu hàng. Kết quả là vào lúc này Venezuela đang có hai tổng thống kình địch nhau. Phải hiểu rằng có một cái gì đó đã thay đổi. Venezuela vừa quá xa vừa quá lạ đối với Việt Nam nhưng chúng ta sẽ sai lầm lớn nếu không dành cho nó một quan tâm đặc biệt.

Một lịch sử ngắn và điên loạn

Venezuela mới trước đây không lâu còn là một đất nước đầy hứa hẹn với một lãnh thổ rộng gần một triệu cây số vuông cho 34 triệu dân, một khí hậu tốt, một bờ biển dài và đẹp và một trữ lượng dầu lửa lớn nhất thế giới được ước lượng vào khoảng 300 tỷ thùng (ba-rin). Ngoài ra còn khí đốt và nhiều mỏ khác, nhất là vàng. Đó đã có thể là một đất nước rất đáng mơ ước. Nhưng trường hợp Venezuela, cũng như các nước Châu Mỹ La-tinh khác, một lần nữa nhắc lại một cách hùng hồn rằng, ngay cả nếu có những điều kiện thiên nhiên rất thuận lợi, người ta không thể xây dựng được một quốc gia thịnh vượng và hạnh phúc nếu không có tinh thần dân tộc, nghĩa là tình liên đới và ý muốn xây dựng và chia sẻ với nhau một tương lai chung.

Venezuela là quốc gia đầu tiên giành được độc lập từ tay người Tây Ban Nha. Chính tại Angostura (hiện nay là thành phố Ciudad Bolivar) mà cách đây đúng 200 năm, vào ngày 15/02/1919, Simon Bolivar, một người Venezuela nhưng được coi là anh hùng của tất cả các nước Nam Mỹ, đã triệu tập đại hội tuyên bố độc lập cho Châu Mỹ La-tinh, để rồi nhờ tình trạng suy sụp của Tây Ban Nha sau cuộc chiến của Napoleon I giành được độc lập cho Venezuela một năm sau đó.

Dầu vậy, cũng như các nước Châu Mỹ La-tinh khác, Venezuela không phải là một dân tộc đúng nghĩa. Nói chung đã chỉ có những người thống trị thẳng tay bóc lột và người bị trị hừng hực căm thù sẵn sàng nổi loạn. Đất nước Venezuela vì vậy liên tục quằn quại trong nghèo khổ, bạo lực và tội phạm. Độc lập chỉ có nghĩa là những kẻ bóc lột Tây Ban Nha được thay thế bằng những kẻ bóc lột bản xứ toa rập với các thế lực tài phiệt nước ngoài, chủ yếu là Mỹ. Nền dân chủ hình thức chỉ bắt đầu từ 1958 để ngay sau đó trên thực tế nhường chỗ cho một cho một chế độ độc tài quân phiệt đương đầu với các lực lượng cộng sản võ trang trong một cuộc nội chiến kéo dài gần hai mươi năm. Nội chiến chỉ chấm dứt khi quân cộng sản kiệt quệ và chấp nhận hạ vũ khí để tranh đấu bất bạo động chứ không hề có hòa giải dân tộc.

Venezuela được hưởng mười năm tương đối yên bình cho đến năm 1989, khi chính quyền Carlos Perez thực hiện cuộc cải tổ kinh tế hữu khuynh do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) khuyến cáo. Cuộc cải tổ này về nguyên tắc là đúng. Nó nhắm chấm dứt tình trạng cả nước chỉ sống nhờ xuất khẩu dầu lửa, các cơ quan và công ty nhà nước đầy những công chức và công nhân chỉ lãnh lương chứ không có việc làm, với hậu quả là khối nợ ngày càng phình ra. Tuy vậy ngay cả một cải tổ đúng cũng cần được thực hiện một cách có bài bản và phù hợp với hiện trạng xã hội. Chính quyền Perez đã không hiểu như vậy, họ áp đặt một cách thô bạo và đàn áp thẳng tay khi bị chống đối. Hàng ngàn người đã bị giết trong những cuộc biểu tình, hơn 3000 người riêng trong ba ngày đầu tháng 3-1989. Sự thô bạo này càng khó hiểu vì đảng Hành Động Dân Chủ của Perez tự xưng là thuộc cánh tả và chính tổng thống Carlos Perez lúc đó đang là phó chủ tịch của Quốc Tế Xã Hội Chủ Nghĩa.

Không có gì hợp lý tại Châu Mỹ La-tinh, nhất là tại Venezuela, các từ ngữ chẳng có nội dung chính xác nào. Tình hình kinh tế sau đó có phần cải tiến, lôi kéo hàng trăm ngàn di dân từ các nước chung quanh, nhưng tác dụng của cuộc cải tổ kinh tế này và các biện pháp đàn áp đẫm máu đi kèm đã là đa đẩy một phần lớn quần chúng về phía liên minh dân túy cực tả dưới danh xưng Cộng Hòa Thứ Năm bao gồm Đảng Cộng Sản và các đảng cùng ý thức hệ Mác-Lênin. Cuối cùng, năm 1999, lãnh tụ Hugo Chavez của liên minh này lên cầm quyền sau khi đắc cử tổng thống trong một cuộc bầu cử dân chủ và lương thiện. Từ năm 2007 liên minh này đổi tên thành Đảng Xã Hội Chủ Nghĩa Thống Nhất.

Hugo Chavez có thể được nhìn như một sản phẩm trung thực của lịch sử hai thế kỷ lập quốc của Venezuela trong đó nét đậm rõ nhất là sự thiếu vắng toàn diện của tư tưởng chính trị và tinh thần dân tộc. Xã hội gần như chia làm hai thành phần, một giai cấp tư bản trục lợi gồm những người có tài sản và bằng cấp từ các trường đại học Mỹ hoặc Tây Ban Nha nhưng thiếu cả tư duy lẫn tâm hồn và chỉ có một mục đích là làm giầu tối đa và một quần chúng nghèo khổ uất ức. Hugo Chavez đã thực sự muốn phục vụ quần chúng, chính vì thế mà ông đã được ái mộ trong suốt thời gian cầm quyền (1999 – 2013) và ngay cả sau khi đã chết.

Chavez là một bằng chứng rằng một người cầm quyền ngu dốt càng có ý chí và dũng cảm bao nhiêu càng tác hại bấy nhiêu. Lên cầm quyền trong một thời cơ thuận lợi –dầu lửa, tài nguyên chính của Venezuela, tăng giá từ 20 USD lên 140 USD một ba-rin- Chavez phung phí đến nỗi khiến Venezuela không giầu lên mà còn lụn bại và mắc nợ thêm. Chavez đã trợ giúp người nghèo và giảm bất công xã hội một cách đáng kể, ông cũng đã nâng cao chi phí về giáo dục, y tế, gia cư và hạ tầng cơ sở. Các biện pháp xã hội này đã nâng cao mức sống lôi kéo thêm hàng trăm nghìn người khác đến Venezuela từ các nước lân cận. Vấn đề là ông ta chỉ biết chi tiêu chứ không biết đầu tư và hoàn toàn không có một kiến thức nào về quản trị quốc gia.

Chavez tăm tối đến mức coi chủ nghĩa Mac-Lênin như một chân lý tuyệt đối dù bức tường Berlin đã sụp đổ từ hơn mười năm trước. Ngay khi lên cầm quyền ông đã quốc hữu hóa tất cả các công ty có tầm vóc, bổ nhiệm vô số tay chân và đồng đảng vào các chức vụ lãnh đạo dù họ không có khả năng và kinh nghiệm chuyên môn nào. Quyền lực đã chỉ làm cho ông ta mê man mất trí và làm những việc điên cuồng, như ra mặt tuyên chiến với Mỹ, dù chỉ bằng lời, coi Cuba, Nga và Trung Quốc như những nước anh em. Không thể phủ nhận sự câu kết giữa các công ty Mỹ và các chính quyền tham nhũng Venezuela trước đó nhưng cũng không thể đồng hóa nước Mỹ với các công ty này và càng không thể vì thế mà chống Mỹ. Venezuela vừa quá yếu vừa quá tùy thuộc vào Mỹ, chống Mỹ chẳng khác gì đập đầu vào vách đá.

Một hành động điên rồ vào năm 2003 của Chavez đã làm kinh tế Venezuela sụp đổ là quyết định sa thải tức khắc 30.000 (ba chục ngàn !) kỹ sư và kỹ thuật viên của Công ty Dầu khí PDVSA khi họ biểu tình phản đối việc bổ nhiệm các cấp lãnh đạo theo tiêu chuẩn chính trị. Kết quả là công ty PDVSA suy sụp, sản xuất giảm từ 3,5 triệu ba-rin xuống còn không đầy một triệu ba-rin mỗi ngày trong khi PDVSA là 96% xuất khẩu của Venezuela. Kết quả của 13 năm cầm quyền của Hugo Chavez là, dù gặp thời cơ rất thuận lợi nhờ giá dầu tăng vọt, nền kinh tế Venezuela đã gần như phá sản, nợ nước ngoài tăng từ 28 tỷ USD lên 130 tỷ USD.

Venezuela phá sản thực sự ít lâu sau khi Hugo Chavez chết và Nicolas Maduro lên thay năm 2013. Xuất thân là một vệ sĩ chuyên nghiệp rồi tài xế xe buýt, Maduro là một tay anh chị chỉ được huấn luyện chính trị sơ sài trong Đảng Cộng Sản Venezuela trước khi trở thành cộng sự viên thân tín của Chavez. Maduro còn thiếu kiến thức hơn nhiều so với Chavez, lại không có tài hùng biện và sức thu hút của Chavez, nhưng thô bạo hơn hẳn. Việc ông ta đắc cử tổng thống năm 2013, với 50,6%, bị tố giác là gian lận.

Sau đó Maduro nhanh chóng kéo Venezuela xuống địa ngục. Trước sự phẫn nộ ngày càng lên cao Maduro đã chỉ biết phản ứng như một tay côn đồ vô học, bất chấp cả sinh mạng người dân lẫn hiến pháp và luật pháp. Cuối năm 2015, sau khi đối lập dân chủ giành được đa số quá 2/3 trong quốc hội, Maduro ngang ngược cho Tòa Án Tối Cao mà ông ta mua chuộc được tuyên bố tước quyền của Quốc hội. Hành động này làm cả nhân dân Venezuela lẫn thế giới phải kinh ngạc vì sự vô lý của nó khiến sau cùng Maduro phải rút lại. Tuy vậy Maduro cũng vẫn ngang ngược cho bầu ra một "Quốc hội lập hiến" khác sau một cuộc bầu cử gian trá một cách lố lăng. Hiện nay không còn ai nói đến cái quốc hội lập hiến này nữa. Tháng 5/2018 Maduro bất chấp luật pháp đột ngột tổ chức bầu cử tổng thống bẩy tháng trước hạn kỳ chính thức, liên minh đối lập không kịp trở tay đã kêu gọi tẩy chay. Đã chỉ có không tới 33% cử tri tham gia cuộc bầu cử tổng thống này, một số đông vì sợ bị sách nhiễu, nhưng Maduro cũng chỉ được 67,6%. Cuộc bầu cử này bị Quốc hội Venezuela và đa số các nước trên thế giới phủ nhận. Maduro không còn chính danh nữa.

Những số liệu kinh tế và xã hội thật kinh khủng : lạm phát năm 2018 được ước lượng là 10.000.000%, nghĩa là đồng Bolivar mất hết giá trị ; 90% người Venezuela sống dưới mức nghèo, 50% dưới mức nghèo khổ cùng cực ; tiền lương tháng của công nhân chỉ còn tương đương với 6 USD và chưa đủ để sống một ngày ; trọng lượng trung bình của một người Venezuela giảm 7 kg so với hai năm trước vì thiếu ăn ; 5% dân chúng chết vì cướp bóc, đói và thiếu thuốc ; hàng ngàn người bị giết trong những cuộc biểu tình phản đối chính quyền ; khoảng ba triệu người Venezuela phải tỵ nạn sang các nước bên cạnh vì lý do thực phẩm.

Maduro cáo buộc Mỹ và các đồng minh đã gây ra thảm trạng này bằng những biện pháp trừng phạt và cô lập. Điều này có phần đúng nhưng làm sao có thể trách Mỹ khi đã coi Mỹ là kẻ thù ? Vả lại, lý do chính của thảm trạng này là do sự sụp đổ của các công ty, kể cả công ty dầu lửa PDVSA, do Chavez và Maduro gây ra, khi họ bổ nhiệm vào vai trò lãnh đạo những đồng chí không biết gì về quản trị xí nghiệp. Sự sụp đổ kinh tế của Venezuela cũng khá giống như sự sụp đổ của kinh tế miền Nam Việt Nam say ngày 30/04/1975.

Năm 2019 đã bắt đầu với những cuộc biểu tình lớn của một quần chúng không còn gì để mất, hưởng ứng lời kêu gọi của một đối lập dân chủ mà trước đây đa số đã bất tín nhiệm. Dĩ nhiên Maduro đã ra lệnh cho quân đội và cảnh sát đàn áp thẳng tay. Hơn ba mươi người đã bị giết. Chính trong thảm kịch quốc gia này mà chủ tịch quốc hội Juan Guaido đã tự xưng làm tổng thống lâm thời đồng thời tuyên bố Nicolas Maduro bất hợp pháp. Phản ứng của Maduro là cho quân đội bắt Guaido và chuẩn bị đàn áp tiếp.

Tuy nhiên một điều rất không bình thường đã xẩy ra. Vài giờ sau Guaido được thả ra và từ đó các cuộc biểu tình không bị đàn áp nữa. Chắc chắn không phải vì Maduro bỗng nhiên hiền lành. Ngay chính các đồng minh Nga và Trung Quốc cũng đã khuyến cáo ông ta thỏa hiệp thay vì đàn áp. Ông ta đã hiểu là chính mình đang lâm nguy.

Một kế hoạch lật đổ có chuẩn bị

Cho tới ngày 05/01/2019 trừ một số người Venezuela không ai biết đến Juan Guaido, một dân biểu 35 tuổi mà thành tích duy nhất là đã tham gia các cuộc biểu tình chống Chavez rồi Maduro. Hôm đó ông ta thình lình được bầu làm chủ tịch quốc hội.

Khi nhìn lại các diễn biến người ta nhận ra là tất cả đã được chuẩn bị. Ngày 10/01/2019, theo dự trù Maduro sẽ chấm dứt nhiệm kỳ tổng thống thứ nhất và sẽ tuyên thệ nhận chức tổng thống nhiệm kỳ thứ hai. Ông ta không thể tuyên thệ trước Quốc hội như hiến pháp Venezuela quy định bởi vì cuộc bầu cử tổng thống tháng 5/2018 đã bị Quốc hội tuyên bố là vô giá trị và cũng bị đa số các nước dân chủ đánh giá là gian lận. Ngay cả các đồng minh của Maduro như Nga, Trung Quốc và Cuba cũng chỉ im lặng chứ không thể nói Maduro đã được bầu một cách lương thiện. Maduro đã tuyên thệ nhận chức một cách dấm dúi trước tòa án tối cao gồn toàn những thẩm phán chân tay của ông ta. Điều này có nghĩa là từ ngày 10/01 Maduro không còn là tổng thống chính đáng và hợp pháp nữa.

Theo hiến pháp Venezuela thì khi không còn tổng thống chủ tịch quốc hội sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ tổng thống với trách nhiệm tổ chức cuộc bầu cử một tổng thống mới. Như thế chắc chắn sẽ có một cuộc đụng độ sống còn giữa Quốc hội và Maduro, trong đó phương tiện duy nhất của Quốc hội là kêu gọi dân chúng xuống đường vì quân đội và cảnh sát đang ở trong tay Maduro. Juan Guaido được bầu làm chủ tịch năm ngày trước là để chuẩn bị cho cuộc đụng độ này vì là một thanh niên dám và biết tổ chức biểu tình. Một lý do khác là đối lập dân chủ Venezuela cũng cần một khuôn mặt mới bởi vì nhân sự chính trị cũ đã bị gắn liền với bất tài và tham nhũng.

Những gì xẩy ra sau đó đã xác nhận kịch bản đối đầu này và còn cho thấy là nó đã được chuẩn bị từ lâu một cách khá chu đáo. Juan Guaido đã lập tức tổ chức các cuộc xuống đường sau ngày 10/01, Maduro đã phản ứng dã man như thường lệ làm hơn ba mươi người chết. Ngày 20/01 một đơn vị quân đội nổi dậy chống Maduro ngay tại thủ đô Caracas. Dù bị dẹp ngay sau đó cuộc nổi loạn này cũng chứng tỏ rằng đã có cố gắng lôi kéo quân đội bỏ Maduro. Rồi ngày 23/01 Juan Guaido tuyên bố đảm nhận chúc vụ tổng thống lâm thời, đương nhiên đặt Maduro ra ngoài pháp luật. Ngay lập tức Mỹ tuyên bố nhìn nhận chính quyền lâm thời của Juan Guaido và sẵn sàng ủng hộ bằng tất cả mọi phương tiện, không loại trừ can thiệp bằng quân sự. Tiếp theo là Canada và hầu hết các nước Châu Mỹ La-tinh. Rồi đến hầu hết các nước Châu Âu. Tất cả như diễn ra theo một kịch bản đã sắp đặt trước.

Kết quả và hậu quả

Sự đào thải của chính quyền Maduro là điều chắc chắn.

Trước hết là vì chế độ Maduro phải cáo chung để đất nước Venezuela có thể sống. Nó đã thất bại ngoài tất cả mọi tưởng tượng trên mọi mặt và kéo nước Venezuela xuống địa ngục.

Sau đó là vì tương quan lực lượng quá chênh lệch.

Phe Maduro có quân đội và công an với đầy đủ vũ khí chống biểu tình tối tân mua của Nga và Trung Quốc. Vấn đề là họ khó có thể đàn áp mà không gặp những phản ứng dữ dội của Mỹ và các nước láng giềng với hậu quả là thảm bại nhanh chóng và ngay cả tính mạng của những người cầm đầu, kể cả Maduro, sẽ rất mong manh. Các đồng minh của Maduro đều ở quá xa và không có cả khả năng lẫn quyết tâm để bảo vệ Maduro. Nga là đồng minh tích cực nhất nhưng ngay từ ngày 05/12/2018, gần hai tháng trước khi Juan Guaido tự phong tổng thống, khi tiếp Maduro tại Moscow, tổng thống Nga Vladimir Putin đã công khai yêu cầu Maduro tìm cách thỏa hiệp với đối lập. Nga đã quá kiệt quệ để có thể giúp Maduro trong một cuộc đối đầu quân sự với Mỹ. Trung Quốc mạnh hơn Nga nhưng cũng đang gặp khó khăn kinh tế nghiêm trọng và quá lệ thuộc vào thương mại với Mỹ và Châu Âu để dám thách thức. Hơn nữa, từ ít nhất 5 năm nay, Venezuela đã trở thành một gánh nặng cho cả Nga lẫn Trung Quốc. Lý do khiến Maduro đã không ra tay đàn áp là vì ông ta không được Nga và Trung Quốc bật đèn xanh.

Theo các thăm dò dư luận, Maduro cũng vẫn còn được khoảng 18% dân chúng ủng hộ, nhưng chính những người này cũng hiểu là không còn hy vọng gì ở ông. Họ thù ghét cánh hữu hơn là gắn bó với Maduro. Còn quân đội và công an ? Sự thật giản dị là khi một lực lượng phải đàn áp mà không thể đàn áp nó sẽ không sớm thì muộn tự tan rã. Hơn nữa, trừ một số sĩ quan cao cấp, đa số gia đình họ cũng lâm vào cảnh nghèo khổ, cũng là nạn nhân của chính quyền Maduro.

Phe Guaido trái lại có ưu thế hơn hẳn. Hơn 80% người Venezuela mong muốn một thay đổi chế độ và ủng hộ Guaida dù trong lòng không ưa các chính quyền cánh hữu trong quá khứ. Có lẽ tranh thủ nhân tâm đã là một lý do khiến liên minh cánh hữu chọn Guaido làm biểu tượng vì ông là một thanh niên 35 tuổi không dính líu với các chính quyền trong quá khứ.

Guaido thuộc đảng Ý Chí Nhân Dân (Voluntad Popular), một đảng nhỏ thuộc khuynh hướng xã hội chỉ có 14/167 ghế trong quốc hội. Quốc hội Venezuela là định chế duy nhất được bầu ra một cách lương thiện, Guaido thực ra là một tổng thống lâm thời hợp pháp, được hơn 50 quốc gia nhìn nhận. Yếu tố quyết định là sự hỗ trợ và bảo vệ tận tình của Mỹ và các nước láng giềng. Chiến lược của các nước này là giúp Guaido mọi phương tiện để tranh thủ quần chúng và tổ chức đội ngũ đồng thời phong tỏa Venezuela cho đến khi chính quân đội và công an cảm thấy không còn lối thoát và quay lưng lại với Maduro. Trong khi chờ đợi dùng viện trợ nhân đạo để lố bịch hóa và vô hiệu hóa Maduro.

Hai bên đã có cuộc thử sức đầu tiên ngày 12/02 vừa qua. Cả hai bên đều biểu tình. Theo báo chí, phe Maduro tập trung được khoảng mười ngàn người ở trung tâm thủ đô Caracas trong khi phe Guaido động viên được cả trăm ngàn người tại nhiều thành phố lớn. Hậu thuẫn quần chúng của Guaido hơn hẳn Maduro nhưng chưa đủ. Đáng lẽ trong một tình trạng bi đát như thế phải có vài triệu người xuống đường. Guaido đã không động viên được quần chúng như ông và dư luận thế giới chờ đợi. Ông tuyên bố ngày ngày 23/02 sẽ giải tỏa biên giới để các đoàn xe cứu trợ nhân đạo vào được Venezuela nhưng rồi quân đội vẫn theo lệnh Maduro ngăn chặn được mà không gặp khó khăn nào đáng kể. Cũng như ngày 12/02, Guaido đã không động viên được quần chúng ở mức độ cần thiết để giải tỏa tình thế.

Tại sao ? Lý do có một tên gọi : Donald Trump.

Quần chúng Venezuela vốn đã không mặn mà gì với các chính quyền cánh hữu trong quá khứ và họ đã ít nhiều đánh đồng Juan Guaido với phe này. Tuy vậy họ cũng sẽ hưởng ứng lời kêu gọi xuống đường chống Maduro một cách mạnh mẽ hơn hẳn nếu thấy thế giới ủng hộ một cách nồng nhiệt hơn. Quân đội Venezuela cũng sẽ bỏ Maduro nếu thấy ông ta bị cả thế giới lên án. Nhưng thực tế đã không như vậy.

Juan Guaido được hơn 50 nước thừa nhận nhưng không một nước nào ủng hộ nhiệt tình. Lý do là vì kế hoạch lật đổ Maduro đã do Mỹ cùng chủ động và Donald Trump đã thành công trong việc làm tê liệt liên minh giữa các nước dân chủ và khiến cả thế giới dị ứng với Mỹ. Những gì Mỹ làm, ngay cả đúng như trong trường hợp này, cũng không được hưởng ứng.

Nước Mỹ cô lập như chưa bao giờ thấy. Không chỉ cô lập mà còn tê liệt vì chia rẽ nghiêm trọng giữa những người ủng hộ và những người chống Trump. Vả lại chính quyền Trump đã ứng xử một cách quá thô vụng trong vụ này. Tổng thống Trump, phó tổng thống Pence, ngoại trưởng Pompeo và cố vấn an ninh Bolton đã chỉ biết đe dọa Maduro và giải thích lý do can thiệp là vì Châu Mỹ La-tinh thuộc vùng ảnh hưởng của Mỹ. Không một lời cho nhân dân và đất nước Venezuela. Thế giới và người Venezuela dù muốn cũng không có lý do để phấn khởi. Kết quả là cuộc khủng hoảng Venezuela đã không kết thúc nhanh chóng như đáng lẽ nó phải kết thúc. Nước Mỹ sẽ không bao giờ nhìn thấy hết những tác hại của Donald Trump.

Dầu vậy tình trạng bế tắc dai dẳng này chỉ kéo dài sự đau khổ của nhân dân Venezuela chứ không thay đổi được tình thế, kết cục vẫn là sự đào thải của chế độ Maduro. Sau đó có thể dự đoán là Venezuela sẽ nhanh chóng trở lại tình trạng bình thường, nghĩa là đạt tới một sinh hoạt tương tự như các nước Nam Mỹ khác, trước khi bắt đầu hàn gắn những vết thương trầm trọng mà hai mươi năm cầm quyền của Chavez và Maduro để lại. Tương lai của Venezuela chắc chắn sẽ không đen tối vì những người sắp cầm quyền không thể nào không rút ra những bài học đau đớn của giai đoạn vừa qua. Tuy vậy Venezuela sẽ chỉ thực sự phục hồi để tận dụng được tài nguyên thiên nhiên của mình nếu những người lãnh đạo mới biết thực hiện một chính sách hòa giải dân tộc thành thực và quả quyết.

Hậu quả đối với thế giới sẽ quan trọng hơn nhiều, rất nhiều

Cả Nga và Trung Quốc, hai cột trụ của một "liên minh quốc tế chống dân chủ" đều sẽ rất điêu đứng. Cả hai nước đều đã dồn rất nhiều của cải vào Venezuela trong tham vọng thiết lập một đầu cầu tại Nam Mỹ.

Không ai biết chính xác Venezuela nợ hai nước này bao nhiêu nhưng vào tháng 11/2017, vào lúc tình hình kinh tế Venezuela chưa đến nỗi quá bi đát, công ty thẩm định tài chính Standard and Poor's, ước lượng số tiền mà Trung Quốc đã cho vay là 56 tỷ USD. Nga theo con số chính thức đã cho vay 8 tỷ USD nhưng con số thực sự chắc chắn phải cao hơn nhiều. Từ đó, trong năm 2018, Nga và Trung Quốc đã cho Venezuela vay thêm ít nhất 7 tỷ USD.

Nhưng khoản cho vay không quan trọng bằng khoản đầu tư của hai nước này, nhất là Trung Quốc. Trung Quốc đầu tư vào tất cả các tài nguyên thiên nhiên của Venezuela, nhất là dầu và khí, và cũng rất tích trong việc xây dựng các kết cấu hạ tầng. Đầu tư vào dầu lửa của Venezuela là một cám dỗ lớn. Việt Nam cũng đã tốn 8 tỷ USD trước khi bỏ cuộc. Trung Quốc chắc chắn phải đổ của vào gấp vài chục lần, có khi cả trăm lần Việt Nam.

Sự sụp đổ của chế độ Maduro sẽ là bi kịch cho Nga và Trung Quốc, bởi vì cả hai nước đã ủng hộ tận tình Chavez và Maduro và sẽ bị chính quyền mới nhìn như đồng phạm của thảm kịch Venezuela. Chính quyền mới sẽ không cần phủ nhận những cam kết của Chavez và Maduro, nhưng họ sẽ không dành cho chúng một ưu tiên nào, và như thế là đủ vì thời gian là tất cả đối với hai chính quyền tại Nga và Trung Quốc, cả hai đều đang sống những năm cuối cùng.

Thiệt hại tài chính của Nga, trên dưới 20 tỷ USD, tuy tự nó không lớn nhưng quan trọng đối với một nền kinh tế mà GDP chỉ là 1.400 tỷ USD lại đang ôm một khối nợ công tương đương và hơn nữa còn đang bị phong tỏa vì vi phạm công pháp quốc tế. Vấn đề của Nga không phải là thể chế vì Nga có một hiến pháp dân chủ mà là Putin. Putin dựa vào những thành tích chinh phục bên ngoài như sáp nhập bán đảo Crimea, chiếm một phần lãnh thổ của Ukraine, chiến thắng Syria v.v. để vi phạm hiến pháp và áp đặt một chế độ độc tài cá nhân. Putin đã đầu tư vào Venezuela trong một cố gắng mở rộng ảnh hưởng của Nga. Sự sụp đổ của chế độ Venezuela sẽ chấm dứt mọi ảnh hưởng Nga tại Châu Mỹ và là sẽ một thất bại chiến lược lớn làm sụp đổ thần tượng Putin, nền tảng của chế độ.

Hậu quả đối với Trung Quốc còn bi thảm hơn. Thiệt hại tài chính rất nặng vào giữa lúc những khó khăn kinh tế đang dồn dập xuất hiện, lố bịch hóa những con số tăng trưởng giả tạo của chính quyền Tập Cận Bình. Khủng hoảng kinh tế đã rất gần và Venezuela sẽ là một thảm bại khiến nó càng gần hơn, thậm chí khởi động sự sụp đổ kinh tế. Nhưng không phải chỉ có thế. Các lãnh tụ Trung Quốc đều đồng ý rằng từ khi Đặng Tiểu Bình thi hành chủ trương "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" sự sống còn của chế độ cộng sản dựa trên một tăng trưởng kinh tế mạnh. Khủng hoảng kinh tế đồng nghĩa với sự sụp đổ của chế độ và sau đó sự tan vỡ của chính Trung Quốc vì chủ nghĩa cộng sản đang là xi măng thay thế Khổng Giáo gắn liền các vùng của Trung Quốc.

Venezuela cũng sẽ không giúp gì được cho Donald Trump. Ngược lại nó còn phơi bày sự thực là ông đã làm nước Mỹ cô lập và yếu đi đến nỗi không giải quyết gọn nhẹ được một vấn đề đáng lẽ đã có thể giải quyết dễ dàng và nhanh chóng. Việc Donald Trump tái cử nhiệm kỳ hai không còn đặt ra nữa. Ông sẽ thảm bại, trừ khi bị truy tố và bãi chức trước.

Hai nhận định nền tảng

Hai nhận định lớn có thể, nên và cần được nắm chắc từ những gì đã, đang và sẽ xẩy ra tại Venezuela.

Một là, làn sóng dân chủ vẫn tiếp tục tràn tới. Từ mấy năm gần đây dân chủ có vẻ bị đe dọa. Phong trào dân túy trỗi dậy khắp nơi, các chế độ độc tài lộng hành gần như vô tội vạ, Trung Quốc bành trướng ra khắp thế giới, Putin sáp nhập Crimea và chiến thắng tại Syria v.v. Nhưng rồi sự sụp đổ của một chế độ nhỏ, chế độ Maduro, đảo ngược tất cả. Chế độ cộng sản Trung Quốc và chế độ độc tài Putin tại Nga bắt đầu giai đoạn cáo chung. Làn sóng dân chủ thứ tư, mà logic cốt lõi là dứt điểm các chế độ độc tài còn lại, sẽ mạnh lên và đạt tới cao điểm trong tương lai gần. Không phải vì Venezuela quá quan trọng mà vì một lý do nền tảng hơn nhiều.

Đó là vì loài người đã tiến vào một kỷ nguyên mới trong cuộc hành trình về tự do. Các xã hội đã trở thành mạnh hơn các chính quyền. Không còn một chế độ độc tài nào, dù chủ trương toàn trị hung hăng tới đâu, có thể kiểm soát được toàn bộ và áp đặt được hướng đi của một xã hội và một dân tộc nữa. Dù có thể bị cản trở, các xã hội sau cùng vẫn tiến tới theo hướng khiến con người ngày càng tự do hơn và được kính trọng hơn, nghĩa là các quốc gia ngày càng dân chủ hơn. Chống lại dân chủ chỉ có nghĩa là mù quáng chọn sự đào thải chắc chắn. Mọi chế độ độc tài xét cho cùng đều là một cuộc nội chiến giữa một nhóm người cầm quyền và một xã hội. Điều mới trong lịch sử thế giới là từ nay xã hội mạnh hơn.

Hai là, Venezuela là một nước rất được thiên nhiên ưu đãi, có khả năng khiến mọi người đều giầu có nhưng đã chỉ quằn quại trong độc tài, áp bức, bạo loạn, nội chiến và nghèo khổ vì thiếu tinh thần dân tộc và đồng thuận xây dựng và chia sẻ một tương lai chung, điều mà chỉ có một tư tưởng chính trị lành mạnh mới có thể đem đến. Tư tưởng chính trị là thuốc phòng chống và chữa bệnh điên của xã hội. Một dân tộc không có tư tưởng chính trị chắc chắn sẽ điên, sẽ chia rẽ và xung đột để đi từ tai họa này đến thảm kịch khác, như một con tầu không la bàn, không đụng vào đá ngầm thì cũng đâm vào băng đảo. Mỹ đã hơn hẳn các nước Châu Mỹ La-tinh -dù được thành lập cùng một lúc ở cùng một trình độ- nhờ đã có hoặc đã biết thu nhận tư tưởng dân chủ của những Locke, Jefferson, Stuart Mills, De Tocqueville, James v.v.

Từ hai nhận định rất quan trọng đó người Việt Nam chúng ta có thể rút ra kết luận nào cho đất nước mình ?

Trước hết là niềm tin sắt đá rằng chúng ta nhất định sẽ có dân chủ trong một tương lai gần. Đảng cộng sản sẽ chỉ có một chọn lựa là tích cực tham gia tham gia vào tiến trình dân chủ hóa để làm tác nhân thay vì nạn nhân của lịch sử. Sau đó là cần chuẩn bị cho hạn kỳ đó vì dân chủ chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện đủ để xây dựng một đất nước Việt Nam mà mọi người Việt Nam có thể yêu và tự hào. Dân chủ không thay thế cho những chính sách và những con người mà chúng ta cần có.

Chuẩn bị nền tảng nhất là một tư tưởng chính trị mà trí thức Việt Nam cần có, nhưng rất đáng tiếc là vẫn chưa có, để đảm nhiệm vai trò hướng dẫn dân tộc trong cuộc hành trình về tương lai.

Nguyễn Gia Kiểng

(26/02/2019)

Published in QUAN ĐIỂM
samedi, 16 février 2019 13:28

Về văn hóa chính trị nhân sĩ

Lời tòa soạn : Nguyễn Gia Kiểng (sinh 1942) là cựu công chức Việt Nam Cộng Hòa. Sau 30/04/1975 ông bị đi tù cải tạo hơn 3 năm. Khi được thả, ông được cộng sản sử dụng làm chuyên viên cho đến khi Pháp can thiệp để được đi định cư tại Pháp năm 1982. Nguyễn Gia Kiểng, cùng một số trí thức của miền Nam Việt Nam đã từng trải qua các trại tập trung cải tạo sau ngày 30/04/1975, thành lập một nhóm chính trị sau này trở thành Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Ông chủ trương đấu tranh cho dân chủ bằng đường lối bất bạo động trong tinh thần hòa giải dân tộc, do đó bị đả kích từ những người chống cộng cực đoan khác. Trẻ xin giới thiệu bài phỏng vấn của Phạm Thị Hoài về quan điểm và phương pháp đấu tranh dân chủ cho Việt Nam của ông. 

Báo Trẻ Online, 15/02/2019

******************

ngk1

Phỏng vấn ông Nguyễn Gia Kiểng , Thường trực Tập họp Dân chủ Đa nguyên

Phạm Thị Hoài : Thưa anh Nguyễn Gia Kiểng, từ nhiều năm nay anh cảnh báo và thậm chí lên án cách hoạt động đối lập của người Việt mà anh gọi là "làm chính trị nhân sĩ". Trong bài viết gần đây nhất, thảo luận về "Yêu sách tám điểm năm 2019 của người dân Việt Nam", một lần nữa anh yêu cầu "chấm dứt lối hoạt động chính trị nhân sĩ để tiến tới đấu tranh có tổ chức". Thế nào là "làm chính trị nhân sĩ", trước hết xin anh một định nghĩa. 

Nguyễn Gia Kiểng : Rất đồng ý. Trước khi thảo luận cần đồng ý trên ý nghĩa của các từ ngữ. "Nhân sĩ" là một khái niệm của Nho giáo để chỉ những người "kẻ sĩ", nghĩa là những người có học, có chút tiếng tăm. Các nho sĩ ngày xưa chỉ cố gắng một mình để học và thi lấy bằng cấp với ước mơ được phục vụ cho một chính quyền và cho như thế là vinh quang. Họ không có văn hóa đấu tranh thay đổi chính quyền để thay đổi xã hội, mục tiêu của họ chỉ là làm thế nào để có danh giá và có địa vị xã hội cao hơn người khác. Do đó họ không thấy cần thiết phải kết hợp với nhau thành tổ chức để có sức mạnh của tổ chức, điều kiện bắt buộc để có thể đương đầu với chính quyền và áp đặt sự thay đổi. Khổng Tử dạy các nho sĩ rằng "nước nguy thì đừng tới, nước loạn thì đừng ở, chế độ lành mạnh thì xin phục vụ, chế độ vô đạo thì ở ẩn" (nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư, thiên hạ hữu đạo tắc kiến, thiên hạ vô đạo tắc ẩn). Nhân sinh quan tồi hèn này thay vì bị khinh bỉ đã được coi là cao quý trong hàng ngàn năm và đã ăn sâu vào tiềm thức của trí thức Việt Nam, hậu duệ của những kẻ sĩ, trong khi dù muốn hay không trí thức bao giờ cũng phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo.

Chúng ta chưa rũ bỏ được di sản văn hóa này vì chúng ta chưa ý thức được sự tầm thường của nó. Hậu quả là cho tới nay ngay cả đa số những trí thức có tâm hồn nhất cũng chỉ hoạt động chính trị kiểu nhân sĩ, nghĩa là hoạt động với tư cách cá nhân, thỉnh thoảng ký tên vào một kiến nghị hay tham gia một hành động nhất thời chứ không dấn thân vào một tổ chức nào cả. Cách hoạt động chính trị nhân sĩ này sai một cách bi đát. Tổ chức cho chúng ta sức mạnh, điều này ai cũng biết, nhưng nó cũng khiến chúng ta mạnh dạn hơn, nó cũng là môi trường sản xuất và sàng lọc các ý kiến. Không có tổ chức thì hậu quả tự nhiên là bất lực, nhút nhát và thiếu chính xác. Nếu có một điều cần nhấn mạnh nhất thì đó là đấu tranh chính trị không bao giờ là đấu tranh cá nhân mà luôn luôn phải là đấu tranh có tổ chức.

Chế độ cộng sản thực ra không mạnh. Nó đã phân hóa ở mức độ hiểm nghèo và chỉ còn là một liên minh giả dối của những người thù ghét nhau vì tranh giành quyền và tiền. Trở ngại chính của cuộc vận động dân chủ hóa đất nước là văn hóa nhân sĩ, là cách hoạt động chính trị nhân sĩ. 

Phạm Thị Hoài : Trong một bài viết khác về "giai đoạn Ngô Đình Diệm" anh cũng nhận định rằng "cách làm chính trị của ông Diệm và ông Nhu là cách làm chính trị nhân sĩ". Điều trớ trêu là những người cầm đầu cuộc đảo chính, giết hai anh em họ Ngô năm 1963, đã lập nên một "Hội đồng Nhân sĩ" như một cơ quan dân sự đóng vai trò cố vấn. Hội đồng này sau đó nhanh chóng bị giải tán, song một định chế như thế – có thể tương đương với các assemblée des notables – không chỉ có ở Việt Nam. Như vậy khái niệm "nhân sĩ" không hẳn được quan niệm rõ ràng trong tiếng Việt. Nguồn gốc của nó cũng không sáng tỏ. Có vẻ như nó là tất cả những khái niệm như thân hào, nho sĩ, chí sĩ, danh sĩ, kẻ sĩ, văn thân, sĩ tử… và nhân vật cộng lại. Để tránh hiểu lầm, anh có thể khoanh vùng rõ nét hơn cho cái "văn hóa nhân sĩ" mà anh vừa nói đến không ? 

Nguyễn Gia Kiểng : Ông Diệm và ông Nhu đúng là làm chính trị kiểu nhân sĩ như tôi đã mô tả ở trên. Mục tiêu thầm kín của các nhân sĩ là xây dựng uy tín cá nhân cho mình rồi chờ cơ hội để nắm hay tham gia vào chính quyền. Cả ông Diệm lẫn ông Nhu đều không có tổ chức nào cả. Ông Diệm đi Mỹ rồi đi Pháp tranh thủ sự yểm trợ để được đưa lên cầm quyền nhưng thất vọng rồi sang Bỉ sống trong một nhà tu công giáo để chờ thời. Ông hoàn toàn không có lực lượng Việt Nam nào sau lưng. Thời cơ đã đến khi người Pháp sắp thua tại Điện Biên Phủ và đưa ông Diệm lên cầm quyền vì họ nhìn thấy nơi ông một lối thoát danh dự.

Chỉ đến khi đã cầm quyền, ông Diệm và ông Nhu mới thành lập Đảng Cần lao Nhân vị để có lực lượng nhưng không thành. Đảng Cần lao Nhân vị có tới vài trăm ngàn đảng viên nhưng đã bốc hơi tức khắc sau khi ông Diệm bị lật đổ. Thực ra nó đã chết trước đó mấy năm. Ông Ngô Đình Nhu, người sáng lập ra nó, không muốn nhắc tới nó nữa vì nó chỉ tạo ra vấn đề chứ không giải quyết được gì cả. Tình trạng này cùng giống hệt như Đảng Dân chủ của ông Nguyễn Văn Thiệu trước năm 1975. Không ai có thể thành lập một chính đảng một khi đã nắm được chính quyền vì lúc đó không thể phân biệt được những người vào đảng vì lý tưởng chính trị với những người chỉ chạy theo quyền lợi. Cuối cùng thì ông Diệm chỉ còn tin tưởng ở anh em họ hàng. Kinh nghiệm Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu sau đó, cho thấy rằng một người không có một chính đảng làm hậu thuẫn, ngay cả nếu vì một sự tình cờ ngàn năm một thuở có được chính quyền, cũng thất bại chắc chắn.

Cô Hoài nhắc lại "Hội đồng Nhân sĩ" (assemblée des notables) do các tướng lãnh lập ra sau khi đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm. Định chế này đã xuất hiện trong giai đoạn Cách mạng Pháp 1789 và cũng được lặp lại sau này trong vài nước lạc hậu như là một liều thuốc chữa chạy cho tình trạng trống vắng chính trị. Các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa lập Hội đồng Nhân sĩ sau khi lật đổ ông Diệm vì họ không có một sự chính đáng nào và cần dựa vào những người có chút uy tín để được dư luận chấp nhận. Đây là một nhu cầu rất tạm thời nên không ngạc nhiên khi hội đồng này bị giải tán sau đó. Đây cũng là dịp để các vị nhân sĩ phơi bày sự trống rỗng kiến thức chính trị, một kiến thức chỉ có được trong sinh hoạt chính đảng.

Cô Hoài cũng thêm ra một loạt các khái niệm của xã hội Nho giáo thân hào, nho sĩ, chí sĩ, danh sĩ, văn thân, sĩ tử và nhân vật, có thể thêm kẻ sĩnho gia và vài danh xưng khác nữa. Điều này chứng tỏ văn hóa nhân sĩ ăn rễ rất sâu vào xã hội ta.

Nhân sĩ là một nho sĩ – hay sĩ tử, văn thân, kẻ sĩ, nói chung là một người có đi học – có tiếng tăm. Các nhân sĩ có tiếng tăm lớn được gọi là danh sĩ, nếu có thể có một vai trò lãnh đạo thì được gọi là chí sĩ. Như vậy điều cốt lõi của văn hóa nhân sĩ là tiếng tăm, là chữ Danh. Đã sinh ra ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông (Nguyễn Công Trứ). Chữ Danh gần như là tất cả đối với các nhân sĩ và trong hầu hết mọi trường hợp nó được coi là đồng nghĩa với "công danh", nghĩa là làm quan lớn, càng lớn càng vinh quang. Và mỗi nhân sĩ cố gắng một mình để tìm công danh cho riêng mình.

Văn hóa nhân sĩ như vậy ít nhất để lại cho trí thức Việt Nam hai thương tật :

Một là coi hoạt động chính trị là để làm quan, là tranh giành công danh cho riêng mình, bằng cố gắng cá nhân.

Hai là tâm lý phục tùng chính quyền thay vì đấu tranh để thay đổi nó, ngay cả khi đó chỉ là một chính quyền tồi dở và thô bạo.

Hai tật nguyền này khiến các trí thức Việt Nam không kết hợp được với nhau để xây dựng một lực lượng có tầm vóc để đấu tranh dân chủ hóa đất nước. Đa số không có văn hóa tổ chức hoặc ý chí thay đổi xã hội, hoặc cả hai. 

Phạm Thị Hoài : Trong hai cụ Phan, hai nhà ái quốc lớn thời Pháp thuộc, có vẻ như Phan Châu Trinh đáp ứng hình mẫu của một nhân sĩ mà anh miêu tả. Cụ hoạt động cá nhân, cùng một vài người bạn đồng chí hướng chứ không ở trong một tổ chức nào đáng kể. Cụ dành phần lớn cuộc đời cho công cuộc duy tân, khai hóa dân tộc và viết những bản kiến nghị, điều trần gửi nhà cầm quyền thực dân chứ không trực tiếp đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ thuộc địa. Phan Bội Châu khác hẳn, sáng lập các tổ chức, vận động các phong trào, thậm chí theo đuổi cả các hoạt động bạo lực nhằm giành lại độc lập cho dân tộc. Anh cổ xúy cho tinh thần Phan Châu Trinh hay tinh thần Phan Bội Châu ? 

Nguyễn Gia Kiểng : Tôi kính trọng cả hai nhà chí sĩ họ Phan nhưng chọn lựa của tôi rất rõ ràng : Phan Châu Trinh đúng và Phan Bội Châu sai. Tôi đã viết một bài trong chiều hướng này .

Phan Châu Trinh không hoạt động cá nhân, ông luôn luôn tìm cách liên kết với những người có tâm huyết để có thêm sức mạnh. Năm 1904, ngay khi từ quan, ông đã kết thân với Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, rồi ba người cùng vào Nam liên kết với nhiều người khác. Sau đó ông cũng ra Bắc gặp Đề Thám, sang Trung Quốc gặp Phan Bội Châu và sang cả Nhật, để nhận định hướng đi cho cuộc đấu tranh, những mục tiêu cần phải đạt tới, những gì cần làm và những gì có thể làm. Và ông đã làm những gì có thể làm. Ông đấu tranh có phương pháp.

Ngày nay các nghiên cứu về đấu tranh chính trị không thiếu và anh em chúng tôi trong Tập hợp Dân chủ Đa nguyên đã đúc kết trong các dự án chính trị, kể cả dự án gần đây nhất : Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai . Đấu tranh thay đổi xã hội phải qua năm giai đoạn trong đó hai giai đoạn đầu cũng là hai giai đoạn dài và khó khăn nhất : một là xây dựng một tư tưởng chính trị đúng thể hiện qua một dự án chính trị lành mạnh và khả thi ; hai là xây dựng một đội ngũ cán bộ nòng cốt. Phan Châu Trinh đã hành động như thế. Ông cho rằng việc đầu tiên phải làm là khai dân trí, nghĩa là phổ biến một tư tưởng chính trị. Ông là người Việt Nam đầu tiên quả quyết xác nhận lập trường dân chủ và trình bày dân chủ một cách có bài bản. Ông không kêu gọi đấu tranh xóa bỏ ngay tức khắc chế độ thuộc địa vì ông nhìn thấy một điều mà nhiều nho sĩ không nhìn thấy là Việt Nam chưa bao giờ tiến bộ nhanh bằng trong giai đoạn Pháp thuộc về tất cả mọi mặt khoa học, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa, giáo dục và ngay cả nhân quyền.

Phan Châu Trinh công khai và dứt khoát chọn lập trường tranh đấu giành độc lập nhưng ông cho rằng dân tộc ta cần trước hết xứng đáng với độc lập, để độc lập khiến chúng ta tiến bộ nhanh hơn và con người được tôn trọng hơn. Phạm Quỳnh sau đó cũng có một lập trường tương tự dù không đủ dứt khoát và gây tranh cãi. Phan Châu Trinh hoàn toàn có lý nhưng ông không thể làm hơn được, cuộc sống của ông trong những năm cuối cùng tại Pháp quá thiếu thốn, ảnh hưởng nghiêm trọng lên tình trạng sức khỏe của ông và ông mất năm 1926 sau khi về nước không đầy một năm, ở tuổi 54.

Phan Bội Châu trái lại chỉ hành động theo nhiệt huyết, ông chủ trương giành độc lập bằng bạo lực dù không có phương tiện bạo lực, ông chủ trương phục hồi Khổng giáo mà không ý thức rằng đó là một văn hóa độc hại, ông cầu viện Nhật dù đó là một chế độ quân phiệt hung bạo. Ông lầm to. 

Phạm Thị Hoài : Song giới nhân sĩ trong và ngoài nước hiện nay cũng rất đề cao tinh thần Phan Châu Trinh và hoạt động theo sát các chủ trương của cụ. Và từ những rụt rè thận trọng ban đầu, nay họ đã tập hợp thành một đội ngũ nhất định, tuy chưa phải là những tổ chức quy củ và mạnh mẽ nhưng đã có sức lan tỏa. Và quan trọng nhất : họ cũng không thể làm hơn được. Mọi tổ chức đối lập đều bị chính quyền bóp nát từ trong trứng nước. Vậy họ phải làm gì ?

Nguyễn Gia Kiểng : Không biết trong câu hỏi này cô Hoài có ý định khiêu khích để tôi phản đối hay không nhưng tôi không nghĩ là các "nhân sĩ hiện nay", để dùng từ của cô Hoài, đã làm tất cả những gì có thể làm theo gương Phan Châu Trinh.

Phan Châu Trinh là nhà dân chủ đầu tiên của nước ta. Ông đã vượt hẳn tư tưởng của thời đại mình, dứt khoát đoạn tuyệt với Khổng giáo và chọn lập trường dân chủ nhân quyền. Điều này đặc biệt đáng thán phục vì Phan Châu Trinh không biết tiếng Pháp và chỉ đọc một vài cuốn sách dịch tư tưởng phương Tây được gọi là "Tân thư", ông đã cần một cố gắng suy tư cá nhân rất lớn để hiểu và hấp thụ những tư tưởng mới. Ông cũng đã từ quan, dứt khoát từ bỏ mọi ân huệ của chế độ quân chủ và thẳng thắn bác bỏ nó đến nỗi bị án đày chung thân, suýt bị tử hình nếu người Pháp không can thiệp. Sau này tại Pháp ông cũng từ chối không chấp hành lệnh động viên vào quân đội Pháp trong Thế chiến I, dù đó chỉ là hình thức, để bị tù và mất việc làm, rơi vào cảnh đói khổ đến nỗi cả ông lẫn con trai đều chết vì hậu quả của thiếu thực phẩm và thuốc. Phan Châu Trinh rất dũng cảm dù ông chủ trương đấu tranh bất bạo động.

Các trí thức hiện nay nói chung còn một khoảng cách xa so với Phan Châu Trinh. Họ không đi trước và dẫn đường như ông. Nhiều kiến nghị và yêu cầu còn tụt hậu so với ý thức của quần chúng. Nhiều người vẫn còn không dám nói hết những điều mình nghĩ, một số tuy đã về hưu vẫn hãnh diện xưng ra những chức vụ từng giữ trong chế độ cộng sản, dù xét cho cùng đó chỉ là tiếp tay cho một chế độ bất chính và độc hại. Một số trí thức ưu tú đã đề cao Phan Châu Trinh, tôi chỉ có thể tán thành họ, nhưng cũng xin phép nhắc nhở rằng Phan Châu Trinh đã qua đời từ gần một thế kỷ rồi và cách tôn vinh đúng các nhà cách mạng tư tưởng không phải là làm theo họ mà là đi xa hơn họ, như họ đã đi xa hơn di sản lịch sử của chính họ.

Tôi cũng không nghĩ là các trí thức hiện nay đã làm tất cả những gì họ có thể làm. Chúng ta phải có một tổ chức mạnh để giành thắng lợi cho cuộc vận động dân chủ và đó là điều chúng ta có thể làm được ngay trong tình trạng hiện nay, dù chủ trương của chính quyền cộng sản là không để nhen nhúm thành lập các tổ chức như họ đã nhiều lần nhắc lại. Trong hơn 40 năm qua đã diễn ra một cuộc giằng co giữa một bên là nhân dân Việt Nam vùng vẫy để tự cởi trói và bên kia là Đảng Cộng sản Việt Nam cố siết lại để duy trì chế độ toàn trị, với kết quả là Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải nhượng bộ khá nhiều. Hiện nay mọi người Việt đều có thể công khai nói rằng mình ủng hộ dân chủ, không thích chủ nghĩa Mác-Lênin, thậm chí đả kích chế độ cộng sản mà cùng lắm chỉ bị thiệt hại về quyền lợi chứ không bị đe dọa về an ninh. Đó là điều mà hàng ngàn người đang làm công khai mỗi ngày trong đời thường cũng như trên các mạng xã hội. Mức độ tự do này đủ để chúng ta có thể thành lập một tổ chức dân chủ mạnh nếu thực sự có quyết tâm từ bỏ cách hoạt động nhân sĩ để đấu tranh có tổ chức.

Có hai điều kiện chính. Điều kiện thứ nhất là phân công. Mỗi người tùy cương vị của mình – ở trong hay ngoài nước, ở trong hay ngoài bộ máy đảng và nhà nước cộng sản v.v. – làm những gì mình có thể làm thay vì tranh giành những vai trò mà mình không thể đảm nhiệm. Điều kiện thứ hai, quan trọng hơn nhiều, là niềm tin sắt đá vào sức mạnh của lẽ phải, là niềm tin rằng bao nhiêu triệu công an võ trang cũng vẫn thua lẽ phải, nếu chúng ta thực sự biết vận dụng lẽ phải. 

Phạm Thị Hoài : Cuộc Cách mạng Hòa bình ở Đông Đức năm 1989 chấm dứt chế độ chuyên chính vô sản ở Cộng hòa dân chủ Đức và dẫn đến thống nhất nước Đức diễn ra không do tổ chức nào lãnh đạo. Ngược lại, các tổ chức chính trị đối lập mà trước đó không thực sự hiện diện đã hình thành qua đêm, từ phong trào tự phát lan rộng của quần chúng.

Song dường như cuộc cách mạng đó cũng như tất cả các chuyển đổi thành công từ một chế độ độc tài cần ít nhất một trong ba điều kiện : Một, ý chí thay đổi chế độ hiện hành của đa số người dân ; hai, một khoảng trống quyền lực đủ lớn ; và ba, một hoàn cảnh chính trị quốc tế đủ thuận lợi.

Đông Đức năm 1989 đáp ứng cả ba điều kiện đó. Việt Nam năm 2019 dường như không đáp ứng cả ba. Đa số dân chúng không màng chuyện chính trị. Chính quyền đảng trị và nhà nước công an không thực sự suy yếu dù chúng ta cấp sẵn giấy báo tử cho nó từ rất lâu rồi. Còn thế giới thì có đủ thứ khác đáng bận tâm hơn chế độ cộng sản giả hiệu hạng nhì ở Việt Nam, chưa kể chỗ dựa vững mạnh của chế độ ấy ở một Trung Quốc cộng sản giả hiệu hạng nhất đang chuẩn bị thống soái thế giới. Lẽ phải, trong hoàn cảnh như vậy, có vẻ rất cô đơn ?

Nguyễn Gia Kiểng : Lẽ phải không bao giờ cô đơn và luôn có sức mạnh vô địch của nó nếu biết vận dụng. Không thể so sánh Việt Nam hiện nay với Đông Đức năm 1989. Đông Đức lúc đó giống như một tỉnh của Đức bị nước ngoài chiếm đóng, nước ngoài bỏ đi và một nước mẹ phồn vinh giang tay đón nhận. Trong một hoàn cảnh như thế thì dù có hay không có các tổ chức chính trị, thay đổi vẫn đến.

Việt Nam hiện nay là một quốc gia đang phải chịu đựng một chính quyền tồi dở đặt nền tảng trên một chủ nghĩa độc hại. Chúng ta phải thay đổi cả chính quyền lẫn chế độ và văn hóa chính trị. Cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước Việt Nam là một cuộc cách mạng đúng nghĩa. Chúng ta mong muốn cuộc cách mạng này sẽ diễn ra trong hòa bình và trong tinh thần hòa giải dân tộc nhưng đó vẫn là một cuộc cách mạng rất lớn, toàn diện và triệt để. Kinh nghiệm cũng như lý luận cho thấy là có bốn điều kiện cần và đủ để một cuộc cách mạng thành công, như Tập hợp Dân chủ Đa nguyên đã vạch ra trong các dự án chính trị từ ba thập niên qua và nhắc lại trong Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai : 

Điều kiện thứ nhất là mọi người trong nước đồng ý rằng chế độ hiện hữu là tệ hại và phải thay đổi. 

Điều kiện thứ hai là đảng hay giai cấp cầm quyền, vì mất đồng thuận trên lý tưởng chung hay vì bị ung thối, đã chia rẽ, phân hóa và đã mất bản năng tự tồn của một đoàn thể. 

Điều kiện thứ ba là đại đa số quần chúng đạt tới đồng thuận về một chế độ mới và những mục tiêu quốc gia mới. 

Điều kiện thứ tư là có một tập hợp chính trị xuất hiện phù hợp với nguyện ước của toàn dân làm điểm hội tụ cho những khát vọng đổi mới.

Dĩ nhiên không bao giờ có điều kiện nào được thực hiện xong 100%, nhưng tới một mức độ chín muồi nào đó ta có thể coi một điều kiện là đã đạt được. Đây là những điều kiện để một quốc gia tự thay đổi. Dĩ nhiên bối cảnh thế giới có thể gia tốc hoặc làm chậm lại tiến trình cách mạng nhưng yếu tố quyết định vẫn là cố gắng của chính dân tộc đang cần sự thay đổi. Nhìn vào tình trạng Việt Nam hôm nay chúng ta có thể nói là hai điều kiện đầu coi như đã có.

Điều kiện thứ ba cũng đã có được một phần đáng kể. Quần chúng Việt Nam hiện nay đều muốn một chế độ dân chủ pháp trị và một nền kinh tế thị trường, nhưng vấn đề gai góc còn lại là hiểu rõ những khái niệm nền tảng của dân chủ và đem lại cho chúng một nội dung vừa Việt Nam vừa cập nhật. Không đơn giản đâu, dân chủ không phải chỉ là khẩu hiệu "tam quyền phân lập". Chúng ta cần một nền tảng tư tưởng và những định hướng lớn cho mô thức Việt Nam như chúng tôi đã trình bày trong dự án chính trị của mình. Đất nước đang cần một đột phá về tư tưởng mà hình như trí thức Việt Nam vẫn tránh né, chính vì thế mà cuộc vận động dân chủ vẫn chưa khởi sắc.

Điều kiện thứ tư, cũng là điều kiện cụ thể nhất và quan trọng nhất, nghĩa là một tổ chức chính trị có tầm vóc, thì chúng ta gần như thiếu hẳn. Đó là lý do khiến chế độ cộng sản vẫn còn tồn tại dù đáng lẽ nó đã phải bị đào thải từ lâu rồi. Phải ý thức rằng ngay cả nếu chế độ này có ngã gục trên chính quyền thì chúng ta vẫn cần một lực lượng để kéo thi thể của nó đi chỗ khác, nhưng lực lượng này chúng ta vẫn chưa có.

Tại sao chúng ta vẫn chưa có một tổ chức dân chủ mạnh ? Lý do chính không phải là vì chính quyền cộng sản đàn áp. Với mức độ tự do đã giành được và các phương tiện giao thông và truyền thông hiện đại, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng được một tổ chức dân chủ lớn. Trở ngại chính là di sản văn hóa nhân sĩ, là cách hoạt động chính trị một mình hay trong khuôn khổ bạn bè thay vì tham gia xây dựng một tổ chức đúng nghĩa. Chúng ta chỉ có thể đưa cuộc vận động dân chủ ra khỏi thế èo ọt hiện nay nếu vất bỏ được cách làm chính trị nhân sĩ này. Tổ chức sẽ cho chúng ta sức mạnh, lòng tin và sự dũng cảm, nhưng nó cũng giúp chúng ta có được bước đột phá tư tưởng cần thiết mà tôi vừa nói tới trong điều kiện thứ ba, vì tổ chức cũng chính là môi trường sản xuất và sàng lọc các ý kiến. 

Phạm Thị Hoài : Vì sao đó nhất thiết phải là một tổ chức dân chủ mạnh mà không thể là một liên minh, một tập hợp của rất nhiều tổ chức có thể tương đối nhỏ ? Đã có khá nhiều tổ chức như vậy ở Việt Nam và hải ngoại, song dường như phần lớn đều chưa sẵn sàng đứng chung trong một liên minh dân chủ ? Hai năm trước, Tập hợp Dân chủ Đa nguyên mà anh là chủ tịch phải trải qua một vụ ly khai. Bản thân anh với chủ trương đấu tranh ôn hòa cũng bị những người chống cộng cực đoan tẩy chay. Lý tưởng dân chủ không đủ mạnh để làm chất keo đoàn kết các lực lượng dân chủ, hay đơn giản là mô hình kinh điển của những tổ chức và đảng phái chính trị trước đây không còn phù hợp với những phương thức vận động quần chúng của thế kỷ 21 này, khi cá nhân một influencer có thể ảnh hưởng trực tiếp tới hàng trăm ngàn, thậm chí cả triệu người qua internet ? 

Nguyễn Gia Kiểng : Chúng ta đâu có mô hình tổ chức kinh điển nào từ trước đến nay đâu. Sự thực là chúng ta chẳng có mô hình tổ chức nào cả, cứ tùy hứng mà lập tổ chức thôi. Đó thảm kịch văn hóa của chúng ta và cũng là lý do khiến chúng ta vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ có tầm vóc. Khi chúng ta tưởng rằng mình đã học được kinh nghiệm của một đảng nào đã thành công tại một nước nào đó thì cùng chỉ là học phiến diện và vội vã chứ không hiểu. Muốn hớt tóc hay làm móng tay cũng phải học ít nhất nửa năm, nhưng đấu tranh để thay đổi số phận của cả một dân tộc thì nhiều người lại cho rằng không học cũng làm được. Kết quả là hợp rồi tan. Sau gần nửa thế kỷ dưới chế độ cộng sản đã có hàng trăm hàng ngàn tổ chức được thành lập để chống lại nhưng bây giờ còn lại bao nhiêu tổ chức có chút thực chất ? Không bằng số ngón tay của một bàn tay.

Nhưng tại sao cách hành động cẩu thả như vậy cứ tiếp tục ? Đó có lẽ là vì lý tưởng dân chủ và lòng yêu nước không đủ mạnh. Người ta chỉ hành động vì tức giận với chế độ cộng sản, hay tệ hơn nữa vì muốn có chút tiếng tăm nên không thấy cần phải nghiên cứu và học hỏi. Nếu thực sự đấu tranh vì dân chủ và tương lai đất nước thì người ta sẽ chăm chú quan sát, nghiên cứu, suy nghĩ và sẽ hiểu rằng xây dựng một tổ chức dân chủ có tầm vóc là điều vừa bắt buộc phải làm vừa vô cùng khó khăn và sẽ có thái độ đóng góp khiêm tốn và thận trọng.

Anh em chúng tôi trong Tập hợp Dân chủ Đa nguyên đã dành trọn hai năm để chỉ nghiên cứu về mục tiêu, đường lối và phương thức đấu tranh trước khi quyết định thành lập tổ chức. Nhờ đó chúng tôi hiểu rằng muốn xây dựng một tổ chức phải có một tư tưởng chính trị đúng đắn thể hiện qua một dự án chính trị nghiêm túc và khả thi, sau đó cố gắng đầu tiên là phải xây dựng một đội ngũ nòng cốt. Hai giai đoạn này chiếm gần hết thời giờ và cố gắng của cuộc đấu tranh và có thể kéo dài nhiều thập niên nhưng đó là cái giá phải trả cho cuộc cách mạng dân chủ. Chúng ta có thể nhận xét là ngay cả các chính đảng có bề dầy lịch sử mà không cập nhật được tư tưởng chính trị cũng không thể tồn tại.

Thành lập tổ chức rất khó nhưng là điều không thể tránh né. Một cá nhân đứng ngoài mọi tổ chức dù xuất chúng và tận dụng mạng internet cũng chỉ có thể đóng góp cho cuộc vận động dân chủ trong việc khai dân trí, nhưng cũng chỉ giới hạn thôi vì điều cần khai dân trí nhất chính là phải chấm dứt lối làm chính trị nhân sĩ.

Công thức liên minh các tổ chức nhỏ cũng không phải là giải đáp cho nhu cầu có một lực lượng dân chủ mạnh. Từ 1975 tới nay đã có vài chục liên minh. Tất cả các liên minh này đều bế tắc ngay sau khi thành lập và trên thực tế tan rã ngay sau đó. Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên có lập một ủy ban nghiên cứu về các kinh nghiệm liên minh để rút những kết luận cho tương lai.

Trong Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai chúng tôi đã nói đến sự cần thiết của một mặt trận, hay liên minh, dân chủ, nhưng đó chỉ là một liên minh giai đoạn ở cao điểm của cuộc vận động dân chủ và dù vậy cũng phải có hai điều kiện. Một là phải có một tổ chức mạnh và có uy tín để làm đầu tầu với vai trò lãnh đạo được các tổ chức thành viên khác chấp nhận. Hai là mỗi tổ chức thành viên đều phải có một tầm vóc nào đó, nếu không thì liên minh cũng giống như một cuộc tảo hôn và sẽ thất bại.

Cô Hoài có nhắc tới vụ ly khai hơn hai năm trước xẩy ra trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Những ai đã từng tham gia xây dựng các tổ chức đều hiểu rằng những trục trặc là thường. Lòng người phức tạp và văn hóa tổ chức của người Việt Nam chúng ta không cao, lý tưởng dân chủ và lòng yêu nước nơi một số người đôi khi cũng không đủ mạnh để chấp nhận những hệ lụy của sinh hoạt tổ chức. Chúng tôi có may mắn là ít gặp sự cố nhưng đây không phải là lần đầu có những người ra đi. Phần lớn ra đi trong sự nhã nhặn và vẫn giữ cảm tình với tổ chức, nhưng cũng có những người ly khai, nghĩa là ra đi và dứt tình với tổ chức. Đặc tính chung ở những người ly khai này là họ ngừng hoạt động chính trị một thời gian ngắn sau đó.

Vụ ly khai cách đây hai năm chỉ là một hành động phản bội vì bị cám dỗ tiền bạc quá lớn chứ tuyệt đối không phải vì một động cơ chính trị nào. Những người chủ mưu, trong đó có người phụ trách trang Thông Luận , đã cướp trang web này để lấy nó làm dụng cụ bênh vực ông Trịnh Vĩnh Bình trong vụ kiện chính quyền cộng sản Việt Nam. Ông Trịnh Vĩnh Bình, một người quen thân lâu ngày của họ, đòi bồi thường 1.050 triệu USD và hứa sẽ tặng 90% số tiền giành được cho các thân hữu. Họ không thể làm việc này trong Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên được vì đối với chúng tôi, đây chỉ là vụ kiện của một người làm giầu bất chính bằng cách câu kết với một chính quyền bất lương và bị chính quyền bất lương này phản bội. Cám dỗ quá lớn và họ đã bịa đặt đủ điều để đánh lừa một số anh em khác, thí dụ như bịa đặt một chúc thư của cố huynh trưởng Nghiêm Văn Thạch kêu gọi các chí hữu nổi loạn chống ban lãnh đạo ngay trong ngày đám tang của ông. Họ đã tan rã ngay sau khi vụ kiện kết thúc, chỉ còn vài người cố gian trá tới cùng thôi.

Cô Hoài cũng nói tới những người buộc tội chúng tôi thân cộng. Xin trả lời vắn tắt rằng chuyện này đã thuộc hẳn vào quá khứ. Phần lớn dư luận trong cũng như ngoài nước ngày nay đã hiểu lập trường của chúng tôi, dù đồng ý hay không. Không thể khác, không có sự hiểu lầm nào kéo dài mãi được.

Phạm Thị Hoài : Có thể có một hiểu lầm khác. Trên trang nhà, Tập hợp Dân chủ Đa nguyên khẳng định rằng mình "gần như là địa chỉ duy nhất cung cấp cho độc giả và mọi người Việt Nam những kiến thức cơ bản nhất về chính trị", "là ngoại lệ duy nhất" trong các tổ chức và đảng phái chính trị Việt Nam hiện tại có khả năng dự đoán và "có giải pháp cho tất cả các mọi vấn đề của Việt Nam". Chưa kể nguy cơ đánh mất thiện cảm của các đồng minh chính trị, tuyên xưng "duy nhất" ấy có phù hợp với diễn ngôn dân chủ đa nguyên không, và rốt cuộc, ít nhiều cũng rơi vào một khía cạnh của "văn hóa chính trị nhân sĩ" mà anh phê phán, khía cạnh một mình, chỉ riêng mình, duy nhất mình đạt được thành tựu không, thưa anh ?

Nguyễn Gia Kiểng : Cảm ơn lời nhắc nhở chân tình của cô Hoài. Cùng một lập trường nhưng mỗi người có cách phát biểu khác nhau.

Hai bài báo mà cô Hoài nhắc tới phản ánh cách phát biểu riêng của Việt Hoàng. Mỗi người chúng ta đều là một ngoại lệ duy nhất cả. Điều tôi có thể quả quyết là Việt Hoàng, một chí hữu đầy tiềm năng của Tập hợp, không viết như vậy vì tự mãn mà vì phiền lòng trước cách đấu tranh hiện nay trong phong trào dân chủ. Chúng ta phản bác chế độ cộng sản và đấu tranh để thay đổi nó thì chúng ta cũng phải biết chúng ta muốn thay đổi như thế nào, chúng ta muốn xây dựng đất nước Việt Nam nào. Chúng ta cũng phải biết đâu là những vấn đề lớn đang đặt ra cho đất nước và có thể có những giải đáp nào. Nhưng thực tế là trong vô số các tổ chức đã được thành lập, và đa số không còn nữa, đã có bao nhiêu tổ chức có được một dự án chính trị cho đất nước ?

Hãy lấy một thí dụ cụ thể là môi trường. Từ ba thập niên qua Tập hợp Dân chủ Đa nguyên đã liên tục cảnh báo rằng đất nước đang bị hủy hoại và đây là một trong những nguy cơ lớn nhất vì đất nước trước hết là đất và nước, và khi đất nước đã bị ô nhiễm đến độ không còn sống được nữa thì chúng ta chẳng còn gì để nói với nhau. Chúng tôi đã không nhận được sự đồng tình hưởng ứng nào cho đến khi xẩy ra thảm họa Formosa. Chúng tôi còn nêu ra nhiều vấn đề lớn khác với những đề nghị giải đáp, như những ai bỏ thì giờ đọc dự án chính trị của chúng tôi có thể thấy.

Niềm tin của anh em chúng tôi là muốn đấu tranh chính trị đúng nghĩa thì phải nhận diện được và có giải đáp cho những vấn đề lớn của đất nước, đồng thời chuẩn bị nhân lực để thực hiện những giải đáp đó. Muốn như thế thì phải có sức mạnh của tổ chức, phải hy sinh tư kiến, lòng tự ái và tham vọng cá nhân để đấu tranh có tổ chức. Cách phát biểu của Việt Hoàng có thể bị hiểu lầm là tự mãn nhưng hoàn toàn không có tâm lý nhân sĩ.

Một lời sau cùng : Lẽ phải có sức mạnh vô địch nhưng nó không chỉ giới hạn trong phạm vi đạo đức. Khi chúng ta lên án độc tài, tham nhũng và các thẩm phán tay sai trong những phiên tòa chính trị chúng ta có lẽ phải, nhưng chúng ta cũng có lẽ phải khi chúng ta nói một nền kinh tế lành mạnh phải cố gắng phát triển thị trường nội địa thay vì để cho ngoại thương chiếm 200% GDP như hiện nay. Và chúng ta cũng có lẽ phải khi bác bỏ lối làm chính trị nhân sĩ và khẳng định rằng đấu tranh chính trị luôn luôn phải là đấu tranh có tổ chức.

Phạm Thị Hoài : Xin cảm ơn anh Nguyễn Gia Kiểng.

Phạm Thị Hoài thực hiện

7/2/2019, Berlin, CHLB Đức

Nguồn : http://baotreonline.com, 15/02/2019

Published in QUAN ĐIỂM

Ngồi trong khu vườn của một ngôi nhà mang kiến trúc khá đặc trưng Pháp ở vùng Lognes, ngoại ô thuộc mạn Đông Paris, tác giả của biên khảo "Tổ Quốc Ăn Năn" được biết đến từ vài chục năm trước chia sẻ với BBC về cuộc đời mình.

bbc1

Ông Nguyễn Gia Kiểng từng làm Phụ tá Bộ trưởng Kinh tế thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa và phụ trách một số lĩnh vực cố vấn về kinh tế và kỹ thuật - Bản quyền hình ảnh BBC/BBC VIETNAM

Ông Kiểng kể câu chuyện ông du học, về lại Việt Nam, đi "học tập cải tạo" sau 30/4/1975, trở thành chuyên gia trong chế độ mới, rồi lại rời Việt Nam sang Pháp từ đó đến nay ra sao.

Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng kể :

"Tôi sang Pháp hai lần, lần đầu tiên là năm 1961. Sau khi học xong trung học, tôi được học bổng du học tại Pháp. Tôi du học sau sáu năm thì tốt nghiệp. Rồi tôi ở lại làm việc vì tôi nghĩ rằng mới ra trường thì không thể nào có kinh nghiệm được.

"Điều quan trọng là không phải học để tốt nghiệp lấy bằng cấp, mà là làm việc, tiếp xúc với người phương Tây, biết cách làm việc của họ. Cho nên tôi có làm việc, ở lại Pháp sáu năm. Tôi về Việt Nam phục vụ từ năm 1973.

"Lúc đầu tôi làm việc ở ngân hàng. Mới đầu, chúng tôi được quản lý một quỹ đầu tư. Sau đó tôi có sang bên Bộ Kinh tế, Việt Nam Cộng Hòa và làm Phụ tá Bộ trưởng Kinh tế cho đến ngày 30/4/1975.

"Sau đó cũng như số phận của các viên chức miền Nam, tôi có bị đi gọi là tập trung cải tạo" trong vòng ba năm rưỡi, rồi tôi ra và có làm chuyên gia dưới chế độ cộng sản trong một thời gian. Cho tới năm 1982 thì tôi được chính quyền Pháp can thiệp cho và tôi được sang Pháp từ cuối năm 1982. Tôi hành nghề kỹ sư, tôi về hưu cách đây 10 năm".

Hồi cố điều nổi bật sau những năm tháng đã qua, ông Nguyễn Gia Kiểng nói :

"Số phận của mình đều do những yếu tố bất ngờ hết. Khi phe Cộng sản chiến thắng ngày 30/4 đó, thì tôi là một Phụ tá Bộ trưởng, cấp bậc tương đương với một Thứ trưởng. Thì dĩ nhiên cấp bậc thấp hơn người ta đã phải đi học tập cải tạo rồi.

"Tôi không trình diện để đi học tập cải tạo và tôi tìm cách trốn khỏi Việt Nam, nhưng tôi bị bắt ở trở lại Việt Nam, do đó tội của tôi tương đối nặng hơn. Tôi có bị bắt giam hơn ba năm. Trước khi được làm hồ sơ để chuyển sang diện học tập bình thường, thì vào lúc đó họ lại nhận ra một điều.

"Đó là ở miền Nam lúc đó có những máy điện toán và là máy IBM. Trước đó, họ không biết chúng dùng vào việc gì nhưng sau đó họ thấy rằng các cố vấn Nga nói rằng những chiếc máy này rất cần thiết, thành ra họ có đi tìm.

"Lúc tôi được ra học tập, ra khỏi trại, tôi mới biết rằng có những văn kiện tìm kiếm tôi, vì hồi đó tôi có là Trưởng ban Điện toán của Bộ Kinh tế. Tôi là Phụ tá Bộ trưởng, nhưng tôi lại là chủ tịch ba ủy ban là ủy ban điện tin học, ủy ban thuế khóa và ủy ban kế hoạch.

"Có lẽ họ nhìn thấy rằng tôi có khả năng về tin học, hơn nữa hiểu về những máy điện toán rất nhiều, thành ra họ trả tự do cho tôi và biến tôi trở thành một chuyên viên của chế độ".

Hợp tác vì ai, cái gì ?

Kỹ sư, nhà biên khảo kể lại rằng lúc đầu ông cũng bị theo dõi, nhưng ông đã luôn tỏ ra nói thẳng, nói thật và chỉ mong muốn đóng góp, hợp tác phục vụ cho đất nước, dân tộc, ông Nguyễn Gia Kiểng nói tiếp :

"Mới đầu họ theo dõi, nhưng về sau họ thấy tôi nói thực, nói thẳng. Phải nói vào ngày 30/4 tôi đã chấp nhận thua trận và tôi cũng không ra đi vì tôi nghĩ rằng một dân tộc có lúc phải tranh đấu với nhau, có thể va chạm, nhưng một dân tộc không thể cứ tiếp tục nội chiến, cứ xung đột tới cùng thì không còn là dân tộc.

"Cho nên lúc đó tôi đã chấp nhận để đóng góp với tư cách là một người thua trận, tức là là một người đem khả năng khoa học kỹ thuật mà mình biết để góp phần đóng góp cho đất nước một phần nào hay phần đó. Nên khi tôi ra khỏi chỗ học tập, nhân tiện tôi xin kể một chuyện, tôi gặp một ông cựu Bộ trưởng của Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam của phe cộng sản. Đó là ông Trương Như Tảng.

bbc2

Miền Nam Việt Nam đã từng trải nghiệm một mức độ phát triển nhất định về kinh tế, kỹ thuật và thị trường ở khu vực dưới thời Việt Nam Cộng Hòa - Ảnh GETTY IMAGES

"Lúc đó ông ấy bất mãn và ông là giám đốc một công ty, tôi lúc đó làm trong Ban kỹ thuật của Thành phố. Ông đó muốn đóng cửa một nhà máy. Nhưng lúc đó tôi ở ban kỹ thuật của thành phố, tôi không đồng ý.

"Ông hỏi tôi tại sao anh là một người chế độ cũ, tại sao anh lại ủng hộ chế độ mới như vậy, mà anh lại không đồng lòng đóng cửa luôn công ty đó đi ? Chế độ này đâu có phục vụ gì ai ?

"Tôi nói : tôi là một kỹ sư. Một kỹ sư mà nhìn thấy một nhà máy có vấn đề, gặp khó khăn, thì cũng giống như là một bác sỹ nhìn thấy một bệnh nhân. Bổn phận bác sỹ nhìn thấy một bệnh nhân là chữa, bổn phận của một người kỹ sư có lương tâm nghề nghiệp của mình là phải tìm cách cứu nhà máy đó. Nhà máy này tôi thấy có thể cứu được, thì tôi thấy là không đồng ý để ông đóng cửa".

Chia sẻ con đường từ quyết định "hợp tác" đó, rồi ra nước ngoài trở lại và trở thành nhà biên khảo mà cuốn sách "Tổ Quốc Ăn Năn" là một trong các tác phẩm, kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng nói :

bbc3

Ông Nguyễn Gia Kiểng từng là chuyên gia về tin học và có thời gian làm việc dưới chế độ mới ở miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975 - Bản quyền hình ảnh BBC/BBC VIETNAM

"Phải nói rằng chữ hợp tác đó không phải là tôi hợp tác với chế độ, chủ nghĩa cộng sản là điều tôi đã phản bác từ thời thanh niên, cách quản lý đất nước của họ, cách phân biệt đối xử. Sự thực, theo tôi, cuộc nội chiến vẫn tiếp tục sau ngày 30/4, chỉ có điều là cuộc nội chiến đơn phương, một bên có bạo lực và một bên không có. Sau ngày 30/4 không có "hòa bình" trong dân tộc.

"Vẫn có những người thắng trận "đầy đọa" những người thua trận, cho nên về chế độ thì tôi hoàn toàn không hợp tác, tôi hợp tác với đất nước Việt Nam, tôi làm những gì mà tôi có thể làm cho đất nước Việt Nam trong hoàn cảnh của một người không thể làm gì khác. Tôi là người Việt Nam và lúc nào tôi cũng muốn phục vụ, trong tất cả mọi hoàn cảnh, tôi phục vụ đất nước Việt Nam, tôi hợp tác với đất nước Việt Nam, nhưng không phải là tôi hợp tác với chế độ.

"Sau đó, vai trò của tôi cũng không còn, dầu sao đặc tính của chế độ cộng sản như mọi người cũng biết, họ rất là nghi kỵ, họ vẫn nhìn chúng tôi như là kẻ thù, những người nào không thuộc đảng của họ, thì họ không thể duy trì ở một chức vụ cao, như là một chuyên viên, chuyên gia cao cấp được, cho nên vẫn có sự theo dõi, vẫn có sự nghi kỵ, mặc dù chúng tôi không làm gì cả".

Dám "bắt Tổ Quốc ăn năn" ?

Về lý do viết cuốn biên khảo "Tổ Quốc Ăn Năn" và cách hiểu thế nào là Tổ Quốc, tác giả Nguyễn Gia Kiểng chia sẻ :

"Cho đến lúc tôi được chính quyền Pháp can thiệp thì tôi sang bên này. Cùng với một số anh em, chúng tôi đã lập ra một Tập hợp Dân chủ Đa nguyên và chúng tôi chia sẻ với nhau là một dân tộc sau một cuộc nội chiến, cũng giống như một cặp vợ chồng, một gia đình sau một cuộc xung đột lớn, chúng ta chỉ có hai chọn lựa thôi : một là chúng ta hòa giải để cuộc sống chung tiếp tục, hai là chúng ta không chấp nhận hòa giải và chấp nhận tan vỡ.

"Không chấp nhận hòa giải sau một cuộc nội chiến tương đương với việc để quốc gia tan vỡ, nhiều người không biết điều đó. Cho nên trong tinh thần đó, để nói lên tinh thần đó, tôi có viết cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, tôi đặt ra câu hỏi Tổ Quốc là ai ? Theo định nghĩa của tôi, Tổ Quốc là mọi người Việt Nam, người Việt Nam phải nghĩ lại. Tôi nghĩ như thế.

"Tức là mọi người Việt Nam đều phải nghĩ rằng họ đã có một cái lỗi gì đó, mình phải ăn năn, mình phải xét lại cách ứng xử của mình