Thông Luận

Cơ quan ngôn luận của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Buổi thuyết trình và họp báo của tổng thống Macron đã thất bại. Cũng như cái gọi là "cuộc thảo luận lớn trên quy mô quốc gia" mà ông muốn đúc kết. Lý do là vì Pháp, cũng như mọi nước dân chủ lớn, đang trải qua một cuộc khủng hoảng tư tưởng đòi hỏi xét lại những khái niệm và giá trị nền tảng sau khi trong một thời gian dài tư tưởng chính trị đã không theo kịp các đảo lộn về khoa học, kỹ thuật và nếp sống. Cuộc thảo luận đã chỉ tập trung vào những vấn đề cụ thể trong khi người ta không thể thỏa hiệp trên những biện pháp cụ thể nếu chưa nhìn rõ những vấn đề nền tảng.

 

 

macron0

Từ ngày 15/01/2019, nước Pháp đã có một cuộc Thảo luận quốc gia lớn - Le Grand Débat National - về hiện tình và tương lai đất nước…

Trong ba tháng qua, chính xác là từ ngày 15 tháng 01, nước Pháp đã có một cuộc Thảo luận quốc gia lớn - Le Grand Débat National - về hiện tình và tương lai đất nước. Các cuộc thảo luận được tổ chức ở mọi tỉnh và thành phố. Tổng thống Emmanuel Macron cũng đi khắp nơi tham gia giải thích và đối thoại, như thủ tướng và các bộ trưởng của ông. Chưa bao giờ nước Pháp có một cuộc thảo luận chính trị lớn và kéo dài như thế. Tuy vậy tất cả các bạn Pháp của tôi, kể cả những trí thức quan tâm đến tình hình chính trị, đều có cùng một câu trả lời khi tôi hỏi họ đã ghi nhận được những gì qua cuộc thảo luận này. Họ đều nói "không có gì hết", rien du tout. Con voi đã đẻ ra con chuột. Có một cái gì đó rất không bình thường cần được nhìn rõ.

Thảo luận để nhượng bộ và chữa cháy

Trước hết cần nhắc lại lý do và hoàn cảnh của cuộc "thảo luận quốc gia lớn" này. Từ ngày 17/11/2018 nước Pháp đã sôi động với những cuộc biểu tình của những người mặc "áo vàng", áo không tay, bằng vải nhựa của các công nhân công trường hay những người hư xe bên đường đang sửa xe hoặc chờ được cứu trợ. Lý do tức khắc của các cuộc biểu tình này là để phản đối quyết định tăng thuế xăng dầu. Những cuộc biểu tình này không do một chính đảng, hay một công đoàn, hay ngay cả một tổ chức xã hội dân sự nào kêu gọi và tổ chức. Chúng thuần túy tự phát, do những người dân thường dùng mạng xã hội rủ nhau và hẹn nhau đi biểu tình.

Điều ngạc nhiên là họ đã tập trung được hàng trăm nghìn người trên một lý do không mấy quan trọng bởi vì giá xăng chỉ tăng khoảng 2%, dầu tuy tăng gần 10% nhưng vẫn còn rẻ hơn xăng. Hơn nữa biện pháp tăng thuế xăng dầu đã được chuẩn bị từ lâu về mặt tâm lý như là một biện pháp giới hạn sử dụng xe ôtô, nhất là ôtô chạy bằng dầu, để giảm ô nhiễm và có vẻ đã ít nhiều được chấp nhận. Thì ra việc tăng giá xăng dầu chỉ là giọt nước làm tràn bình. Các băng rôn và khẩu hiệu Macron dégage ! (Macron, cút đi !) cũng cho thấy là cuộc biểu tình này nhắm trước hết chống tổng thống Macron bị một thành phần khá đông nhìn như là le président des riches (tổng thống của người giầu). Cách nhìn này hơi oan. Macron tuy sinh ra trong một gia đình giầu có, làm việc trong giới ngân hàng và được giới tài phiệt hỗ trợ nhưng là một người hiểu biết, yêu nước, có viễn kiến và có trách nhiệm. Tuổi trẻ và sự thành công đôi khi làm ông lạc lối vào sự cao ngạo -như khi tự ví với Jupiter, khi nói có những người thất nghiệp vì làm biếng, hay khi bảo một thanh niên đang thất nghiệp rằng anh ta chỉ cần "qua bên kia đường", hàm ý làm một cố gắng nhỏ, là có việc làm ngay- nhưng Emmanuel Macron hoàn toàn không giống Donald Trump. Hai việc làm gây chú ý nhất của ông là bãi bỏ thuế người giầu chỉ giữ lại thuế trên tài sản nhà đất và nhất là làm lại luật lao động mới. Cả hai đều đúng và cần thiết nhưng đều được nhìn như nhắm phục vụ các công ty, hay giới chủ nhân, hơn là giới công nhân.

macron2

Khải Hoàn Môn Paris và nhiều công trình, cửa hàng tại nhiều nơi bị những người mặc áo vàng đốt phá.

Trong cuộc biểu tình đầu tiên ngày 17/11/2018 họ tập hợp được gần 300.000 người trên cả nước. Đúng là một thành công kỷ lục đối với những người chỉ biết nhau trên mạng. Một cuộc thăm dò dư luận ngay sau đó cho thấy là hơn 80% người Pháp ủng hộ họ. Trong thứ bẩy sau đó số người tham gia biểu tình còn đông hơn và bắt đầu có bạo lực. Khải Hoàn Môn Paris và nhiều công trình, cửa hàng tại nhiều nơi bị đốt phá. Phản ứng của Macron và chính phủ của ông, như thường lệ, là không nhượng bộ gì hết. Họ dõng dạc tuyên bố là vẫn giữ vững lập trường. Trong thâm tâm chắc chắn họ nghĩ rằng những cuộc biểu tình không có tổ chức này sẽ mất khí thế nhanh chóng. Họ đã lầm to. Các cuộc biểu tình vẫn tiếp tục mỗi thứ bảy và ngày càng gay cấn hơn. Số người chết và bị thương ngày càng nhiều (cho đến nay đã có 11 người chết và hơn 4.000 người bị thương, hơn 10.000 người bị bắt trong đó hơn 2.000 bị giải tòa và hơn 400 bị tù giam). Thêm vào đó các cuộc biểu tình của giáo chức và học sinh, của các bác sĩ và y tá, của nông dân và cả cảnh sát càng đóng góp gây ra tình trạng hỗn loạn mà những người biểu tình áo vàng mong muốn, trong khi đại đa số người Pháp vẫn ủng hộ họ. Chính phủ Macron bối rối thấy rõ. Riêng tổng thống Macron, thông thường đầy tự tin, hoàn toàn im lặng, gần như biến mất trong gần một tháng. Rồi tái xuất hiện không những nhượng bộ trên tất cả các biện pháp thuế khóa mà còn nhận khuyết điểm, tăng lương, thêm tiền thưởng. Gần như đầu hàng. Các nhượng bộ được ước lượng là sẽ gây tốn kém cho ngân sách hơn 10 tỷ Euro mỗi năm, sau những thiệt hại trên 15 tỷ Euro do các cuộc biểu tình gây ra. Đồng thời ông Macron cũng thông báo là sẽ mở một cuộc thảo luận lớn trên quy mô quốc gia về tất cả những vấn đề lớn của đất nước bắt đầu từ ngày 15/01/2019.

Lớn thực nhưng vô ích

Câu hỏi đầu tiên mà người ta có thể và phải đặt ra là có thể nào tổ chức được một cuộc thảo luận nghiêm chỉnh, chưa nói là "thảo luận lớn trên quy mô quốc gia", trong không khí sôi động và đốt phá như vậy không ?

Và rồi thế nào là những vấn đề lớn ? Đó là những vấn đề nền tảng hay chỉ là những vấn đề đang gây căng thẳng ? Đâu là những vấn đề lớn của nước Pháp ? Thảo luận theo nhật thứ nào? Những ai được ưu tiên phát biểu ? v.v.

Sau một tuần lễ lúng túng. Chính quyền quy định cuộc thảo luận sẽ tập trung vào bốn chủ đề chính : chuyển tiếp môi sinh, thuế và chi tiêu công cộng, dân chủ và tư cách công dân, tổ chức bộ máy nhà nước và các dịch vụ công cộng.

Vào ngày 18/03, khi cuộc thảo luận được coi là đã kết thúc vì thời gian thảo luận dự trù đã hết, một thống kê cho biết là đã có 10.452 cuộc họp và gần hai triệu ý kiến được phát biểu, chính xác là 1.932.884 góp ý được ghi lại trong 16.000 sổ góp ý và hơn 10.000 điện thư. Nếu căn cứ vào những con số này thì đúng là một cuộc thảo luận rất lớn. Tuy vậy, như đã nói ở đầu bài này, không ai ghi nhận được một ý kiến quan trọng nào cả. Các chủ đề đều không được tôn trọng. Các cuộc thảo luận chủ yếu chỉ xoay quanh những vấn đề thường ngày đã được tranh cãi từ rất lâu rồi và trên đó không thể có đồng thuận vì ai cũng có lý : thuế, mãi lực, các trường học, các nhà hộ sin,h v.v. Đa số các nhóm áo vàng tuyên bố ngay từ đầu là không tham dự vì nguyện vọng của họ là đòi tổng thống Macron từ chức chứ không phải là những yêu cầu cụ thể.

Tổng thống Macron tuyên bố sẽ đúc kết cuộc thảo luận quốc gia này trong một diễn văn vào ngày thứ hai 15/04, sau đó sẽ họp báo ngày 17/04 để trả lời mọi thắc mắc. Ngày 15/04, một giờ trước diễn văn, nhà thờ Notre Dame de Paris, di sản lịch sử quý nhất của nước Pháp và được thăm viếng nhiều nhất trên thế giới, bốc cháy. Diễn văn được hoãn lại. Sau cùng diễn văn được gom lại với cuộc họp báo ngày 25/04 trong đó ngoài cố gắng lấy lại cảm tình của quần chúng, ông công bố những biện pháp cụ thể như đóng cửa trường Quốc Gia Hành Chính (ENA), giới hạn số học trò tiểu học ở mức tối đa 24 em mỗi lớp v.v. Biến cố này được đưa lên các đài truyền hình cho cả nước Pháp trực tiếp theo dõi. Kết quả là không một nhà báo nào hài lòng và một thăm dò dư luận sau đó cho thấy 80% người Pháp cho rằng đúc kết của Macron sẽ không giải quyết được cuộc khủng hoảng, 64% còn cho rằng các biện pháp mà ông công bố sẽ không thể thực hiện được một cách đúng đắn. Những người Áo Vàng tuyên bố sẽ "đi tới cùng" và một nửa người Pháp cho biết vẫn ủng hộ họ.

Những lý do của một thất bại biết trước

Buổi thuyết trình và họp báo của tổng thống Macron như vậy đã thất bại. Cũng như cái gọi là "cuộc thảo luận lớn trên quy mô quốc gia" mà ông muốn đúc kết. Lý do là vì Pháp, cũng như mọi nước dân chủ lớn, đang trải qua một cuộc khủng hoảng tư tưởng đòi hỏi xét lại những khái niệm và giá trị nền tảng sau khi trong một thời gian dài tư tưởng chính trị đã không theo kịp các đảo lộn về khoa học, kỹ thuật và nếp sống. Cuộc thảo luận đã chỉ tập trung vào những vấn đề cụ thể trong khi người ta không thể thỏa hiệp trên những biện pháp cụ thể nếu chưa nhìn rõ những vấn đề nền tảng mà cuộc cách mạng 4.0 và phong trào toàn cầu hóa đang đòi hỏi phải nghĩ lại một cách triệt để.

Cả bốn chủ đề thảo luận -chuyển tiếp môi sinh, thuế và chi tiêu công cộng, dân chủ và tư cách công dân, tổ chức bộ máy nhà nước và các dịch vụ công cộng- đều chưa phải là những vấn đề nền tảng và chỉ có thể thảo luận một cách nghiêm chỉnh khi những vấn đề thực sự nền tảng -về triết lý và đạo đức chính trị- đã được nhận định rõ, ngay cả nếu chưa có đồng thuận. Thí dụ như : thế nào là một quốc gia trong kỷ nguyên toàn cầu hóa này ? Tinh thần quốc gia và lòng yêu nước phải được quan niệm lại như thế nào ? Làm thế nào để bảo đảm mọi người đều được trân trọng trong một xã hội mà chỗ đứng và tầm quan trọng của các ngành nghề không ngừng thay đổi và đồng tiền ngày càng hống hách ? Thỏa hiệp nào là tối ưu giữa liên đới xã hội và tăng trưởng kinh tế ? Thế nào là một quốc gia thành công trong thời đại này ? Chính trị là gì và đâu là những đức tính cần thiết và đáng được tôn vinh nơi một cấp lãnh đạo chính trị ? Thể chế chính trị nào phù hợp nhất với nhu cầu thảo luận và thỏa hiệp thường trực từ nay ? Bảo vệ môi trường cần được dành chỗ đứng nào trong chính sách quốc gia và quan hệ quốc tế ? v.v. Chỉ sau khi những câu hỏi đó được đặt ra và thảo luận nghiêm túc, ngay cả nếu chưa có đồng thuận, thì những vấn đề cụ thể như sức mua, thuế và chi tiêu công cộng mới có thể tìm được thỏa hiệp chấp nhận được và hòa bình trong xã hội và giữa các quốc gia mới được bảo đảm.

Một thí dụ là Donald Trump đang gây bất hòa tại Mỹ và trên thế giới vì quan niệm quốc gia như một lãnh thổ, một chính quyền và một khối người tranh hùng với các dân tộc khác như hồi đầu thế kỷ 20, trong khi quan niệm đúng của thời đại này là định nghĩa quốc gia như một tình cảm, một không gian liên đới và một dự án tương lai chung, với ước vọng đóng góp cho một thế giới ngày càng lành sạch và thân thiện hơn (*).

Và phải thảo luận như thế nào ?

Ba đặc tính chung của các vấn đề nền tảng, nghĩa là thuộc phạm trù triết lý và đạo đức chính trị, là :

Một là, chúng lúc nào cũng đặt ra và quyết định cách mà chúng ta giải quyết những vấn đề cụ thể. Không thảo luận để cố tìm giải đáp cho chúng chỉ đồng nghĩa với chấp nhận chia rẽ và bế tắc, dọn đường cho các thế lực dân túy.

Hai là, chúng đòi hỏi một chuẩn bị chu đáo về kiến thức và tư tưởng để có thể thảo luận, do đó không thể bắt đầu từ quần chúng.

Ba là, chúng phải được quần chúng hiểu và chia sẻ để đi vào văn hóa quốc gia và được thể hiện trong sinh hoạt xã hội.

Vì thế chúng phải được đặt ra và thảo luận lúc ban đầu bởi các chuyên gia và các nhà tư tưởng, được đào sâu hơn trong các trường đại học và các nhóm trí thức trước khi được phổ biến vào quần chúng để ghi nhận những phản ứng và điều chỉnh nếu cần.

Khó khăn lớn nhất là đưa các nhận thức vào quần chúng. Và đây chủ yếu là vai trò của các chính đảng. Các chính đảng tham gia trong suốt tiến trình hình thành của tư tưởng chính trị -mọi chính đảng đều phải có các chuyên gia, các nhà tư tưởng và các ủy ban nghiên cứu- nhưng vai trò quan trọng nhất của các chính đảng là đưa tư tưởng chính trị vào quần chúng.

Một ảo tưởng sai lầm là cho rằng các mạng xã hội và các phương tiện truyền thông đại chúng -truyền thanh, truyền hình, sách báo- có thể thay thế được các chính đảng. Các phương tiện này có thể phổ biến các ý kiến đúng nhưng cũng có thể truyền bá những ý kiến sai và độc hại. Chúng cũng có thể là dụng cụ của những người không có kiến thức và thiện chí mà chỉ có nhu cầu tự thể hiện. Quần chúng cần những tiếp xúc trực tiếp mà chỉ có các chính đảng mới cống hiến được. Các chính đảng là môi trường sản xuất và sàng lọc các ý kiến chính trị và đồng thời tìm ra cách diễn đạt mà quần chúng có thể tiếp thu. Nhưng quan trọng hơn hết đó là khối hàng triệu hay hàng trăm nghìn người chuyên chở kiến thức và tư tưởng chính trị đến quần chúng bằng ngôn ngữ của quần chúng. Đó là những động cơ không thể thiếu của các thảo luận quốc gia trên những chọn lựa quan trọng.

Cuộc thảo luận chính trị vừa qua tại Pháp đã đi ngược hẳn với tinh thần và các tiêu chuẩn của các cuộc thảo luận chính trị lớn. Thực ra nó chỉ là một sự triệt thoái lúng túng của một chính quyền hoảng hốt trước sự bùng nổ của những bất mãn tích lũy. Thất bại là tự nhiên.

Điều ngạc nhiên là vấn đề thể chế chính trị đã không được đặt ra trong cuộc "thảo luận lớn" này dù chế độ tổng thống của Pháp đã là một nguyên nhân quan trọng đưa đến khủng hoảng và đáng lẽ phải được nhìn lại. Có lẽ vì nó không thực sự lớn. Trong dự án chính trị Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai (*) chúng tôi đã phân tích những khuyết tật của chế độ tổng thống : khuyến khích các khuynh hướng dân túy và mỵ dân, dễ đưa tới độc tài vì tập trung quá nhiều quyền lực vào một người, nguy cơ xung đột bế tắc giữa lập pháp và hành pháp (như trường hợp nước Mỹ hiện nay). Nhưng tác hại lớn nhất của chế độ tổng thống là vô hiệu hóa và làm suy sụp các chính đảng. Lý do là vì chế độ tổng thống khiến các thảo luận trong các chính đảng trở thành không quan trọng, thậm chí không cần thiết, khi quyền quyết định thuộc một tổng thống mà đảng không thể thay thế và do đó không cần tuân thủ các kết luận của đảng. Các cuộc thảo luận chính trị vì vậy xuống cấp và đàng nào cũng không còn được chuyên chở một cách đầy đủ tới quần chúng khi các chính đảng đã suy yếu. Nếu hiểu rằng thế giới từ nay thay đổi từng ngày và thảo luận chính trị trở thành nhu cầu thường trực của mọi quốc gia thì cũng phải hiểu rằng chế độ tổng thống không còn phù hợp.

Người ta cũng có thể nhận xét là đa số các chế độ khủng hoảng nhất hiện nay -dù là Mỹ, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Venezuela, Brasil, Philippines hay Syria và Algeria- là những chế độ tổng thống. Các chế độ đại nghị cũng gặp những khó khăn do tình trạng chung trên thế giới -là tư tưởng chính trị không thích ứng đủ nhanh với các thay đổi xã hội- nhưng ở một mức độ ít nghiêm trọng hơn nhiều.

Merci la France

Nước Pháp không chỉ đã lập một kỷ lục là vận động thành công một chuỗi những cuộc biểu tình lớn bằng mạng xã hội mà còn cống hiến cho thế giới một bài học chính trị lớn với ba điểm rất quan trọng :

Một là thảo luận trên các vấn đề triết lý chính trị là điều tối cần thiết để sau đó có thể thảo luận nghiêm chỉnh và đạt tới thỏa hiệp trên những chính sách cụ thể, tránh xung đột bế tắc.

Hai là thảo luận trên những vấn đề này phải đi theo một lộ trình phương pháp trong đó vai trò của các chính đảng là cốt lõi.

Sau cùng là chế độ tổng thống không còn phù hợp với bối cảnh thế giới hiện nay. Cho tới nay Mỹ vẫn được coi là ngoại lệ duy nhất mà chế độ tổng thống đã thành công nhờ tản quyền, nhưng ngoại lệ đó cũng đang chấm dứt. Chế độ đại nghị, trong đó đa số các đại biểu quốc hội được bầu theo thể thức đơn danh, dù không hoàn hảo, vẫn là thể chế chính trị tương đối lành mạnh nhất.

Nguyễn Gia Kiểng

(30/04/2019)

(*) Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai, dự án chính trị của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên

Published in QUAN ĐIỂM
jeudi, 25 avril 2019 16:20

Di sản Lê Đức Anh

LTS/TL : Nhân dịp ông Lê Đức Anh qua đời chúng tôi đăng lại bài sau đây để nhắc lại trách nhiệm của ông Lê Đức Anh đối với đất nước trong một khúc quanh lịch sử quan trọng.

Lê Đức Anh đã là nhân vật quyền lực nhất trong chế độ cộng sản Việt Nam trong giai đoạn Liên Bang Xô Viết suy yếu rồi sụp đổ và nhiều năm sau đó. Quyền lực của ông có thể còn hơn cả hai tổng bí thư đảng Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười cùng thời với ông. Sau khi chính thức về hưu năm 2001, Lê Đức Anh vẫn còn tiếp tục chi phối quyền lực trong hậu trường cho đến đại hội 11 của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 2011. Với ảnh hưởng đó Lê Đức Anh đã có thể chọn con đường dân chủ và đi vào lịch sử như một con người mở ra một giai đoạn vinh quang cho đất nước, nhưng ông đã chọn hàng phục Trung Quốc. Lê Đức Anh không gian nhưng thiển cận và đã đặt Đảng Cộng Sản lên trên đất nước. Ông sẽ được nhớ tới như một người đã góp phần quyết định đưa đất nước vào thảm kịch tụt hậu, mất chủ quyền, mất đất, mất đảo và mất biển.

Cũng cần lưu ý là chính Lê Đức Anh và Nguyễn Văn Linh đã giúp cho Trung Quốc có mặt tại Trường Sa từ năm 1988 sau khi đánh chiếm một số đảo của Việt Nam. Trung Quốc đã dựa vào sự kiện này để vẽ ra đường lưỡi bò và xấc xược tuyên bố chủ quyền trên gần như toàn bộ Biển Đông.

Nếu chính quyền cộng sản Việt Nam làm quốc táng cho Lê Đức Anh thì đó sẽ là một xúc phạm lớn đối nhân dân và lịch sử.

Thông Luận

*****************

Một nghi vấn về Trường Sa

Nguyễn Gia Kiểng, tháng 3/2013

So với những thiệt hại mà Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh đã gây ra cho đất nước việc Mạc Đăng Dung dâng đất cầu hòa hồi thế kỷ 16 chẳng thấm vào đâu.

lda33

Hai người có trách nhiệm lớn nhất trong chọn lựa phục tùng Trung Quốc, mà sự nhượng bộ tại Trường Sa là hệ quả, là Nguyễn Văn Linh (trái) và Lê Đức Anh (phải).

Tháng 3 này là tròn 25 năm ngày hải quân Trung Quốc đánh chiếm nhiều đảo đá ở Trường Sa làm 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam thiệt mạng. Đây là dịp để đặt ra một câu hỏi lớn và nghiêm trọng : Trung Quốc đã thực sự lấn chiếm Trường Sa hay đã có thỏa hiệp ?

Thỏa hiệp có thể chỉ là một thỏa hiệp ngầm không thành văn tự, mà có thể cũng không cần được nói ra một cách minh bạch để ai đó có thể ghi lại nguyên văn trong một báo cáo hay một hồi ký. Nó có thể là sự hiểu ngầm giữa hai bên sau nhiều trao đổi.

Đàng nào thì câu hỏi cũng rất nghiêm trọng. Nếu câu trả lời là Trung Quốc đã thực sự đánh chiếm Trường Sa thì có lý do gì để Việt Nam chủ trương "giữ nguyên trạng" trên Biển Đông như lời ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và hơn thế nữa còn trân trọng tình hữu nghị "4 tốt, 16 chữ vàng" ?

Còn nếu ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã thỏa thuận, dù là thỏa thuận ngầm, nhượng cho Trung Quốc một phần Trường Sa thì họ đã mang một tội vô cùng lớn. Không phải chỉ là tội phản trắc đối với các chiến sĩ hải quân đã hy sinh tính mạng. Cũng không phải chỉ là tội làm mất một số đảo đá mà còn là, và nhất là, tội đã làm mất quyền lợi vô cùng lớn của Việt Nam trên Biển Đông. Trước năm 1988 Trung Quốc không có mặt tại Trường Sa, chỉ sau khi đã lấy được một số đá của Việt Nam họ mới có lý cớ để vẽ ra cái lưỡi bò liếm gần hết Biển Đông. Tình trạng này đặt Việt Nam trong thế phải mãi mãi tranh chấp với Trung Quốc trên một vùng biển đáng lẽ ra đương nhiên là của mình.

Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma 1988 - VTV 15/03/2016

Trước mọi thảo luận chúng ta có thể khẳng định hai điểm.

Một là, đối với các chiến sĩ hải quân đã chiến đấu tại Trường Sa ngày 14/03/1988, nhất là đối với 64 người đã hy sinh, Trung Quốc đã lấn chiếm thực sự và họ đã chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Sự hy sinh của họ phải được ghi nhận trọn vẹn. Nhưng họ có thể không biết những tính toán của ban lãnh đạo cộng sản.

Hai là chắc chắn ít ra đã có sự chấp nhận, dù là miễn cưỡng, để Trung Quốc chiếm một số đá trong vùng của Việt Nam để có mặt tại Trường Sa. Bằng cớ là Trung Quốc đã đưa hải quân đến Trường Sa ngay từ đầu năm 1988 và trong hai tháng 1 và 2 đã chiếm nhiều đá trong khu vực thuộc Việt Nam nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn không có phản ứng nào. Nếu họ dừng lại ở đó thì đã không có vấn đề gì. Hải chiến chỉ đã xảy ra ngày 14/03/1988 khi Trung Quốc tấn công ba đảo đá mà hải quân Việt Nam đang trấn giữ: Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin.

Các diễn biến tại Trường Sa đã xảy ra như thế nào ? Theo những tài liệu của chính quyền Việt Nam thì từ đầu năm 1988 hải quân Trung Quốc đã đến vùng Trường Sa của Việt Nam. Ngày 31/01 họ chiếm đá Chữ Thập phía Bắc đảo Trường Sa Đông, ngày 18/02 chiếm đá Châu Viên, ngày 26/02 chiếm đá Ga Ven sâu trong khu vực Việt Nam ngay kế bên đảo Nam Yết, ngày 28 chiếm đá Tư Nghĩa (Hughes) kế cận và ở giữa hai đảo Sinh Tồn và Sinh Tồn Đông. Chính quyền Việt Nam hoàn toàn không có phản ứng nào dù những đá này đều là những đá mà Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền và thuộc hải phận Việt Nam tính từ các đảo mà Việt Nam đã có chủ quyền từ lâu. Sự im lặng này không thể có giải thích nào khác hơn là một sự chấp nhận, nếu không phải là một thỏa hiệp từ trước.

Đầu tháng 3, Trung Quốc lại tăng cường thêm lực lượng hải quân lên đến 12 tầu chiến. Ngày 14/03 hải quân Trung Quốc tiến đánh các đá Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin, bắn chìm ba tầu HQ-604, HQ-505 và HQ-605 đang trấn giữ. Lực lượng quá chênh lệch đã khiến hải quân Việt Nam không gây được một thiệt hại nào cho phía Trung Quốc. Điều lạ là dù đã đánh bại hoàn toàn lực lượng phòng vệ Việt Nam Trung Quốc chỉ chiếm đá Gạc Ma, được coi là có vị trí quan trọng nhất, mà không chiếm hai đá Len Đao và Cô-Lin. Ngày 23/03 họ chiếm thêm đá Xu Bi. Mãi đến ngày 31/03, vào lúc trận chiến đã chấm dứt hẳn từ hai tuần rồi, một lực lượng nhỏ của hải quân Việt Nam mới được điều động đến nơi nhưng cũng tránh đụng độ với tầu Trung Quốc.

Những sự kiện quá không bình thường trong biến cố này buộc người ta phải đặt câu hỏi phải chăng giữa lãnh đạo hai bên đã có thỏa hiệp.

Tại sao chính quyền cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn không có phản ứng nào, kể cả lên tiếng phản đối, trong suốt hai tháng đầu năm 1988 khi Trung Quốc tuần tự chiếm đóng đá này rồi đá khác trong khu vực của mình ? Cũng nên biết là chính quyền cũng như các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn im lặng trước cũng như sau biến cố này, chỉ có bộ ngoại giao ra một tuyên bố phản đối có lệ ngày 14/03. Rồi thôi.

Tại sao Trung Quốc mặc dù đã đánh bại hoàn toàn hải quân Việt Nam lại chỉ chiếm đá Gạc Ma chứ không chiếm hai đá Len Đao và Cô Lin ? Sau này bộ ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng họ lấy làm tiếc rằng đã có sự "hiểu lầm" để xẩy ra đụng độ chứ họ không có ý định đánh chiếm những đảo và đá mà Việt Nam có đóng quân (dầu vậy họ vẫn giữ Gạc Ma). Như vậy nếu "hiểu đúng" thì họ có thể chiếm các đá khác mà không xẩy ra đụng độ ? Người ta càng có thêm lý do để tin rằng đã có thỏa hiệp.

Câu hỏi lớn nhất là tại sao không quân Việt Nam đã không tham chiến dù chỉ cách Trường Sa một giờ bay và có thừa khả năng tiêu diệt nhanh chóng toàn bộ lực lượng hải quân Trung Quốc có mặt tại trận lúc đó mà không chịu một thiệt hại nào. Trường Sa nằm ngoài tầm hoạt động của không quân Trung Quốc, các tầu chiến Trung Quốc tại đó cũng quá sơ sài để có thể đương đầu với máy bay chiến đấu. Lý do chỉ có thể là vì không quân Việt Nam đã nhận được lệnh cấm tham chiến và lệnh này chỉ có thể đến từ ông Lê Đức Anh, lúc đó vừa là bộ trưởng quốc phòng vừa là cánh tay mặt của tổng bí thư Nguyễn Văn Linh nên lấn át cả ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch về mặt đối ngoại. Mặt khác Trung Quốc cũng phải tin là không quân Việt Nam sẽ không can thiệp mới dám hành động như thế.

Tất cả những sự kiện trên đây đã quá đủ để tin là giữa hai chính quyền đã có thỏa hiệp để Trung Quốc chiếm một phần Trường Sa, nhưng bối cảnh quan hệ Việt Trung vào lúc đó còn hỗ trợ hơn nữa giả thuyết này.

Cần nhớ lại là chiến thắng 30/04/1975 đã khiến Đảng Cộng Sản Việt Nam hân hoan đến mức gần như mất trí. Họ tin mình là thiên tài, chủ nghĩa Mác-Lênin bách chiến bách thắng, phong trào cộng sản do Liên Xô lãnh đạo sắp thành công đến nơi, chủ nghĩa tư bản đang giãy chết. Họ đặt điều kiện để cho phép Mỹ được bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Lúc đó họ đã đứng hẳn về phía Liên Xô trong cuộc xung đột giữa hai đàn anh, quan hệ của họ đối với chế độ cộng sản Trung Quốc đã chuyển sang thế kình địch. Trong Đại hội IV cuối năm 1976 của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc không gửi phái đoàn sang tham dự. Dầu vậy Đảng Cộng Sản Việt Nam bất chấp Trung Quốc. Đại hội IV đã là đại hội liên kết toàn diện và tuyệt đối với Liên Xô, thách thức cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Tháng 11/1978 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập khối COMECON và ký hiệp ước liên minh quân sự với Liên Xô ; tháng sau quân Việt Nam tràn qua Campuchia và đánh gục chế độ Khmer Đỏ thân Trung Cộng. Tháng 2/1979 Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc. Mặc dầu bị thiệt hại nặng, chế độ cộng sản Việt Nam huênh hoang là đã chiến thắng ; họ hoàn toàn tin tưởng vào hiệp ước liên minh quân sự với Liên Xô. Năm 1980 một hiến pháp mới của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành với lời nói đầu coi "bọn bá quyền Trung Quốc" là kẻ thù. Năm 1982 tại Đại hội đảng lần thứ 5, các phần tử bị coi là thân Trung Quốc bị thanh trừng, trong đó có cả Nguyễn Văn Linh. Bản điều lệ đảng cũng được sửa đổi để tuyên chiến với Trung Quốc.

Sự thức dậy đã rất kinh hoàng. Liên Xô sụp đổ thay vì toàn thắng. Tháng 4/1984 Trung Quốc tung đợt tấn công thứ 3 kéo dài hơn ba tháng vào Việt Nam, với cao điểm là trận Lão Sơn được Trung Quốc coi là một chiến thắng lịch sử của họ trong đó báo chí Trung Quốc cho biết là ba quân đoàn của họ đã đánh gục ba sư đoàn Việt Nam. Hà Nội cầu cứu Liên Xô để chỉ được trả lời rằng Liên Xô đã kiệt quệ và Việt Nam nên cố gắng để thương thuyết với Trung Quốc. Lúc đó Liên Xô đang sa lầy thê thảm tại Afghanistan, Brezhnev đã chết và Andropov đang cố gắng hòa giải với Trung Quốc. Trong cơn hoảng loạn tuyệt vọng đó, ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã âm thầm lấy quyết định đầu hàng, và đối sách với Trung Quốc đã thay đổi hẳn từ tháng 7/1984. Xấc xược nhường chỗ cho khúm núm, thách thức nhường chỗ cho van xin. Hà Nội khẩn khoản xin hòa và Trung Quốc đắc thắng làm cao.

Năm 1985 Nguyễn Văn Linh, người đã thất sủng vì thân Trung Quốc, được đưa trở lại bộ chính trị và làm thường trực ban bí thư, năm sau lên làm tổng bí thư. Trung Quốc chỉ chấp nhận nói chuyện với những cấp lãnh đạo Việt Nam do họ chọn. Trong cuốn Hồi Ức và Suy Nghĩ của ông Trần Quang Cơ, thứ trưởng ngoại giao đặc trách quan hệ Việt Trung, tiết lộ : "từ năm 1980 đến năm 1988 ta đã ngót hai mươi lần đề nghị đàm phán, Trung Quốc chỉ làm ngơ". Đúng ra là từ 1984, vì trước đó Việt Nam không sợ Trung Quốc. Còn 1988 ? Đó là năm Trung Quốc xâm chiếm Trường Sa.

Có mọi xác xuất Trường Sa đã là cái giá mà chế độ cộng sản Việt Nam phải trả để được bình thường hóa quan hệ đối với Trung Quốc. (Theo Trần Quang Cơ thì phải nói là để được lệ thuộc Trung Quốc mới đúng). Người ta có quyền và phải tin như thế vì chỉ hai tháng sau, ngày 25/05/1988, bộ chính trị họp và ra Nghị Quyết 13 khẳng định phải "phấn đấu bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, mọi vấn đề khác đều có thể giải quyết sau". Các nghị quyết chiến lược của bộ chính trị đều được chuẩn bị rất lâu trước khi công bố. Tháng 9, hiến pháp Việt Nam được tu chỉnh để bỏ đoạn coi Trung Quốc là kẻ thù. Thật là kỳ diệu, Trung Quốc không còn là kẻ thù sau khi đã đánh chiếm Trường Sa ! Cũng kể từ đó đàm phán giữa hai bên đã tăng vận tốc để nhanh chóng tiến đến tình hữu nghị "4 tốt, 16 chữ vàng".

Cho dù có những dữ kiện hội tụ đến đâu đi nữa thì cho đến khi các hồ sơ được mở ra và các nhân chứng có đủ mạnh dạn để nói hết những điều họ biết, đây cũng chỉ mới là một giả thuyết, dù là một giả thuyết gần như chắc chắn đúng, nhất các tiết lộ lẻ tẻ của những người trong cuộc ngày càng xác nhận chính ông Lê Đức Anh đã ra lệnh cho không quân không được can thiệp.

Điều hoàn toàn chắc chắn là đụng độ đã chỉ xẩy ra và bộ ngoại giao Việt Nam đã chỉ lên tiếng phản đối vì Trung Quốc đánh vào ba đá Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin ngày 14/03/1988. Nếu Trung Quốc chỉ chiếm những đá khác, như họ đã làm trong hai tháng trước đó, thì tất cả đã êm xuôi. Như thế thì phải kết luận rằng đàng nào ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã chấp nhận để Trung Quốc lấy một số đá của Việt Nam để hiện diện tại Trường Sa. Sự kiện này đặc biệt nghiêm trọng vì nếu không có sự hiện diện này thì Trung Quốc hoàn toàn vắng mặt tại nửa phía Nam của Biển Đông và không có lý cớ gì để tuyên bố Biển Đông là vùng "quyền lợi cốt lõi" của họ. Trận hải chiến chung quanh Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao không cần thiết cho Trung Quốc và có thể chỉ là một dàn dựng, do phía Việt Nam yêu cầu, có mục đích cho phép ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam biện luận trước nhân dân Việt Nam rằng Trung Quốc đã đánh chiếm Trường Sa chứ không phải họ đã dâng đảo. Một lần nữa không nên để cây che khuất rừng, điều nghiêm trọng nhất và vô cùng tai hại cho Việt Nam là Trung Quốc đã có mặt tại Trường Sa để có lý cớ đòi quyền lợi trên phần lớn Biển Đông, và điều này ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã chấp nhận. Họ phải chịu trách nhiệm.

Nước ta là một dải bờ biển. Biển là tài sản lớn nhất của chúng ta. Tài sản đó đang bị đe dọa vì chủ trương đầu hàng Trung Quốc của ban lãnh đạo đảng cộng sản. Không phải là không có chọn lựa nào khác. Một chọn lựa khác, hiển nhiên cho quyền lợi dân tộc, là thẳng thắn bắt tay với Hoa Kỳ, Châu Âu và các nước dân chủ để được các thị trường lớn, các nguồn đầu tư, các cơ hội chuyển giao kỹ thuật và đồng thời được bảo vệ bởi công pháp quốc tế để có thể có quan hệ hợp tác lành mạnh với Trung Quốc. Ban lãnh đạo cộng sản đã từ khước chọn lựa hiển nhiên đó bởi vì nó đòi hỏi phải từng bước dân chủ hóa, nghĩa là sau cùng từ bỏ độc quyền chính trị. Đối với họ giữ độc quyền chính trị là mục tiêu duy nhất, quyền lợi dân tộc nếu có cũng chỉ đi rất sau quyền lợi của Đảng. Trường Sa chỉ là một thí dụ.

Hai người có trách nhiệm lớn nhất trong chọn lựa phục tùng Trung Quốc, mà sự nhượng bộ tại Trường Sa là hệ quả, là Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh. Họ là hai người quyền lực nhất lúc đó và cũng là hai người quả quyết nhất trong chủ trương này. So với những thiệt hại mà họ gây ra cho đất nước, việc Mạc Đăng Dung dâng đất cầu hòa hồi thế kỷ 16 chẳng thấm vào đâu. Nhưng họ cũng đã chỉ hành động như mọi lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Trước họ, Hồ Chí Minh, qua Phạm Văn Đồng, đã ký công hàm nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc để được viện trợ trong cuốc nội chiến. Sau họ, Lê Khả Phiêu đã ký hiệp định nhường cho Trung Quốc hàng ngàn kilômet vuông trên đất liền và hàng chục ngàn kilômet vuông trên biển để được yên thân. Các lãnh tụ cộng sản đều được đào tạo và sàng lọc như nhau qua các thế hệ theo cùng một khuôn mẫu Stalin, một khuôn mẫu khủng bố trong đó quyền lực là tất cả và tổ quốc vắng mặt.

Từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đến Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng qua Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, họ có thể xung đột với nhau, thậm chí căm thù nhau nhưng họ đều giống nhau trên ít nhất hai điểm : họ đều đặt quyền lực của đảng lên trên hết và trước hết và đều chống dân chủ. Lợi ích dân tộc nếu có cũng chỉ là thứ yếu. Họ có thể làm những điều khó tưởng tượng để giữ lấy quyền lực. Họ đều tin rằng nhân dân Việt Nam thù ghét họ và sẽ bỏ phiếu sa thải họ nếu được chọn lựa tự do. Nguyễn Minh Triết đã chỉ phát biểu lập trường chung của ban lãnh đạo cộng sản khi ông ta nói "bỏ điều 4 là ta tự sát". Họ không thể liên kết với các nước dân chủ bởi vì như thế cái giá phải trả cuối đoạn đường là dân chủ. Não trạng đó buộc họ phải phục tùng Trung Quốc, không phải để có chỗ dựa mà chủ yếu là để được nhẹ tay trong thế cô lập tuyệt vọng. Dù trong thâm tâm không ai thực sự yêu Trung Quốc.

Phải hiểu não trạng này để ý thức rằng không thể hy vọng có dân chủ chỉ bằng những yêu cầu và kiến nghị. Người ta có thể ủng hộ Đảng Cộng Sản vì quyền lợi cá nhân nếu muốn nhưng không nên ngộ nhận bản chất của nó. Đảng Cộng Sản không phải là một đảng yêu nước.

Nguyễn Gia Kiểng

(tháng 03/2013)

Published in QUAN ĐIỂM

Donald Trump là người trong đó ông Hyde mạnh hơn bác sĩ Jekyll. Ông đã đánh thức và giải phóng nhân vật Hyde nơi nhiều người. Những người cuồng Trump khó có thể thay đổi vì trong họ, nhân vật Hyde đã khuất phục bác sĩ Jekyll. Họ giận dữ khi có người phê phán Trump bởi vì Trump đang thể hiện một phần bản chất của chính họ và họ thấy như chính mình bị xúc phạm.

cuong1

Hiện tượng cuồng Trump là có thực

Hiện tượng cuồng Trump có thực và chính tôi có thể làm chứng.

Tôi có viết một vài bài phê phán Trump trong đó tôi chỉ bình luận dựa trên những sự kiện có thực. Ngay sau đó một số người từ trước vẫn là bạn của tôi, có người còn thường xuyên bày tỏ cảm tình, phản ứng một cách dữ dội.

Một cô viết : "Thằng già lẩm cẩm, mày chết đi cho rồi !". Vài người khác chửi tôi là "đồ chó !", hay "càng già càng ngu!", hay "bài viết hoang tưởng, chẳng ra đâu vào đâu", hay "Fake News !" v.v. Nhiều lắm.

Những "bình luận" khác tuy không đến nỗi hung bạo như vậy nhưng cũng không kém quả quyết : "Nguyễn Gia Kiểng vì tuổi già nên đã mất sáng suốt", hoặc : "Tôi đã từng đồng ý với anh trên nhiều điểm trước đây nhưng bây giờ thì phải nói anh sai hoàn toàn, anh đừng viết gì nữa thì hơn". Phản ứng thân thiện nhất là "với lòng ưu ái tôi khuyên bác nên dừng lại ở cuốn Tổ Quốc Ăn Năn, bác đã mất sáng suốt rồi".

Lời lẽ khi không dữ tợn cũng vẫn nhắm đánh cho thật đau. Cũng có những người biện luận rất dài và rất nhiều nhưng với những sự kiện hoàn toàn không có thực trong mục đích phá đám. Tôi đã bất đắc dĩ phải chặn một số người để tránh làm phiền lòng những người muốn thảo luận nghiêm chỉnh.

Tại sao vì một khác biệt quan điểm về một chính khách Mỹ lại có thể khiến người Việt Nam căm thù nhau đến thế ? Tại sao vì một khác biệt quan điểm người ta có thể quên văn hóa truyền thống Việt Nam để lấy tuổi già làm một lý do thóa mạ ? Phải mê cuồng mới ứng xử như vậy.

Hơn nữa điều đáng ngạc nhiên và đáng sợ là 2/3 người Việt Nam trong cũng như ngoài nước ủng hộ Trump (theo một thăm dò cách đây vài tháng, bây giờ có thể đã thay đổi chút đỉnh) trong khi tất cả mọi dân tộc trên thế giới được thăm dò đều chống Trump trong tuyệt đại đa số. Ngay tại chính nước Mỹ đa số cũng không tán thành Trump. Có một cái gì đó rất không bình thường cần phải được quan tâm và tìm hiểu.

Không thể thảo luận

Điều hiển nhiên mà tôi nhận thấy là tất cả những người công kích tôi đều không đọc, hoặc chỉ đọc rất qua loa, những gì tôi viết về Trump. Đa số chỉ mượn cớ bình luận để hùng hổ cãi cọ và mạt sát. Thảo luận với họ vô ích vì họ nhất định giữ quan điểm. Những người lý luận nhiều nhất cũng chỉ vận dụng mọi lý cớ để bênh vực một lập trường đã có sẵn. Khi một lập luận bị chứng minh là sai vì dựa trên một sự kiện không có hoặc không đúng thì họ đi tìm một lập luận khác chứ không thay đổi ý kiến.

Thí dụ như khi Trump mới đắc cử, họ nói là Trump có chính sách kinh tế hiệu lực bằng cớ là đã khiến chỉ số chứng khoán Dow Jones tăng vọt, nhưng sau đó, trong năm 2018 khi chỉ số này tụt xuống thì họ vẫn ủng hộ Trump như trước. Khi Trump phản bội, bỏ rơi đồng minh Kurk (Lực Lượng Dân Chủ Syria) thì họ biện luận là Trump muốn chuyển quân qua Biển Đông để đánh Trung Quốc mặc dù chính Trump và bộ tham mưu của ông không bao giờ nói như vậy. Họ còn nói đó là một cao kiến mà mọi người đều thán phục trong khi thực tế là mọi người, kể cả bộ trưởng quốc phòng James Mattis, đều phản đối và lên án. Họ ca tụng Trump đã khiến Kim Jong-un khiếp sợ dù Trump không ngừng nói là ông ta nể phục và yêu Kim. Họ tôn vinh Trump chống Trung Quốc quyết liệt – và vì thế sẽ đánh sập chế độ cộng sản Việt Nam - dù Trump không ngừng nói là ông ta yêu Trung Quốc và kính trọng Tập Cận Bình, ông ta chỉ muốn một thỏa ước thương mại công bình hơn. Và khi Trump ca tụng chế độ cộng sản Việt Nam thì họ nói rằng đó là ngôn ngữ ngoại giao.

Như vậy thay vì thảo luận với họ, cần cố gắng tìm hiểu lý do thực sự đã khiến họ gắn bó với Trump.

Con người Donald Trump

Trước hết Donald Trump là con người như thế nào ?

cuong2

Dr Trump và Mr Trump

Điều rõ rệt nhất trong suốt cuộc đời ông, từ lúc sinh ra trong một gia đình tỷ phú đến khi lớn lên kinh doanh bất động sản và các sòng bài rồi trở thành tổng thống Mỹ, Trump chưa bao giờ bày tỏ bất cứ một ưu tư nào cho sự trang nhã và các giá trị đạo đức, dân chủ, nhân quyền. Trái lại ông ta ăn nói và đối xử tàn nhẫn đối với những người nghèo khổ và những người di dân muốn tới Mỹ để tìm cuộc sống mới. Ông ta gọi các nước nghèo ở Nam Mỹ và Châu Phi là những hố phân, gọi những người di dân là bọn buôn lậu, trộm cướp, hiếp dâm, coi họ là những đe dọa cho an ninh Mỹ, nhưng lại ủng hộ việc buôn bán súng, mối nguy cụ thể hàng ngày của nước Mỹ. Đây không phải là cách ăn nói bạt mạng mà là cách ăn nói phải bị lên án một cách tuyệt đối và dứt khoát vì vừa là một xúc phạm lớn đối với loài người vừa phơi bày một tâm hồn cực kỳ xấu xa. Ông ta phỉ báng các nước dân chủ và ca tụng những tên độc tài sát nhân như Putin, Tập Cận Bình, Kim Jong-un.

Những con người như Donald Trump cũng có quyền được sống theo ý muốn trong xã hội bởi vì không thể đòi hỏi thế giới phải hoàn hảo nhưng chắc chắn phải bị loại bỏ trong sinh hoạt chính trị. Đây là lý do chính và đủ để không thể chấp nhận một cấp lãnh đạo chính trị như Trump. Tất cả các lý do khác đều là phụ.

Tại sao ?

Đó là vì chính trị là một cố gắng thể hiện, qua pháp luật, lẽ phải và các giá trị đạo đức trong xã hội. Để khiến đất nước phồn vinh, con người ngày càng được quý trọng hơn, dân tộc ngày càng hòa hợp hơn, thế giới ngày càng hòa bình và ổn vững hơn, các dân tộc ngày càng thân thiện hơn, môi trường ngày càng sạch đẹp hơn. Trump không quan niệm chính trị như thế.

Đó là vì những đức tính bắt buộc phải có nơi một cấp lãnh đạo chính trị là sự hiểu biết về quốc gia và thế giới, về cơ cấu bộ máy nhà nước và các định chế quốc tế, là sự dũng cảm, lòng thương yêu, sự lương thiện và nhất là lý tưởng phục vụ con người và xã hội. Những đức tính này Trump hoàn toàn không có.

Trong những yếu tố phụ có thể kể Trump thiếu hẳn giáo dục và đào tạo về chính trị. Chính trị mở cửa cho mọi người vì đó là việc chung (politics), nhưng điều này không có nghĩa là ai cũng có khả năng chính trị. Việc mọi người đều có quyền làm chính trị, như bầu cử và ứng cử, không có lý do kỹ thuật. Nó có lý do triết học. Đó là niềm tin, hay đúng hơn quy ước, rằng con người là giá trị cao nhất. Nhưng quyền không đồng nghĩa với khả năng, và Trump là người không có khả năng vì không có giáo dục và đào tạo chính trị. Ông đã chia rẽ các nước dân chủ như chưa bao giờ thấy. Ông chia rẽ và làm suy yếu nước Mỹ đến nỗi không giúp giải quyết nổi một vấn đề đáng lẽ phải có giải pháp dễ dàng như việc chấm dứt chế độ Maduro tại Venezuela.

Tệ hơn nữa Trump không chỉ thiếu kiến thức chính trị mà còn không thể cải tiến. Chính bác sĩ Dunning, một trong hai người khám phá ra hội chứng Dunning – Kruger đã xác nhận Trump mắc hội chứng này. Đó là một bệnh tâm thần khiến bệnh nhân mất khả năng nhìn thấy những yếu kém và thiếu sót của mình để cải tiến. Đúng là trường hợp của Trump. Ông ta nói một cách rất tự nhiên rằng mình giỏi về quân sự hơn các tướng lĩnh, giỏi về kinh tế hơn các kinh tế gia, nhất là nói mình là tổng thống lỗi lạc nhất trong lịch sử nước Mỹ. Mới đây luật sư George Conway, chồng của Kellyanne Conway cố vấn của Trump, cũng lên tiếng tố giác Trump là mắc bệnh tâm thần narcissism, bệnh tự sùng bái mình.

Trump là Mr Hyde trong mỗi người

Vậy tại sao vẫn có nhiều người cuồng nhiệt ủng hộ Trump ? Đây là câu hỏi quan trọng nhất và đáng quan tâm nhất.

cuong3

Cuốn tiểu thuyết nổi tiếng The strange case of Dr Jekyll and Mr Hyde của Robert Louis Stevenson

Cách đây gần một thế kỷ rưỡi, vào năm 1886, đã xuất hiện cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Trường hợp lạ lùng của bác sĩ Jekyll và ông Hyde (The strange case of Dr Jekyll and Mr Hyde) của Robert Louis Stevenson. Cuốn sách đã rất thành công và được nhiều lần lên phim vì nói lên một bản chất của con người. Đó là trong hầu hết mọi con người, nếu chưa hẳn là tất cả, đều có hai nhân vật trái ngược nhau do mâu thuẫn giữa xấu và tốt, thiện và ác, đúng và sai. Tất cả vấn đề chỉ là nhân vật nào mạnh hơn và thể hiện thường hơn. Bác sĩ Jekyll là một người tốt và hiền, tận tụy chăm sóc và giúp đỡ mọi người nhưng ban đêm, khi không còn bị ánh mắt của người chung quanh kiểm soát, ông biến thành Hyde, một con người của bản năng, gian ác và hung bạo. Đó là hai mặt của cùng một con người.

Donald Trump là người trong đó ông Hyde mạnh hơn bác sĩ Jekyll. Ông đã đánh thức và giải phóng nhân vật Hyde nơi nhiều người. Những người cuồng Trump khó có thể thay đổi vì trong họ nhân vật Hyde, nhờ Trump, đã khuất phục bác sĩ Jekyll. Họ giận dữ khi có người phê phán Trump bởi vì Trump đang thể hiện một phần bản chất của chính họ và họ thấy như chính mình bị xúc phạm. Không thể thuyết phục họ bởi vì ta lý luận để chứng tỏ rằng Trump sai và xấu nhưng đó chính là lý do khiến họ thích Trump, dù đôi khi họ biện luận loanh quanh. Ta tưởng mình nói chuyện với bác sĩ Jekyll trong khi trước mắt chúng ta là ông Hyde.

Cái tốt cũng như cái xấu đều có dấu ấn của thời đại. Nhân vật Hyde của Donald Trump trong thế kỷ 21 cũng có những nét đậm riêng so với nhân vật Hyde của bác sĩ Jekyll trong thế kỷ 19. Chúng ta có thể nhận diện hai nét chính.

Một là tâm lý chống tiến hóa. Không gì nghịch lý bằng việc tuyệt đại đa số tín đồ của hệ phái Tin Lành Phúc Âm (Evangelical) khá đông đảo tại Mỹ ủng hộ Trump (70% theo một thăm dò gần đây). Những gì Trump nói và làm hoàn toàn trái ngược với phúc âm của Giê Su Kitô, dù là Bài Giảng Trên Núi hay kinh Lạy Cha. Lý do là vì những người của hệ phái này phẫn nộ trước đà tiến hóa đang khiến con người xa dần với các tôn giáo kể cả tôn giáo của họ. Con người hôm nay ngày càng chỉ nhìn các tôn giáo như những cỗ xe chuyên chở các tư tưởng, ngày càng ít tin vào các phép lạ và những ân sủng do lời cầu nguyện. Hệ phái Phúc Âm, cũng như một số đông đảo những người Công Giáo da trắng, cảm thấy tôn giáo của họ đang bị đe dọa. Cũng tương tự như những người da trắng cảm thấy địa vị ưu đãi của họ đang bị đà tiến hóa của nhân quyền phủ nhận, hay các công nhân trong một số ngành sản xuất truyền thống cảm thấy bị tụt hậu do những tiến bộ về truyền thông, tự động, robot và trí khôn nhân tạo. Họ muốn quay lại quá khứ dù thực ra cuộc sống hiện nay của họ khá hơn trước nhiều.

Cũng không khác một số người Việt muốn quay lại với chế độ Việt Nam Cộng Hòa dù nó đã vĩnh viễn thuộc vào quá khứ và Việt Nam chắc chắn sẽ có một tương lai tươi đẹp hơn nhiều với dân chủ đa nguyên trên cả nước. Những người chống tiến hóa này ủng hộ Donald Trump vì ông ta cũng muốn đảo ngược thời gian và quay về với quá khứ như họ. Ông ta chống phong trào toàn cầu hóa, chủ trương trở lại chính sách cô lập của Monroe cách đây hai thế kỷ, phục hồi kỹ nghệ than, v.v. Họ nhìn thấy ở Trump tâm lý phản tiến hóa mà cho tới nay họ không dám mạnh dạn nói ra.

Hai là bản năng vị kỷ và gian ác. Điều cũng nghịch lý không kém là những người da trắng tương đối thoải mái lại ganh ghét những người di dân nghèo khổ mới tới thay vì tranh đua với những người thành đạt để vươn lên. Vô lý hơn nữa là nhiều người Việt Nam vừa mới nhập cư vào nước Mỹ cách đây không lâu lại ủng hộ một cách cuồng nhiệt một ông tổng thống ghét người di dân. Đó là sự thể hiện của nhân vật Hyde cổ điển trong mỗi con người. Đó là cái bản năng nhỏ mọn, vị kỷ, độc ác, đội trên đạp dưới mà mỗi người chúng ta phải phấn đấu để kềm chế nếu chưa tiêu diệt hẳn được. Chính vì thế mà thảo luận với những người cuồng Trump rất khó. Người ta chỉ có thể giúp họ vượt thoát bằng gương mẫu.

Di sản Donald Trump và người Việt

Trái với sự lo âu (hay hy vọng ?) của nhiều người tôi tin rằng Trump sẽ thất cử năm 2020 nếu không bị bãi nhiệm trước đó.

Trump là một ngoặc đơn đang khép lại trong lịch sử nước Mỹ. Cũng trái với nhiều người thiện chí, tôi tin là Donald Trump đỡ tệ hơn Hillary Clinton. Hillary Clinton nếu đắc cử chỉ kéo dài thêm một tình trạng xuống cấp của tư tưởng và văn hóa chính trị đã rõ rệt từ khi chồng bà đắc cử tổng thống với sự đồng lõa của bà. Trump ít nhất, một mặt, báo động với nước Mỹ và thế giới rằng chế độ tổng thống là vùng đất mầu mỡ cho chủ nghĩa dân túy và, mặt khác, phải khởi động lại cuộc thảo luận về tư tưởng chính trị trong cả chiều sâu lẫn bề mặt, bổ sung và tăng cường các giá trị nền tảng.

Lý do khiến tôi tin Trump không có tương lại rất giản dị : cái xấu và cái tồi chỉ có sức thu hút khi vừa mới xuất hiện. Khi chúng trở thành quen thuộc cũng là lúc chúng phơi bày bản chất nhảm nhí và trở thành đáng ghét. Tôi vừa nói là hiện có 70% tín đồ hệ phái Phúc Âm ủng hộ Trump. Con số này trước đây một năm là trên 80%.

Còn đối với Việt Nam ?

Tôi nghĩ tất cả những ai quan tâm tới tương lai đất nước đều phải rất cánh giác. Dù biết trước nhiều đặc tính của dân tộc ta, tôi đã rất bàng hoàng khi thấy 2/3 người Việt Nam ủng hộ Donald Trump. Trong số những dân tộc được thăm dò, chúng ta là dân tộc duy nhất ủng hộ Trump và, không những thế, ủng hộ một cách điên cuồng với một đa số áp đảo. Tại Châu Âu và Châu Á, tỷ lệ những người chống và ghét Trump là trên 70%, tại Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh trên 80%.

Vậy chúng ta là một dân tộc như thế nào ?

Phải nói cái ác và cái xấu thể hiện một cách lộ liễu trong ngôn ngữ Việt Nam. Chúng ta mạt sát những người đáng lẽ phải được thương hại và giúp đỡ, những người "khốn nạn", "ăn mày ăn nhặt", "bần tiện", "chết đường chết chợ", v.v. Nhưng ủng hộ Trump với tỷ lệ 2/3 thì quả là khó tưởng tượng. Không lẽ cả thế giới lầm chỉ có chúng ta là đúng ? Phải nói thẳng chúng ta là một dân tộc bị chấn thương tâm thần rất nặng. Đó có lẽ chính là lý do khiến chúng ta vẫn chưa rũ bỏ được một chế độ đã chứng tỏ sự tồi dở một cách quá rõ ràng trên mọi mặt.

Ở một góc độ nào đó Donald Trump đã giúp chúng ta hiểu rằng phải nâng tâm hồn lên để xứng đáng với một tương lai khác.

Nguyễn Gia Kiểng

(22/03/2019)

Published in QUAN ĐIỂM

Donald Trump và Kim Jong-un đang gặp nhau tại Hà Nội để thương thuyết giải trừ vũ khí nguyên tử trên bán đảo Cao Ly. Tác dụng tức khắc của cuộc gặp gỡ này là khiến chính quyền cộng sản Việt Nam hãnh diện. Nó cũng được một số người Việt Nam tự coi là dân chủ nhìn như một cơ hội và một hy vọng.

ngk1

Donald Trump được Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc long trọng tiếp đón tại Hà Nội. Ảnh minh họa

Hình ảnh của chính quyền cộng sản Việt Nam chắc chắn là khá hơn trong lúc này bởi vì bất cứ một nước chủ nhà nào cũng gây được thiện cảm khi tiếp đãi một hội nghị có mục tiêu giảm bớt căng thẳng và tăng cường hòa bình. Ngành du lịch Việt Nam sẽ chỉ có thể có lợi và quan hệ thương mại với Mỹ sẽ không gặp khó khăn ít nhất trong một thời gian. Hơn nữa chính quyền cộng sản Việt Nam còn được tổng thống Mỹ ca tụng như một mẫu mực thành công hiếm có, sau khi được phát ngôn viên bộ ngoại giao Mỹ đánh giá như là như là một bạn thân, close friend.

Tuy nhiên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam sẽ rất sai lầm nếu quá hân hoan. Thiện cảm ban đầu có thể nhanh chóng qua đi nhường chỗ cho một cái nhìn chán ghét, thậm chí một sự lên án nghiêm khắc.

ngk2

Donald Trump và Kim Jong-un giả náo động Hà Nội trước khi Donald Trump và Kim Jong-un thật xuất hiện - Ảnh minh họa

Việt Nam có vinh dự gì khi tiếp đón long trọng Trump và Kim ? Kim Jong-un đang là nguyên thủ quốc gia đáng ghét nhất và cũng bị ghét nhất thế giới. Một người hung bạo đã hành quyết chú mình, đồng thời cũng là thầy và cố vấn của mình, bằng đại bác, đã ám sát anh ruột mình bằng hơi độc tại phi trường Kuala Lumpur, đã giết vô số người khác và đã đẩy dân tộc mình xuống đáy vực đói khổ. Một người vô văn hóa vớ